Metformin + Rosiglitazone

Thông tin chung của thuốc kết hợp Metformin + Rosiglitazone

Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc kết hợp Metformin + Rosiglitazone (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Metformin + Rosiglitazone

Phân loại: Thuốc điều trị tiểu đường. Dạng kết hợp

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A10BD03.

Biệt dược gốc:

Thuốc Generic: Avandamet, Avahasan, Doromet, Rosfase-M, Metformin Plus SaVi, SaVi Metformin Plus.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim:

Mỗi viên có chứa từ 1mg đến 4mg Rosiglitazone và 500mg Metformin.

Các thông tin thuốc Metformin + Rosiglitazone chỉ mang tính chất tham khảo do hiện các thuốc có chứa thành phần Rosiglitazone đang bị tạm dừng lưu hành do một số nguyên nhân như sau:

Cơ quan Y tế Châu Âu (EMEA) khuyến cáo tạm dừng giấy phép lưu hành thuốc điều trị đái tháo đường có chứa Rosiglitazone (Avandia, Avandimet và Avaglim) và Cơ quan quản lý dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã đưa ra khuyến cáo hạn chế triệt để việc sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường Avandia (Rosiglitazone) cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2 mà không kiểm soát được đường huyết bằng các thuốc điều trị đái tháo đường khác do nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Thuốc tham khảo:

AVAHASAN 2/500
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Metformin …………………………. 500 mg
Rosiglitazone …………………………. 1 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Avahasan (Metformin + Rosiglitazone)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Metformin + Rosiglitazone được chỉ định như là một thuốc hỗ trợ cho chế độ ăn và tập thể dục để cải thiện đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường type 2 mà đang điều trị kết hợp rosiglitazone với metformin hay những bệnh nhân dùng đơn trị liệu bằng metfomin không hiệu quả.

Quản lý tiểu đường type 2 nên bao gồm cả quản lý chế độ ăn. Giới hạn calori, giảm cân và tập thể dục là cốt yếu khi điều trị bệnh nhân tiểu đường vì nó giúp cải thiện khả năng nhạy cảm với insulin. Điều này không chỉ quan trọng khi bắt đầu điều trị tiểu đường type 2 mà còn quan trọng đối với việc duy trì hiệu quả của thuốc trong suốt thời gian điều trị. Ở bệnh nhân tiểu đường type 2 trước khi bắt đầu hay tăng liều thuốc điều trị tiểu đường dạng uống nên kiểm tra và điều trị những nguyên nhân thứ phát như nhiễm khuẩn khiến cho kiểm soát đường huyết kém hiệu quả.

Chưa xác định được số liệu về an toàn và hiệu quả của việc dùng Metformin + Rosiglitazone như một điều trị khởi đầu sau khi đã áp dụng việc giới hạn calori, giảm cân và tập thể dục ở bệnh nhân tiểu đường type 2.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường uống.

Liều dùng:

Nên chọn liều dùng dựa trên liều rosiglitazon và/hoặc metformin mà bệnh nhân đang sử dụng.

Số liệu về an toàn và hiệu quả của việc dùng chế phẩm kết hợp trên như là một điều trị khởi đầu chưa được xác định ở những bệnh nhân tiểu đường type II.

Liều đề nghị dưới đây của chế phẩm kết hợp được dựa trên kinh nghiệm điều trị lâm sàng khi dùng kết hợp rosiglitazon với metformin ở những bệnh nhân dùng đơn trị liệu bằng rosiglitazon hay metformin mà không có hiệu quả.

Liều dùng chế phẩm kết hợp này cho mỗi bệnh nhân tiểu đường nên được cụ thể cho  từng bệnh nhân dựa trên tính hiệu quả và khả năng dung nạp và không được vượt quá liều đề nghị tối đa mỗi ngày là 8 mg/2.000 mg tương ứng (tức uống không quá 4 viên).

Chế phẩm kết hợp này nên uống 1 viên/lần và chia thành nhiều lần trong ngày, uống vào bữa ăn và nên tăng liều dần dần, nếu cần. Cách sử dụng này làm giảm tác dụng phụ trên đường tiêu hóa (chủ yếu do metformin) và cho phép xác định được liều tối thiểu có hiệu quả đối với từng bệnh nhân.

Cần có đủ thời gian để đánh giá đáp ứng thích hợp trên lâm sàng sau khi điều trị khởi đầu bằng chế phẩm kết hợp này hay sau khi tăng liều. Nên tiến hành xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói (FPG) để xác định đáp ứng điều trị của chế phẩm.

Sau khi tăng liều metformin, việc xác định lại liều là cần thiết nếu sau 1 đến 2 tuần điều trị không có kết quả.

Sau khi tăng liều rosiglitazon, việc xác định lại liều là cần thiết nếu sau 8 đến 12 tuần điều trị không có kết quả.

Đối với những bệnh nhân dùng đơn trị liệu bằng metformin không hiệu quả: liều khởi đầu thông thường của chế phẩm kết hợp này là 4 mg rosiglitazon (tổng liều mỗi ngày, tức 2 viên) cộng với liều metformin đang dùng (xem bảng 1).

Đối với những bệnh nhân dùng đơn trị liệu bằng rosiglitazon không hiệu quả: liều khởi đầu thông thường của chế phẩm kết hợp này là 1.000 mg metformin (tổng liều mỗi ngày, tức 2 viên) cộng với liều rosiglitazon đang dùng (xem bảng 1):

Bảng 1: Liều khởi đầu của chế phẩm kết hợp
Điều trị trước đó Liều khởi đầu thông thường của chế phẩm kết hợp
Tổng liều/ngày Hàm lượng Liều lượng
Metformin HCl(*)
1.000 mg/ngày 2 mg/500 mg 1 viên, 2 lần/ ngày
2.000 mg/ngày 2 viên, 2 lần/ ngày
Rosiglitazon
4 mg/ngày 2 mg/500 mg 1 viên, 2 lần / ngày
8 mg/ngày 2 viên,2 lần/  ngày
(*) Đối với những bệnh nhân đang dùng metformin với liều từ 1.000 đến 2.000 mg/ngày, liều khởi đầu của chế phẩm kết hợp nên được cụ thể hóa cho mỗi bệnh nhân.

Khi chuyển từ điều trị kết hợp rosiglitazon và metformin dưới dạng viên riêng lẻ:

Liều khởi đầu của chế phẩm kết hợp này là liều của rosiglitazon và metformin đang sử dụng. Nếu cần thiết, kiểm tra đường huyết bổ sung: liều hàng ngày của chế phẩm kết hợp có thể tăng lên 4 mg rosiglitazon (2 viên) và/hoặc 500 mg metformin đến tổng liều đề nghị tối đa mỗi ngày là 8 mg/2.000 mg (tức 4 viên).

Chưa có nghiên cứu cụ thể nào được tiến hành để xác định sự an toàn và hiệu quả của chế phẩm kết hợp ở những bệnh nhân đã điều trị trước đó bằng các thuốc hạ đường huyết dạng uống sau đó chuyển sang dùng chế phẩm kết hợp này. Bất cứ thay đổi nào trong điều trị bệnh tiểu đường type II cũng nên được tiến hành một cách thận trọng và có theo dõi thích hợp do có thể xảy ra những biến đổi trong kiểm soát đường huyết.

Nhóm bệnh nhân đặc biệt:

Không được dùng chế phẩm kết hợp này cho phụ nữ đang mang thai hay cho trẻ em.

Nên cân nhắc liều khởi đầu và duy trì của chế phẩm kết hợp ở những bệnh nhân cao tuổi do nguy cơ giảm chức năng thận. Nên đánh giá cẩn thận chức năng thận trước bất kỳ thay đổi liều nào. Nhìn chung những bệnh nhân cao tuổi, yếu và suy dinh dưỡng không nên dùng đến liều tối đa của chế phẩm kết hợp. Kiểm tra chức năng thận là cần thiết để đề phòng nhiễm acid lactic do metformin, nhất là bệnh nhân cao tuổi.

Không nên dùng chế phẩm kết hợp này khi bệnh nhân có bằng chứng lâm sàng của bệnh gan hay khi tăng men transaminase trong huyết tương (ALT > 2,5 × giới hạn trên của mức bình thường khi bắt đầu điều trị).

Lão khoa:

Metformin được đào thải chủ yếu qua thận và vì ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận nguy cơ gặp phải phản ứng phụ nặng cao hơn nên chỉ sử dụng chế phẩm kết hợp này ở những bệnh nhân chức năng thận bình thường. Do chức năng thận suy giảm dần theo tuổi tác nên việc dùng chế phẩm kết hợp này càng cần phải thận trọng hơn ở bệnh nhân cao tuổi. Việc lựa chọn liều dùng phải được cân nhắc và dựa trên sự theo dõi kỹ lưỡng chức năng thận thường xuyên. Nhìn chung người cao tuổi không nên dùng liều tối đa của chế phẩm kết hợp.

4.3. Chống chỉ định:

Metformin hydroclorid

Người bệnh có trạng thái có dị hoá cấp tính, nhiễm khuẩn, chấn thương (phải được điều trị đái tháo đường bằng insulin)

Giảm chức năng thận đối với bệnh thận, hoặc rối loạn chức năng thận (creatinin huyết thanh ≥ 1,5 mg/decilít ở nam giới hoặc ≥ 1,4 mg/decilít ở phụ nữ), hoặc có thể do những tình trạng bệnh lý như truỵ tim mạch, nhồi máu cơ tim cấp tính và nhiễm khuẩn huyết gây nên.

Quá mẫn với metformin hoặc các thành phần khác.

Nhiễm acid chuyển hoá cấp tính hoặc mạn tính, có hoặc không có hôn mê (kể cả nhiễm acid-ceton do đái tháo đường).

Bệnh gan nặng, bệnh tim mạch nặng, bệnh hô hấp nặng với giảm oxygen huyết.

Suy tim sung huyết, trụy tim mạch, nhồi máu cơ tim cấp tính.

Bệnh phổi thiếu oxygen mạn tính.

Nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn huyết.

Những trường hợp mất bù chuyển hoá cấp tính, ví dụ những trường hợp nhiễm khuẩn hoặc hoại thư.

Người mang thai (phải điều trị bằng insulin, không dùng metformin)

Phải ngừng tạm thời metformin cho người bệnh chiếu chụp X-quang có trường hợp tiêm chất cản quang có iod vì sử dụng những chất này có thể ảnh hưởng cấp tính chức năng thận.

Hoại thư, nghiện rượu, thiếu dinh dưỡng.

Rosiglitazon maleat

Không dùng rosiglitazon cho người bệnh đái tháo đường typ I, những người bị hôn mê nhiễm acid-ceton, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu do đái tháo đường.

Người có bệnh lý hủy hoại tế bào gan hoặc u gan.

Người mang thai, người đang cho con bú.

Trẻ em dưới 18 tuổi.

Người suy tim độ 3 hoặc độ 4.

Người có tiền sử mẫn cảm với thuốc.

Những trường hợp này, phải chuyển sang dùng insulin và phải đến thầy thuốc khám và xét nghiệm để quyết định dùng liều thích hợp.

Chống chỉ định dùng phối hợp với insulin (nguy cơ gây suy tim)

4.4 Thận trọng:

Tổng quát: Do cơ chế tác dụng của thuốc, rosiglitazon chỉ có hiệu quả khi có sự hiện diện của insulin, nên không sử dụng chế phẩm kết hợp này cho bệnh nhân tiểu đường type I.

Sự rụng trứng:

Điều trị bằng rosiglitazon cũng như các thiazolidinedion có thể gây phóng noãn ở một vài phụ nữ tiền mãn kinh không phóng noãn. Kết quả điều trị với chế phẩm kết hợp này là sự nhạy cảm với insulin được cải thiện nhưng những bệnh nhân này có thể có nguy cơ có thai khi dùng chế phẩm kết hợp. Do đó, nên sử dụng các biện pháp tránh thai thích hợp đối với phụ nữ tiền mãn kinh. Chưa có nghiên cứu lâm sàng điều tra cụ thể tác dụng này nên chưa biết rõ tần xuất của tác dụng này.

Mặc dù đã thấy mất cân bằng về hormon trong những nghiên cứu Tiền lâm sàng chưa thấy ý nghĩa lâm sàng đáng kể của phát hiện này. Nếu xuất hiện rối loạn kinh nguyệt nên xem xét lại lợi ích của việc điều trị liên tục bằng chế phẩm kết hợp.

Suy tim/phù nề:

Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, thiazolidinedion bao gồm cả rosiglitazon gây tăng thể tích máu và phì đại tim do tăng gánh tiền tâm thu. Trong hai nghiên cứu điện tâm đồ liên tục ở những bệnh nhân tiểu đường type II (nghiên cứu 52 tuần khi dùng rosiglitazon maleat 4 mg × 2 lần/ngày ở 86 bệnh nhân và nghiên cứu 26 tuần khi dùng 8 mg rosiglitazon maleat một lần/ngày ở 90 bệnh nhân) không thấy bất lợi nào về cấu trúc cũng như chức năng tim. Những nghiên cứu này được tiến hành để xác định xem có thay đổi khối lượng tâm thất trái từ 10% trở lên hay không. Bệnh nhân suy tim nặng (suy tim độ III, độ IV và suy tim cấp theo Hiệp hội tim NYHA) không tham gia nghiên cứu này. Do đó không nên dùng chế phẩm kết hợp này cho những bệnh nhân này trừ khi lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ tiềm tàng.

Các Thiazolidinedion có thể gây giữ nước nên có thể làm nặng thêm bệnh suy tim xung huyết. Giữ nước rất hiếm gây tăng cân nhanh và quá mức. Nên kiểm tra các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim ở những bệnh nhân có nguy cơ suy tim (nhất là những người đang dùng insulin).

Tăng cân:

Đã gặp sự tăng cân liên quan đến liều dùng khi sử dụng rosiglitazon đơn lẻ hay kết hợp với thuốc hạ đường huyết khác. (xem bảng 2)

Bảng 2-  Thay đổi cân nặng (kg) so với ban đầu trong thử nghiệm lâm sàng với rosiglitazon maleat đơn trị liệu và khi dùng phối hợp với metformin
. Thời gian Nhóm chứng   Rosiglitazon 4 mg Rosiglitazon 8 mg
Trung bình (phân vị thứ 25, 75) Trung bình (phân vị thứ 25, 75) Trung bình (phân vị thứ 25, 75)
Đơn trị  liệu
Rosiglitazon 26 tuần Place-bo -0.9 kg 1.0 kg 3.1 kg
(-2.8, 0.9) (-0.9, 3.6) (1.1, 5.8)
Rosiglitazon 52 tuần Sulfonyl Urea 2.0 kg 2.0 kg 2.6 kg
(0, 4.0) (-0.6, 4.0) (0, 5.3)
Điều trị kết hợp
Rosiglitazon/Metformin 26 tuần Metformin -1.4 kg 0.8 kg 2.1 kg
(-3.2, 0.2) (-1.0, 2.6) (0, 4.3)

Cơ chế tăng cân chưa rõ nhưng có thể do kết hợp giữa giữ nước và tích lũy mỡ.

Nhiễm toan lactic:

Hiếm khi gặp nhiễm toan lactic, nhưng có thể xuất hiện biến chứng chuyển hóa nghiêm trọng do tích lũy metformin. Các trường hợp nhiễm toan lactic khi dùng metformin đã được ghi nhận, chủ yếu ở những bệnh nhân tiểu đường có suy thận đáng kể (xem phần dưới).

Các yếu tố liên quan đến nguy cơ nhiễm toan lactic như tiểu đường khó kiểm soát, nhiễm keton, đói kéo dài, uống nhiều rượu, suy gan và bất kỳ bệnh nào liên quan đến tình trạng thiếu oxy mô cần được kiểm tra trước khi bắt đầu dùng metformin cũng như điều trị bằng chế phẩm kết hợp.

Nên ngừng dùng Metformin + Rosiglitazone nếu nghi ngờ nhiễm toan lactic và bệnh nhân phải được nhập viện ngay.

Bệnh nhân suy thận:

Số liệu về điều trị bằng rosiglitazon ở bệnh nhân suy thận nặng còn hạn chế. Metformin được đào thải qua thận, do đó cần xác định lượng creatinin trong huyết thanh trước khi bắt đầu điều trị bằng Metformin + Rosiglitazone và sau đó nên kiểm tra thường xuyên. Không nên dùng Metformin + Rosiglitazone ở những bệnh nhân có lượng creatinine huyết thanh ( >135 micromol/l ở nam và >110 micromol/l ở nữ).

Cần thận trọng đặc biệt ở những bệnh nhân có khả năng suy thận như người cao tuổi, hoặc trong những tình trạng có thể gây suy chức năng thận như mất nước, nhiễm khuẩn nặng hay shock.

Thuốc cảm quan có chứa iod:

Tiêm tĩnh mạch các thuốc cản quan có chứa iod trong một số xét nghiệm có thể dẫn đến suy thận do có chứa thành phần metformin, nên cần ngừng sử dụng chế phẩm kết hợp này  trước hay ngay tại thời điểm làm xét nghiệm và không sử dụng lại chế phẩm kết hợp cho đến khi chức năng thận được khẳng định lại là bình thường.

Bệnh nhân suy gan:

Không cần điều chỉnh liều rosiglitazon ở những bệnh nhân suy gan nhẹ (điểm số Child – Pugh ≤ 6). Tuy nhiên, do kinh nghiệm sử dụng rosiglitazon và metformin còn giới hạn nên không khuyến cáo dùng chế phẩm kết hợp cho những bệnh nhân suy gan.

Phẫu thuật:

Nên ngừng dùng metformin hydroclorid cũng như chế phẩm kết hợp 48 giờ trước phẫu thuật có chương trình gây mê toàn thân và thường không dùng lại sớm hơn 48 giờ sau khi phẫu thuật.

Thông tin cho bệnh nhân:

Cần thông báo cho bệnh nhân:

Về nguy cơ tiềm tàng và lợi ích của chế phẩm kết hợp và của các liệu trình điều trị khác.

Về tầm quan trọng của việc tuân thủ các hướng dẫn về chế độ ăn, giảm cân và chương trình tập thể dục thường xuyên vì nó giúp cải thiện sự nhạy cảm với insulin. Nên nhấn mạnh tầm quan trọng của các xét nghiệm thường xuyên về đường huyết, glycosylated hemoglobulin (HbA1c), chức năng thận và các thông số huyết học. Bệnh nhân nên biết rằng chế phẩm kết hợp sẽ có tác dụng từ 1 – 2 tuần sau khi bắt đầu điều trị, tuy nhiên có thể cần 2 – 3 tháng mới thấy được đầy đủ hiệu quả trong việc cải thiện đường huyết.

Nên giải thích cho bệnh nhân nguy cơ nhiễm toan lactic, các triệu chứng của nó và điều kiện gây nhiễm toan lactic như đã nêu trong phần Cảnh báo và Thận trọng đặc biệt khi sử dụng. Nên khuyên bệnh nhân ngừng dùng thuốc ngay lập tức và nhanh chóng thông báo tình hình sức khỏe của họ cho bác sĩ khi có: tăng thông khí mà không rõ lý do, đau cơ, mệt mỏi, buồn ngủ bất thường hay các triệu chứng không đặc hiệu khác. Một khi bệnh nhân đã ổn định với bất kỳ mức độ liều chế phẩm kết hợp nào thì các triệu chứng đường tiêu hóa thường gặp khi bắt đầu dùng metformin là không liên quan đến thuốc. Các triệu chứng đường tiêu hóa xuất hiện muộn có thể do nhiễm toan lactic hay bệnh nặng khác.

Nên khuyên bệnh nhân hạn chế uống rượu ngay hay hạn chế từ từ trong khi dùng chế phẩm kết hợp.

Điều trị bằng chế phẩm kết hợp có thể gây tái phóng noãn ở nữ bệnh nhân tiền mãn kinh hoặc những phụ nữ không phóng noãn khi đề kháng insulin. Do đó nên sử dụng các biện pháp tránh thai thích hợp.

Khi điều trị bằng chế phẩm kết hợp này, bệnh nhân nên thông báo ngay cho bác sĩ khi có biểu hiện tăng cân nhanh bất thường hoặc phù nề hoặc thở gấp hay các triệu chứng khác của suy tim.

Nguy cơ tiềm tàng và lợi ích của Metformin + Rosiglitazone và của các liệu trình điều trị khác.

Nên thông báo cho bệnh nhân tầm quan trọng của việc tuân thủ các hướng dẫn về chế độ ăn, giảm cân và chương trình tập thể dục thường xuyên vì nó giúp cải thiện sự nhạy cảm với insulin. Nên nhấn mạnh tầm quan trọng của các xét nghiệm thường xuyên về đường huyết, glycosylated haemoglobulin (HbA1c), chức năng thận và các thông số huyết học. Bệnh nhân nên biết rằng Metformin + Rosiglitazone sẽ có tác dụng từ 1 – 2 tuần sau khi bắt đầu điều trị, tuy nhiên có thể cần 2 – 3 tháng mới thấy được đầy đủ hiệu quả trong việc cải thiện đường huyết.

Nên khuyên bệnh nhân hạn chế uống rượu ngay hay hạn chế từ từ trong khi dùng Metformin + Rosiglitazone.

Điều trị bằng Metformin + Rosiglitazone có thể gây tái phóng noãn ở bệnh nhân tiền mãn kinh hoặc những phụ nữ không phóng noãn khi đề kháng insulin. Do đó nên sử dụng các biện pháp tránh thai thích hợp.

Khi điều trị bằng Metformin + Rosiglitazone, bệnh nhân nên thông báo ngay cho bác sĩ khi có biểu hiện tăng cân nhanh bất thường hoặc phù nề hoặc thở gấp hay các triệu chứng khác của suy tim.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cả rosiglitazone và metformin đều không ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Không có đầy đủ các số liệu liên quan đến việc sử dụng Metformin + Rosiglitazone trong thời kỳ mang thai ở người. Nhìn chung nên sử dụng insulin cho những bệnh nhân tiểu đường type 2 trong thai kỳ. Thông thường nên cân nhắc lợi ích/nguy cơ điều trị ở những bệnh nhân đang mang thai.

Khả năng sinh sản:

Do khả năng nhạy cảm với insulin được cải thiện thường xuyên nên điều trị bằng Metformin + Rosiglitazone ở những bệnh nhân tiền mãn kinh không phóng noãn có đề kháng với insuline (như bệnh nhân có triệu chứng vách ngăn buồng trứng) có thể gây phóng noãn trở lại và những bệnh nhân này có thể có thai. Trong thử nghiệm lâm sàng, những phụ nữ tiền mãn kinh đã được sử dụng rosiglitazone. Mặc dù đã thấy mất cân bằng về hormon trong những nghiên cứu tiền lâm sàng nhưng không thấy biểu hiện bất lợi đáng kể nào liên quan đến rối loạn kinh nguyệt. Nếu xuất hiện rối loạn kinh nguyệt nên xem xét lại lợi ích của việc điều trị liên.

Thời kỳ cho con bú:

Không có đầy đủ các số liệu liên quan đến việc sử dụng Metformin + Rosiglitazone trong thời kỳ cho con bú ở người. Cả rosiglitazone và metformin đều bài tiết vào sữa của những con chuột đang cho con bú. Nhìn chung nên sử dụng insulin cho những bệnh nhân tiểu đường type 2 đang cho con bú. Thông thường, nên cân nhắc lợi ích/nguy cơ điều trị ở những bệnh nhân đang cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Bảng 3 cho thấy tỷ lệ và biểu hiện của tác dụng phụ đã được báo cáo trong những thử nghiệm lâm sàng khi dùng một mình rosiglitazon hoặc khi kết hợp với metformin liều tối đa (2500 mg/ngày).

Báo cáo hạ đường huyết dưới mức bình thường ở những bệnh nhân điều trị kết hợp rosiglitazon với metformin liều tối đa là thường xuyên hơn so với bệnh nhân điều trị đơn trị liệu bằng rosiglitazon hay metformin. Trong những nghiên cứu mù đôi, hạ đường huyết đả được báo cáo ở 3,0% bệnh nhân dùng rosiglitazon kết hợp với liều tối đa metformin, ở 1,3% bệnh nhân dùng đơn trị liệu bằng metformin, ở 0,6% bệnh nhân dùng đơn trị  liệu bằng rosiglitazon và ở 0,2% bệnh nhân dùng placebo.

Đã có một số ít bệnh nhân dùng rosiglitazon maleat có biểu hiện thiếu máu, phù và tăng cholasterol máu. Nhìn chung các triệu chứng này thường từ nhẹ đến nặng vừa và thường không cần phải ngừng điều trị bằng rosiglitazon. Phù được báo cáo ở 4,8% bệnh nhân dùng rosiglitazon maleat so với 1,3% bệnh nhân dùng placebo, với 2,2% bệnh nhân dùng đơn trị liệu bằng metformin và với 4,4% bệnh nhân dùng rosiglitazon kết hợp với liều tối đa metformin. Nhìn chung biểu hiện của tác dụng phụ được báo cáo khi dùng rosiglitazon maleat kết hợp với metformin là tương đương như khi dùng đơn trị liệu bằng rosiglitazon maleat. Báo cáo về thiếu máu (7,1%) là cao hơn ở những bệnh nhân điều trị kết hợp rosiglitazon maleat và metformin so với đơn trị liệu bằng rosiglitazon maleat.

Bảng 3: Tác dụng phụ (≥ 5 % trong bất kỳ nhóm điều trị nào) được bệnh nhân báo cáo trong thử nghiệm lâm sàng mù đôi.
  Đơn trị liệu bằng Rosiglitazon Placebo Đơn trị liệu bằng metformin Rosiglitazon kết hợp Metformin
N = 2526 N = 601 N = 225 N = 338
Tác dụng bất lợi quan sát được % % % %
Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên 9.9 8.7 8.9 16
Thương tổn 7.6 4.3 7.6 8
Đau đầu 5.9 5 8.9 6.5
Đau lưng 4 3.8 4 5
Tăng đường huyết 3.9 5.7 4.4 2.1
Mệt mỏi 3.6 5 4 5.9
Viêm xoang 3.2 4.5 5.3 6.2
Tiêu chảy 2.3 3.3 15.6 12.7
Nhiễm virus 3.2 4 3.6 5
Đau khớp 3 4 2.2 5
Thiếu máu 1.9 0.7 2.2 7.1

. Trong những thử nghiệm lâm sàng điều trị kết hợp với metformin, tỷ lệ thiếu máu được báo cáo có thể cao hơn ở những bệnh nhân có lượng hemoglobin/hematocrit thấp trước khi điều trị.

Trong những thử nghiệm lâm sàng, đã quan sát thấy tỉ lệ tăng tim tăng lên khi dùng rosiglitazon maleat kết hợp với insulin so với sử dụng insulin đơn thuần. Bệnh nhân suy tim thường là những bệnh nhân có tuổi, bị bệnh tiểu đường trong thời gian dài và hầu hết đã dùng rosiglitazon maleat với liều mỗi ngày cao hơn 8 mg.

Đã gặp tăng cân liên quan đến liều dùng một mình rosiglitazon maleat và kết hợp với các thuốc hạ đường huyết khác. Cơ chế của hiện tượng tăng cân chưa rõ nhưng có thể do giữ nước kết hợp với tích lũy mỡ.

Metformin hydroclorid:

Các triệu chứng của đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng và chán ăn là rất phổ biến, các biểu hiện này thường xuất hiện khi bắt đầu điều trị và tự hồi phục trong nhiều trường hợp.

Rối loạn vị giác, thường gặp cảm giác vị kim loại.

Đã có báo cáo ban đỏ ở một vài bệnh nhân tăng nhạy cảm nhưng rất hiếm.

Rất hiếm gặp nhiễm toan lactic.

Bất thường trên thí nghiệm:

Độc tính trên huyết học: đã gặp giảm giá trị trung bình haemoglobin và haematocrit liên quan đến liều dùng ở bệnh nhân điều trị bằng rosiglitazon maleat (trong những nghiên cứu riêng lẽ, giảm trung bình đến 1,0 gram/dl đối với haemoglobin và đến 3,3% đối với haematocrit). Thời gian và mức độ giảm là như nhau ở nhửng bệnh nhân dùng rosiglitazon maleat kết hợp với thuốc hạ đường huyết khác hay đơn trị liệu bằng rosiglitazon. Trong những nghiên cứu điều trị kết hợp với metformin, bệnh nhân có lượng haemoglobin và haematocrit trước khi điều trị thấp hơn và có thể góp phần làm tỉ lệ thiếu máu được báo cáo cao hơn. Số lượng tế bào bạch cầu cũng giảm nhẹ ở những bệnh nhân điều trị bằng rosiglitazon maleat. Giảm yếu tố huyết học có thể liên quan đến tăng thể tích huyết tương khi điều trị bằng rosiglitazon maleat.

Trong những thí nghiệm có kiểm chứng trên lâm sàng khi dùng metformin hydroclorid trong 29 tuần, đã quan sát thấy khoảng 7% bệnh nhân có hiện tượng giảm lượng vitamin B12 trong huyết thanh đến dưới mức bình thường của lượng vitamin B12 bình thường trước đó mà không có biểu hiện lâm sàng. Hiện tượng này có thể do rối loạn hấp thu B12 từ phức hợp nội sinh B12, tuy nhiên rất hiếm gây thiếu máu và nhanh chóng trở về bình thường sau khi ngưng dùng metformin hoặc bổ sunng B­12.

Lipid: đã gặp thay đổi lipid huyết thanh sau khi điều trị bằng rosiglitazon maleat.

Lượng translaminase huyết thanh: trong nghiên cứu lâm sàng ở 4598 bệnh nhân điều trị bằng rosiglitazon maleat gồm khoảng 3600 bệnh nhân mắc bệnh trong nhiều năm, không thấy bằng chứng về nhiễm độc gan do thuốc hoặc tăng lượng ALT.

Trong thử nghiệm có kiểm chứng, 0,2% bệnh nhân điều trị bằng rosiglitazon maleat đã tăng có hồi phục ALT > 3 lần trị số trên của giới hạn bình thường so với 0,2% khi dùng placebo và 0,5% so với chất đối chứng. Tăng bilirubin trong máu được phát hiện ở khoảng 0,3% ở bệnh nhân điều trị bằng rosiglitazon maleat so với 0,9% dùng placebo và 1% dùng chất đối chứng.

Trong chương trình lâm sàng bao gồm thời gian dài, thử nghiệm mở, tỷ lệ trên 100 bệnh nhân bị bệnh lâu năm có tăng ALT > 3 lần trị số của giới hạn bình thường là 0,35 ở những bệnh nhân điều trị bằng rosiglitazon maleat; 0,59 ở những bệnh nhân dùng placebo và 0,78 ở những bệnh nhân dùng chất đối chứng.

Trong các thử nghiệm lâm sàng trước khi lưu hành thuốc, không gặp trường hợp nào có phản ứng đặc hiệu của thuốc gây suy gan. Báo cáo kinh nghiệm sử dụng rosiglitazon maleat hậu marketing đã ghi nhận tăng men gan lên 3 lần hay cao hơn nữa so với trị số trên của giới hạn bình thường và có ghi nhận viêm gan.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

ROSIGLITAZON:

Các thuốc chuyển hóa bởi Cytochcrome P450: Các nghiên cứu về chuyển hóa thuốc in vitro cho thấy rằng ở liều điều trị trên lâm sàng rosiglitazon không ức chế bất kỳ một enzym P450 chủ yếu nào. Số liệu in vitro cho thấy rằng rosiglitazon được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP2C8 và một phần nhỏ bởi CYP2C9.

Rosiglitazon (4 mg x 2 lần/ngày) không gây ảnh hưởng lâm sàng nào đối với dược động học của Nifedipin hay thuốc tránh thai đường uống là những thuốc chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A4 (ethinylestradiol và norethinidion).

METFORMIN:

Furosemid: Trong nghiên cứu về tương tác thuốc giữa metformin – furosemid khi dùng liều duy nhất ở những người khỏe mạnh cho thấy rằng các yếu tố dược động học của cả hai thuốc này đều bị ảnh hưởng khi dùng kết hợp. Furosemid làm tăng Cmax của metformin trong huyết tương và trong máu lên 22% và tăng AUC trong máu lên 15% mà không có bất kỳ thay đổi đáng kể nào về độ thanh thải metformin qua thận. Khi sử dụng với metformin, Cmax và AUC của furosemid giảm tương ứng 31% và 12% so với khi dùng một mình và thời gian bán thải cuối cùng giảm 32% mà không có bất kỳ thay đổi đáng kể nào về độ thanh thải furosemid qua thận. Không có số liệu về tương tác giữa rosiglitazon và furosemid khi dùng kết hợp kéo dài.

Nifedipin: Trong nghiên cứu về tương tác thuốc giữa Nifedipin – metformin khi dùng liều duy nhất ở những người tình nguyện khỏe mạnh cho thấy rằng dùng kết hợp với niferipin thì Cmax của metformin trong huyết tương và AUC tương ứng là 20% và 9% và tăng lượng đào thải qua nước tiểu. Tmax và thời gian bán hủy không bị ảnh hưởng. Nifedipin dùng như làm tăng khả năng hấp thu metformin. Metformin có ảnh hưởng tối thiểu lên niferipine.

Thuốc cation: Trên lý thuyết các thuốc cation (như amilorid, digoxin, morphin, procainamid, quinidin, quinin, ranitidin, triamteren, trimethoprim và vancomycin) được bài tiết qua ống thận có khả năng tương tác với metformin do cạnh tranh với hệ thống vận chuyển chung ở ống thận. Trong những nghiên cứu về tương tác thuốc giữa cimetidin – metformin ở những người tình nguyện khỏe mạnh khi dùng liều duy nhất hay đa liều, đã gặp tương tác thuốc giữa metformin và cimetidin dạng uống với biểu hiện tăng 60% nồng độ đỉnh metformin trong huyết tương và toàn bộ nồng độ trong máu và tăng 40% trong huyết tương và toàn bộ AUC của metformin trong máu. Thời gian bán thải không thay đổi trong nghiên cứu dùng liều duy nhất. Metformin không ảnh hưởng lên dược động học của cimetidin. Những bệnh nhân đang uống các thuốc cation bài tiết qua hệ thống lọc phần đầu ống thận nên được theo dõi cẩn thận và điều chỉnh liều Metformin + Rosiglitazone và/hoặc những thuốc ảnh hưởng này mặc dù tương tác thuốc chỉ có trên lý thuyết (ngoại trừ cimetidin).

Rượu: Tăng nguy cơ nhiễm toan lactic khi ngộ độc rượu cấp do thành phần metformin trong Metformin + Rosiglitazone.

Thuốc khác: Một vài thuốc có xu hướng gây tăng đường huyết và có thể gây mất kiểm soát đường huyết. những thuốc này bao gồm: thiazid và các thuốc lợi tiểu khác, các corticosteroid, các phenothiazin, thuốc điều trị tuyến giáp, estrogens, thuốc tránh thai dạng uống, phenytoin, nicotinic acid, thuốc kích thích thần kinh giao cảm, thuốc chẹn kênh calci và isoniazid. Để duy trì việc kiểm soát đường huyết thích hợp bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ khi sử dụng những thuốc này cùng với Metformin + Rosiglitazone. Trong những nghiên cứu về tương tác thuốc khi dùng liều duy nhất ở những người tình nguyện khỏe mạnh, metformin và propanolol, metformin và ibuprofen không ảnh hưởng lẫn nhau khi dùng kết hợp.

Metformin liên kết không đáng kể với protein huyết tương do đó ít tương tác với các thuốc liên kết đáng kể với protein huyết tương như salicylat, các sulfonamid, chloramphenicol và probenecid.

4.9 Quá liều và xử trí:

Rosiglitazon maleat:

Các số liệu về quá liều ở người còn hạn chế. Trong nghiên cứu lâm sàng ở những người tình nguyện, rosiglitazon được chỉ định với liều đơn lên đến 20 mg và được dung nạp tốt. Trong trường hợp quá liều, điều trị nâng đỡ thích hợp nên được chỉ định dựa vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.

Metformin hydroclorid:

Uống 85 gram metformin hydroclorid cũng không gây hạ đường huyết mặc dù nhiễm toan lactic đã gặp ở những người này.

Metformin có thể được phân tách với mức lọc lên đến 170 ml/phút với điều kiện huyết động lực tốt. Do đó thẩm phân máu có thể hữu ích trong việc loại bỏ tích lũy metformin ở những bệnh nhân nghi uống quá liều metformin.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

METFORMIN HYDROCLORID (A10B A02):

Metformin làm giảm nồng độ glucose trong huyết tương, khi đói và sau bữa ăn, ở người bệnh đái tháo đường typ II (không phụ thuộc insulin). Cơ chế tác dụng ngoại biên của metformin là làm tăng sử dụng glucose ở tế bào, cải thiện liên kết của insulin với thụ thể và có lẽ cả tác dụng sau thụ thể, ức chế tổng hợp glucose ở gan và giảm hấp thu glucose ở ruột. Ngoài tác dụng chống đái tháo đường, metformin phần nào có ảnh hưởng tốt trên chuyển hóa lipoprotein, thường bị rối loạn ở người bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin. Trái với các sulfonylurê, thể trọng của người được điều trị bằng metformin có xu hướng ổn định hoặc có thể hơi giảm.

Dùng metformin đơn trị liệu có thể có hiệu quả tốt đối với những người bệnh không đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng một phần với sulfonylurê hoặc những người không còn đáp ứng với sulfonylurê. Ở những người bệnh này, nếu với metformin đơn trị liệu mà đường huyết vẫn không được khống chế theo yêu cầu thì phối hợp metformin với một sulfonylurê có thể có tác dụng hiệp đồng, vì cả hai thuốc cải thiện dung nạp glucose bằng những cơ chế khác nhau nhưng lại bổ sung cho nhau.

ROSIGLITAZON MALEAT (A10B G02):

Rosiglitazon maleat, một thuốc điều trị đái tháo đường  thuộc họ thiazolidinedion kiểm soát đường  máu nhờ cải thiện sự cảm thụ insulin.

Sự đề kháng insulin là một đặc điểm thường gặp trong trong bệnh sinh bệnh đái tháo đường thể 2. Hoạt tính chống đái tháo đường của Rosiglitazon đã được chứng minh ở súc vật thực nghiệm đái tháo đường thể 2, trong đó tăng đường  máu và/hoặc rối loạn dung nạp glucose là hậu quả của hiện tượng đề kháng insulin ở mô đích. Rosiglitazon làm giảm đường máu và làm giảm sự tăng nồng độ insulin trong máu ở chuột nhắt ob/ob béo phì, ở chuột nhắt db/db bị đái tháo đường và ở chuột cống Zucker fa/fa béo. Rosiglitazon cũng ngăn ngừa sự tiến triển thành đái tháo đường thật sự ở cả chuột nhắt db/db và chuột cống Zucker fa/fa béo, bị đái tháo đường. Ở súc vật thực nghiệm, Rosiglitazon biểu hiện hoạt tính chống đái tháo đường qua trung gian làm tăng nhạy cảm với hoạt tính của insulin ở gan, mô cơ và mô mỡ. Hoạt động của chất vận chuyển đường  được điều hoà bởi insulin GLUT-4 tăng lên trong mô mỡ. Rosiglitazon không gây hạ đường máu ở súc vật thực nghiệm đái tháo đường thể 2 và/hoặc bị rối loạn dung nạp glucose.

Cơ chế tác dụng:

Metformin là một thuốc chống đái tháo đường nhóm biguanid, có cơ chế tác dụng khác với các thuốc chống đái tháo đường nhóm sulfonylurê. Không giống sulfonylurê, metformin không kích thích giải phóng insulin từ các tế bào beta tuyến tụy. Thuốc không có tác dụng hạ đường huyết ở người không bị đái tháo đường. Ở người đái tháo đường, metformin làm giảm sự tăng đường huyết nhưng không gây tai biến hạ đường huyết (trừ trường hợp nhịn đói hoặc phối hợp thuốc hiệp đồng tác dụng). Vì vậy trước đây cả biguanid và sulfonylurê đều được coi là thuốc hạ đường huyết, nhưng thực ra biguanid (thí dụ như metformin) phải được coi là thuốc chống tăng đường huyết mới thích hợp.

Rosiglitazon là một chất đồng vận mạnh và rất chọn lọc với thụ thể gamma được hoạt hoá bởi tăng trưởng peroxisom (PPARg). Ở người, thụ thể PPAR được tìm thấy chủ yếu ở các mô đích của insulin, như mô mỡ, cơ vân và gan. Sự hoạt hoá thụ thể nhân PPARg điều hoà sư sao chép các gen đáp ứng với insulin có vai trò kiểm soát sự sản xuất, vận chuyển và sử dụng  glucose. Ngoài ra, các gen đáp ứng với PPARg cũng tham gia vào việc điều hoà ự chuyển hoá acid béo.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

METFORMIN HYDROCLORID (A10B A02) :

Metformin hấp thu chậm và không hoàn toàn ở đường tiêu hóa. Khả dụng sinh học tuyệt đối của 500mg metformin uống lúc đói xấp xỉ 50 – 60%. Không có sự tỷ lệ với liều khi tăng liều, do hấp thụ giảm. Thức ăn làm giảm mức độ hấp thụ và làm chậm sự hấp thụ metformin. Metformin liên kết với protein huyết tương mức độ không đáng kể. Metformin phân bố nhanh chóng vào các mô và dịch. Thuốc cũng phân bố vào trong hồng cầu.

Metformin không bị chuyển hóa ở gan, và không bài tiết qua mật. Bài tiết ở ống thận là đường thải trừ chủ yếu của metformin. Sau khi uống, khoảng 90% lượng thuốc hấp thụ được thải trừ qua đường thận trong vòng 24 giờ đầu ở dạng không chuyển hóa. Nửa đời trong huyết tương là 1,5 – 4,5 giờ.

Có thể có nguy cơ tích lũy trong trường hợp suy giảm chức năng thận. Ðộ thanh thải metformin qua thận giảm ở người bệnh suy thận và người cao tuổi.

ROSIGLITAZON MALEAT (A10B G02) :

Nồng độ huyết tương tương đối (Cmax) và vùng bên dưới đường  cong (AUC) của Rosiglitazon tăng theo sự gia tăng liều điều trị (bảng 2). Thời gian bán thải của thuốc là 3 – 4 giờ và không phụ thuộc liều lượng.

Bảng 2. Các thông số dược động học trung bình của Rosiglitazon sau khi uống liều đơn (n= 32)
Thông số 1 mg đói 2 mg đói 8 mg đói 8 mg no
AUC 0-vô định (ng.giờ/ml) 358 733 2971 2890
-112 -184 -730 -795
Cmax (ng/ml) 76 156 598 432
-13 -42 -117 -92
Thời gian bán huỷ (giờ) 3,16 3,15 3,37 3,59
-0,72 -0,39 -0,63 -0,7
Độ thanh thải sau khi uống (1/giờ) 3,03 2,89 2,85 2,97
-0,87 -0,71 -0,69 -0,81

Hấp thu :

Sinh khả dụng tuyệt đối của rosiglitazon là 99%. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được khoảng 1 giờ sau khi uống. Việc sử dụng rosiglitazon kèm với thức ăn không tạo ra một thay đổi nào của nồng độ thuốc trong máu (AUC), nhưng Cmax lại giảm khoảng 28% và Tmax kéo dài (1,75 giờ). Những  thay đổi này dường như không có ý nghĩa trên lâm sàng, vì vậy rosiglitazon có thể được dùng kèm hay không kèm với thức ăn.

Phân bố :

Các phân tích đặc điểm dược động học trong quần thể thử nghiệm cho thấy thể tích phân bố trung bình sau khi uống rosiglitazon (Vss/F) khoảng 17,6 lít (30%). Rosiglitazon gắn với protein huyết tương khoảng 99,8%; chủ yếu với albumin.

Chuyển hoá :

Rosiglitazon được chuyển hoá nhiều và được thải qua nước tiểu ở dạng bị biến đối. Các đường chuyển hoá chính là N – khử methyl và hydroxyl hoá, sau đó được liên hợp với sulfat và acid glucuronic. Tất cả các chất chuyển hoá lưu hành trong máu của thuốc đều có hiệu lực thấp hơn nhiều so với thuốc sử dụng ban đầu, vì thế chúng dự phần không đáng kể vào việc  làm tăng tính cảm thụ với insulin của rosiglitazon.

Các dữ liệu in-vitro cho thấy rosiglitazon được chuyển hoá chủ yếu bởi isoenzym 2C8 của cytochrom P450 (CYP), trong khi isoenzym CYP2C9 chỉ tham gia chuyển hoá phụ.

Bài tiết :

Sau khi uống hay tiêm tĩnh mạch rosiglitazon maleat có gắn 14C, có khoảng 64% liều được thải qua nước tiểu và 23% được thải qua phân. Thời gian bán huỷ trong huyết tương của  rosiglitazon có gắn 14C thay đổi từ 103 đến 158 giờ.

Dược động học trong quần thể bệnh nhân đái tháo đường thể 2 :

Phân tích đặc điểm dược động học trong quần thể của 3 thử nghiệm lâm sàng qui mô gồm 642 nam và 405 nữ đái tháo đường thể 2  (tuổi từ 35 đến 80) cho thấy dược động học của rosiglitazon không bị ảnh hưởng bởi tuổi, chủng tộc, hút thuốc lá hay uống rượu. Độ thanh thải sau khi uống (CL/F) và thể tích phân bố cơ bản sau khi  uống (Vss/F) đều gia tăng khi thể trọng tăng. Trong các phân tích này, khi thể trọng thay đổi từ 50kg đến 150kg thì các trị số của CL/F và Vss/F bị thay đổi theo như dự đoán trước lần lượt là < 1,7 lần và < 2,3 lần. Hơn nữa, độ thanh thải sau khi uống rosiglitazon bị ảnh hưởng bởi cả thể trọng và giới tính, thấp hơn ở bệnh nhân nữ (khoảng 15%).

*Các quần thể đặc biệt *:

Tuổi : Các kết quả phân tích đặc điểm dược động học trong quần thể (n = 716 <65 tuổi; n = 331 ≥ 65 tuổi) cho thấy tuổi tác không ảnh hưởng đáng kể dược động học của rosiglitazon

Giới tính : Các kết quả phân tích đặc điểm dược động học trong quần thể cho thấy độ thanh thải trung bình sau khi uống rosiglitazon ở bệnh nhân nữ (n = 405) thấp hơn bệnh nhân nam có cùng thể trọng (n = 642) khoảng 6%.

Khi dùng đơn liệu pháp hay khi phối hợp với metformin, rosiglitazon cải thiện việc điều chỉnh đường máu cả ở nam và nữ. Các nghiên cứu có phối hợp với metformin cho thấy giới tính không có ảnh hưởng nào trên hiệu quả đáp ứng đường máu.

Trong các nghiên cứu đơn liệu pháp, phụ nữ có đáp ứng điều trị tốt hơn ; tuy nhiên bệnh nhân càng mập phì thì sự khác biệt về giới lại ít rõ rệt. Ở cùng một chỉ số thân khối (BMI : body mass index) phụ nữ thường có nhiều mỡ hơn nam giới. Do thụ thể đích PPARg hiện diện ở mô mỡ nên đặc điểm khác biệt này có thể giải thích, ít nhất là một phần, sự đáp ứng tốt hơn với rosiglitazon ở phụ nữ. Không cần thiết phải chỉnh liều nếu chỉ căn cứ đơn thuần vào sư khác biệt về giới tính do đó việc điều trị nên được áp dụng trong từng trường hợp cụ thể.

Suy gan : So với người khoẻ mạnh, ở bệnh nhân bi bệnh lý gan nặng hay trung bình (độ B/C của Child Pugh ≤ 6) độ thanh thải sau khi uống của rosiglitazon dạng không kết hợp thấp hơn đáng kể. Vì vậy, nồng độ huyết tương tối đa (Cmax) và diện tích bên dưới đường  cong (dưới 0) của rosiglitazon ở dạng không kết hợp sẽ cao gấp 2 và 3 lần theo thứ tự. Thời gian bán thải của rosiglitazon ở bệnh nhân bị bệnh gan dài hơn 2 giờ so với người khoẻ mạnh.

Không nên điều trị bằng rosiglitazon nếu bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng của bệnh gan hoạt động hoặc có sự gia tăng nồng độ các men transaminase trong huyết thanh (ALT > 2,5 lần giới hạn tối đa bình thường) lúc bắt đầu điều trị.

Suy thận : So với người có chức năng thận bình thường, không có sự khác biệt quan trọng nào trên lâm sàng về dược động học của rosiglitazon ở bệnh nhân bị suy thận mức độ nhẹ đến nặng hoặc ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo chu kỳ. Vì vậy không cần phải điều chỉnh liều rosiglitazon ở những bệnh nhân này. Do metformin bị chống chỉ định ở bệnh nhân suy thận, việc phối hợp metformin với rosiglitazon cũng bị chống chỉ định ở những bệnh nhân này.

Chủng tộc : Các kết quả phân tích đặc điểm dược động học trong quần thể ở những đối tượng da trắng, da đen hoặc các chủng tộc khác cho thấy chủng tộc không có ảnh hưởng trên dược động học của rosiglitazon.

Sử dụng ở trẻ em : Độ an toàn và tính hiệu quả của rosiglitazon ở bệnh nhân nhi hiện vẫn chưa được chứng minh.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM