Thuốc Peginterferon alfa-2B là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Peginterferon alfa-2B (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Peginterferon Alfa-2B
Phân loại: Thuốc điều hòa miễn dịch.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L03AB10.
Brand name: Peg-Intron.
Generic : Peginterferon Alfa-2B, Peg-Intron Clearclick, Peg-intron Redipen
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Bột để pha dung dịch tiêm được đóng trong lọ với hàm lượng 50-80-100-120-150 microgram peginterferon alpha-2b, là liên hợp giữa interferon alpha-2b tái tổ hợp với monomethoxy-polyethylen-glycol.
Hộp 1 bút tiêm đóng sẵn có chứa 50-80-100-120-150 microgram peginterferon alpha-2b
Thuốc tham khảo:
| PEG-INTRON 50 mcg | ||
| Mỗi lọ bột để pha dung dịch tiêm có chứa: | ||
| Peginterferon Alfa-2B | …………………………. | 150 mcg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Peginterferon Alfa-2B được chỉ định điều trị viêm gan mạn tính C và viêm gan mạn tính B.
Điều trị viêm gan C mạn tính được cho là tối ưu khi kết hợp Peginterferon Alfa-2B với ribavirin. Khi dùng Peginterferon Alfa-2B kết hợp với ribavirin, xin tham khảo thêm thông tin sản phẩm ribavirin.
Điều trị kết hợp Peginterferon Alfa-2B với ribavirin được chỉ định cho những bệnh nhân viêm gan C mạn tính chưa điều trị, tái phát và không đáp ứng với điều trị, những bệnh nhân này có các men transaminase ở mức bình thường hoặc tăng với gan còn bù, kể cả những người có bằng chứng mô học xơ gan (Child-Pugh nhóm A), và những người có HCV-RNA hoặc kháng HCV huyết thanh dương tính. Phác đồ kết hợp này cũng được chỉ định cho bệnh nhân viêm gan C mạn tính đồng nhiễm HIV ổn định trên lâm sàng.
Bệnh nhân phải trên 18 tuổi và bệnh lý gan còn bù.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Pha chế: Không được trộn lẫn Peginterferon Alfa-2B với các thuốc tiêm khác. Peginterferon Alfa-2B được phân phối dạng bột Peginterferon alpha-2b với hàm lượng 50-80-100-120-150 microgram để tiêm một lần. Mỗi lọ bột cần pha với 0,7 ml nước cất vô khuẩn để tiêm; sau khi pha thì tiêm tới 0,5 ml dung dịch. Dung dịch đã pha sẽ có nồng độ là 100-160-200-240-300 microgram/ml.
Cũng như mọi sản phẩm để tiêm, hãy nhận xét bằng mắt dung dịch trước khi tiêm. Không được tiêm, nếu dung dịch đổi màu. Phần tiêm không hết mà còn thừa, phải vứt bỏ.
Dùng ống tiêm và kim tiêm vô khuẩn, cho thêm 0,7 ml nước cất vô khuẩn vào lọ bột Peginterferon Alfa-2B. Lắc nhẹ nhàng đến khi bột thuốc tan hoàn toàn. Rút liều thích hợp khỏi lọ bằng ống tiêm kim tiêm vô khuẩn và tiêm dưới da bệnh nhân.
Độ ổn định của dung dịch đã pha: Độ ổn định về hoá và lý học thông dụng của dung dịch là được 24 giờ, nếu bảo quản ở 2-8°C. Về quan điểm vi sinh học, dung dịch đã pha phải được dùng ngay. Nếu chưa dùng ngay, thì điều kiện và thời gian bảo quản thông dụng là thuộc trách nhiệm của người dùng, nhưng thường là không được để kéo dài quá 24 giờ trong điều kiện nhiệt độ 2-8°C, trừ khi sự pha dung dịch là ở nơi có điều kiện vô khuẩn đáng tin cậy và được kiểm soát chặt chẽ.
Liều dùng:
Viêm gan B mạn tính:
Peginterferon Alfa-2B tiêm dưới da với liều 1,0 đến 1,5 mcg/kg x 1 lần/tuần, ít nhất là 24 tuần và tối đa 52 tuần. Nên chọn liều dựa trên dự đoán về hiệu lực và tính an toàn. Những bệnh nhân kiểu gen C và D khó điều trị có thể hiệu quả hơn khi sử dụng liều ở giới hạn cao và thời gian điều trị ở giới hạn dài. Chỉ những bác sĩ có kinh nghiệm điều trị viêm gan B mới nên sử dụng và giám sát điều trị với Peginterferon Alfa-2B.
Khi bệnh nhân tự tiêm thuốc thì nên khuyên bệnh nhân thay đổi vị trí tiêm cho mỗi lần tiêm.
Viêm gan C mạn tính:
Peginterferon Alfa-2B đơn trị liệu, dùng tiêm dưới da 0,5 hoặc 1,0 microgram/kg, mỗi tuần 1 lần, kéo dài ít nhất 6 tháng. Cần chọn liều, dựa theo phỏng đoán về hiệu lực và độ an toàn. Ở bệnh nhân đã thấy mất HCV-RNA sau 6 tháng điều trị, cần bổ sung thêm 6 tháng điều trị nữa, hoặc là 1 năm.
Nếu để bệnh nhân tự tiêm, cần dặn dò thay đổi vị trí tiêm luôn luôn.
Nếu bệnh nhân không mất HCV-RNA sau 6 tháng điều trị, thì cần ngừng dùng Peginterferon Alfa-2B.
Khi gặp một phản ứng có hại trong quá trình điều trị, cần thay đổi liều, dùng ½ liều đã khuyến cáo, mỗi tuần tiêm một lần, cho tới khi hiện tượng có hại dịu bớt đi. Nếu sự không dung nạp vẫn tồn tại hoặc tái diễn, mặc dầu đã điều chỉnh liều cho thích hợp, thì nên ngừng thuốc.
Cũng cần giảm liều, nếu số lượng bạch cầu trung tính < 0,75 x 109 /lít, hoặc tiểu cầu < 50.000 x 109/lít. Phải ngừng thuốc, nếu bạch cầu trung tính < 0,50 x 109 /lít hoặc tiểu cầu < 25.000 x 109 /lít.
Khi suy thận: Độ thanh lọc của Peginterferon Alfa-2B giảm đi ở người suy thận rõ (độ thanh lọc creatinin ≤ 50 mL/phút) (xem Dược động học). Cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân suy chức năng thận rõ rệt và cần giảm liều hàng tuần của Peginterferon Alfa-2B, nếu điều trị cho phép.
Khi suy gan: Chưa đánh giá được hiệu lực và độ an toàn của Peginterferon Alfa-2B ở người suy gan nghiêm trọng, vì vậy không được dùng thuốc này cho các đối tượng trên.
Người cao tuổi (≥ 65 tuổi): Không có ảnh hưởng của tuổi tác tới động học của Peginterferon Alfa-2B. Dữ liệu từ người cao tuổi dùng liều duy nhất Peginterferon Alfa-2B cho thấy không cần thay đổi liều Peginterferon Alfa-2B dựa theo tuổi (xem Dược động học).
Bệnh nhân dưới 18 tuổi: Không dùng Peginterferon Alfa-2B cho lứa tuổi này, vì chưa có kinh nghiệm điều trị cho lứa tuổi này.
Thời gian điều trị:
Bệnh nhân chưa được điều trị:
Nên cân nhắc ngừng điều trị kết hợp Peginterferon Alfa-2B sau 12 đến 24 tuần điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng virus sớm, được xác định bằng HCV RNA không xác định được hoặc ít nhất số lượng virus giảm 2 log10 so với ban đầu ở tuần điều trị thứ 12.
Những bệnh nhân nhiễm virus kiểu gen 1 nếu không đạt được đáp ứng virus vào tuần điều trị thứ 12 thì rất ít khả năng có đáp ứng virus kéo dài.
Kiểu gen 1: Đối với bệnh nhân thể hiện đáp ứng virus vào tuần điều trị thứ 12, nên tiếp tục điều trị thêm 9 tháng (tổng thời gian điều trị 48 tuần). Ở nhóm bệnh nhân nhiễm virus kiểu gen 1 với lượng virus thấp (< 2.000.000 bản sao/ml) mà HCV RNA âm tính tại tuần điều trị thứ 4 và duy trì HCV RNA âm tính đến tuần 24 thì nên hoặc ngừng điều trị tại tuần 24 hoặc tiếp tục điều trị thêm 24 tuần (tổng thời gian điều trị là 48 tuần). Tuy nhiên, nếu điều trị trong 24 tuần thì nguy cơ tái phát sẽ cao hơn khi điều trị trong 48 tuần.
Kiểu gen 2 hoặc 3: Tất cả bệnh nhân đều được khuyến cáo điều trị 24 tuần, ngoại trừ bệnh nhân đồng nhiễm HCV/HIV nên được điều trị 48 tuần.
Kiểu gen 4: Nói chung, bệnh nhân nhiễm virus kiểu gen 4 được xem là khó điều trị hơn và những dữ liệu nghiên cứu còn hạn chế (n=66) cho thấy thời gian điều trị đối với kiểu gen 1 có thể áp dụng phù hợp cho những bệnh nhân này.
Đồng nhiễm HIV/HCV:
Thời gian điều trị đề nghị cho bệnh nhân đồng nhiễm HCV/HIV là 48 tuần, không kể kiểu gen.
Tái điều trị khi thất bại điều trị trước đó (Bệnh nhân tái phát và không đáp ứng điều trị):
Tất cả bệnh nhân tái phát và bệnh nhân không đáp ứng điều trị, không kể kiểu gen, thể hiện HCV RNA huyết thanh không phát hiện được vào tuần thứ 12 thì nên điều trị trong 48 tuần. Những bệnh nhân tái điều trị mà không đạt được đáp ứng virus tại tuần điều trị thứ 12 thì khó có đáp ứng kéo dài.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn cảm với hoạt chất và với các thành phần của chế phẩm.
Quá mẫn cảm với mọi interferon.
Viêm gan tự miễn hoặc có tiền sử bệnh tự miễn.
Bệnh tâm thần nghiêm trọng hoặc có tiền sử rối loạn tâm thần nghiêm trọng.
Bất thường về tuyến giáp, chức năng giáp trạng không giữ được ở mức bình thường khi dùng thuốc.
Bệnh gan mất bù.
4.4 Thận trọng:
Tim mạch: Cũng như với interferon alpha-2b, cần theo dõi cẩn thận khi dùng Peginterferon Alfa-2B cho bệnh nhân có tiền sử bệnh tim sung huyết, nhồi máu cơ tim, và/hoặc đang hoặc đã có rối loại nhịp tim. Bệnh nhân đã có bất thường về tim cần làm điện tâm đồ trước và trong quá trình dùng thuốc. Loạn nhịp tim (chủ yếu trên tâm thất) thường đáp ứng với điều trị quy ước, nhưng có thể phải ngừng dùng Peginterferon Alfa-2B.
Quá mẫn cảm cấp tính:
Những phản ứng quá mẫn với interferon alpha-2b (như mề đay, phù mạc, co phế quản, phản vệ) hiếm gặp khi điều trị bằng interferon alpha-2b. Nếu gặp phản ứng như vậy với Peginterferon Alfa-2B, phải ngừng thuốc và có ngay biên pháp điều trị thích hợp. Phát ban thoáng qua thì không phải ngừng thuốc.
Chức năng gan: Ngừng Peginterferon Alfa-2B ở bệnh nhân có dấu hiệu suy gan mất bù.
Sốt: Khi sốt kèm theo hội chứng bệnh huyết thanh, thường gặp khi dùng interferon, cần phải loại trừ các nguyên nhân khác của sốt dai dẳng.
Thay đổi thị giác: Rối loạn thị giác, bao gồm chảy máu võng mạc, đốm ở mắt, tắc nghẽn tĩnh mạch và động mạch võng mạc hiếm xảy ra sau khi dùng alpha-interferon. Bệnh nhân nào mà phàn nàn về độ sáng của mắt và giảm thị trường thì phải được khám nhãn khoa. Vì các hiện tượng về thị giác có thể xảy ra cùng các trạng thái bệnh khác, cần kiểm tra thị giác trước khi khởi đầu dùng Peginterferon Alfa-2B ở bệnh nhân tiểu đường hoặc tăng huyết áp.
Hệ thần kinh – tâm thần: Hiếm gặp khi dùng Peginterferon Alfa-2B: trầm cảm, ý tưởng tự vẫn và cố ý tự vẫn. Các tác dụng khác, biểu hiện bằng lú lẫn và các trạng thái tâm thần khác có thể gặp khi dùng alpha-interferon. Nếu bệnh nhân có gặp các vấn đề về tâm thần và thần kinh trung ương, bao gồm trầm cảm lâm sàng thì cần chăm sóc cẩn thận do tính nghiêm trọng của tác dụng ngoại ý này. Nếu triệu chứng còn tồn tại hoặc xấu đi, cần ngừng dùng Peginterferon Alfa-2B.
Các thay đổi khác:Do có gặp các cơn kịch phát của bệnh vảy nến khi dùng interferon alpha-2b, chỉ khuyến cáo dùng Peginterferon Alfa-2B ở người bệnh vảy nến khi lợi ích điều trị vượt hẳn nguy cơ.
Thử nghiệm trong labô: Với mọi bệnh nhân, trước và có định kỳ trong quá trình dùng Peginterferon Alfa-2B, cần tiến hành các thử nghiệm huyết học chuẩn, hoá sinh và chức năng giáp trạng. Những giá trị cơ bản chấp nhận được để làm chuẩn là: Tiểu cầu khoảng 100.000/mm3, bạch cầu trung tính khoảng 1.500/mm3, hormon kích thích giáp trạng (TSH) cần có mức trong giới hạn bình thường.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Với bệnh nhân bị mệt, buồn ngủ hoặc lú lẫn khi dùng Peginterferon Alfa-2B cần phải thận trọng khi lái xe và vận hành máy.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
Vì chưa có dữ liệu sử dụng Peginterferon Alfa-2B ở người mang thai, nên không dùng thuốc này khi mang thai.
Chỉ dùng Peginterferon Alfa-2B ở phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, khi đã có biện pháp ngừa thai hữu hiệu trong thời kỳ dùng thuốc.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa rõ các thành phần của thuốc có bài tiết qua sữa hay không. Vì vậy, cần quyết định hoặc mẹ ngừng thuốc, hoặc ngừng cho con bú, có cân nhắc đến tầm quan trọng của điều trị cho người mẹ.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Phần lớn các tác dụng ngoại ý là nhẹ hoặc trung bình và không cần hạn chế điều trị. Nhiều bệnh nhân thấy nhức đầu và đau cơ.
Những tác dụng có hại chung nhất (khoảng 10% số bệnh nhân) gồm viêm ở nơi tiêm, mệt mỏi, rét run, sốt, trầm cảm, đau khớp, buồn nôn, rụng tóc, đau cơ xương, kích thích, triệu chứng giống bệnh huyết thanh, mất ngủ, tiêu chảy, đau bụng, viêm họng, sụt cân, chán ăn, lo âu, thiếu tập trung tư tưởng, chóng mặt, phản ứng ở nơi tiêm.
Những tác dụng có hại cũng hay gặp (khoảng 2% số bệnh nhân) gồm ngứa, da khô, khó ở, tăng tiết mồ hôi, đau &FRAC14; trên bên phải, giảm bạch cầu trung tính, phát ban, nôn, khô miệng, dễ xúc cảm, kích động, khó thở, nhiễm virus, buồn ngủ, rối loạn giáp trạng, đau ngực, khó tiêu, đỏ mặt, dị cảm, ho, viêm xoang, tăng trương lực cơ, tăng cảm giác, nhìn mờ, lú lẫn, ợ hơi, giảm dục năng, ban đỏ, đau mắt, vô cảm, giảm cảm giác. Phân mềm, viêm kết mạc, mũi xung huyết, táo bón, chóng mặt, rong kinh, rối loạn kinh nguyệt. Khi dùng Peginterferon Alfa-2B, hiếm gặp ý tưởng tự vẫn và cố tình tự vẫn.
Giảm bạch cầu hạt (< 0,75 x 109/lít) gặp ở 4% và 7%, giảm tiểu cầu (< 70 x 109/lít) gặp ở 1% và 3% theo thứ tự ở người dùng 0,5 hoặc 1,0 microgram/kg thể trọng thuốc Peginterferon Alfa-2B.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Kết quả nghiên cứu về tương tác dược động học cho thấy với liều duy nhất thì Peginterferon Alfa-2B không có ảnh hưởng đến hoạt tính của cytochrom P450 (CYP) 1A2, CYP2C8/9, CYP2D6, CYP3A4 hoặc N-acetyl-transferase ở gan. Hơn nữa, Peginterferon Alfa-2B không có tác dụng trên độ thanh lọc của thận qua xét nghiệm creatinin/ huyết thanh sau 6 tháng điều trị. Vì vậy, Peginterferon Alfa-2B không có ảnh hưởng tới các cơ chế chuyển hoá và thanh lọc qua thận khi phối hợp với các thuốc khác. Cũng không thấy tương tác dược động học giữa Peginterferon Alfa-2B với ribavirin khi nghiên cứu dược động học với nhiều liều dùng.
4.9 Quá liều và xử trí:
Trong thử nghiệm lâm sàng, có gặp các trường hợp quá liều – không quá 2 lần liều thường dùng. Không có những phản ứng nghiêm trọng trong các trường hợp này. Các tác dụng ngoại ý sẽ qua khỏi khi tiếp tục dùng Peginterferon Alfa-2B.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Peginterferon alpha-2b là chất liên hợp đồng hoá trị của interferon alpha-2b tái tổ hợp với monomethoxy-polyethylen-glycol. Phân tử lượng trung bình của phân tử này là khoảng 31.300 dalton.
Interferon alpha-2b tái tổ hợp với một clôn của E.coli có chứa chấp một hybrid plasmid có gien chứa đựng một gien interferon alpha-2b từ bạch cầu của người.
Được đánh giá qua thử nghiệm liều tăng dần ở người khỏe mạnh bằng cách nhận xét sự thay đổi nhiệt độ ở miệng, các nồng độ của protein tác động, neopterin/ huyết thanh và 2′-5′ – oligoadenylat synthetase (2′ 5′ – OAS), số lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính. Người dùng Peginterferon Alfa-2B có thấy tăng thân nhiệt với liều thấp. Liều đơn Peginterferon Alfa-2B giữa 0,25-2,0 microgram/kg/tuần thấy nồng độ neopterin/ huyết thanh tăng theo liều. Sự giảm bạch cầu đa nhân ở cuối tuần thứ 4 phù hợp với liều của thuốc.
Cơ chế tác dụng:
Nghiên cứu in vitro và vivo cho thấy hoạt tính sinh học của peginterferon alpha-2b là do ở phần interferon alpha-2b.
Các interferon tác động lên tế bào nhờ gắn vào các thụ thể đặc hiệu ở màng trên bề mặt tế bào. Nghiên cứu với các interferon khác đã chứng tỏ có tính đặc hiệu về loài. Tuy nhiên, ở một số loài khỉ, như khỉ Rhesus, cũng nhạy cảm với kích thích dược lực học khi tiếp xúc với interferon của người tuýp I.
Khi đã gắn vào màng tế bào, interferon sẽ khởi động một chuỗi phức hợp các hiện tượng nội bào, gây cảm ứng một số enzym. Có thể quá trình này ít nhất một phần chịu trách nhiệm về các đáp ứng khác nhau của tế bào với interferon, bao gồm sự ức chế phân đôi của virus trong các tế bào nhiễm virus, ngăn chặn sự tăng sinh tế bào, các hoạt tính điều biến miễn dịch này làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào và làm tăng độc tính tế bào đặc hiệu của tế bào đối với tế bào đích. Mỗi một hoặc tất cả các đặc tính trên tạo nên tác dụng điều trị của interferon. Intron A (interferon alpha-2b) còn ức chế sự phân đôi của virus in vitro và in vivo. Mặc dầu cơ chế tác dụng chính xác kháng virus của Intron A còn chưa rõ, nhưng cũng thấy có huỷ hoại sự chuyển hoá của tế bào vật chủ. Tác dụng ức chế sự nhân đôi của virus hoặc nếu có nhân đôi, thì các virion tổ tiên cũng không vào được trong tế bào vật chủ.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Peginterferon alpha-2b là dẫn xuất của interferon alpha-2b cải tiến (pegylat) với polyethylen-glycol có tính đặc trưng cao và gồm ưu tiên các loài monopegylat. Thời gian bán thải trong huyết tương của Peginterferon alpha-2b kéo dài hơn so với T½ của interferon alpha-2b có hiệu lực khử pegylat để cho trở lại interferon alpha-2b tự do. Hoạt tính sinh học của các chất đồng phân pegylat là tương đương về chất lượng, nhưng hoạt tính yếu hơn so với interferon alpha-2b tự do.
Sau khi tiêm dưới da, thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết thanh là 15-44 giờ và giữ vững tới 48-72 giờ sau khi tiêm.
Cmax và AUC của Peginterferon alpha-2b tăng phụ thuộc liều lượng, thể tích phân phối (Vd) trung bình là 0,99 lít/kg.
Nếu dùng nhiều lần liên tiếp, sẽ có tích luỹ các interferon có phản ứng miễn dịch. Vì vậy, chỉ thấy tăng vừa phải hoạt tính sinh học khi thử nghiệm sinh học. Thời gian bán thải trung bình của Peginterferon alpha-2b khoảng 40 giờ, độ thanh lọc là 22,0 mL/giờ/kg. Chưa được rõ đầy đủ về cơ chế tham gia vào sự thanh lọc của interferon ở người. Tuy nhiên, sự đào thải qua thận có thể chỉ tham gia phần nhỏ (khoảng 30%) vào sự thanh lọc của Peginterferon alpha-2b.
Chức năng thận: Độ thanh lọc qua thận vào khoảng 30% độ thanh lọc toàn phần của Peginterferon alpha-2b. Với liều duy nhất (1,0 microgram/kg) ở bệnh nhân suy thận, thấy Cmax, AUC và thời gian bán thải tăng tỷ lệ thuận với độ nặng của suy thận.
Dựa theo những dữ liệu trên, không có thay đổi liều lượng dựa theo độ thanh lọc creatinin. Tuy nhiên, vì có thay đổi rõ ràng giữa các cá thể về động học của interferon, nên cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân khi dùng Peginterferon Alfa-2B (xem Liều lượng và Cách dùng).
Chức năng gan: Chưa đánh giá được động học chuyên biệt ở lứa tuổi này. Peginterferon Alfa-2B chỉ dùng điều trị viêm gan C ở lứa tuổi bằng hoặc quá 18 tuổi.
Các yếu tố trung hoà interferon: Thử nghiệm về yếu tố trung hoà interferon được tiến hành trên tập hợp huyết thanh của bệnh nhân đã dùng Peginterferon Alfa-2B trong thử nghiệm lâm sàng.
Các yếu tố trung hoà interferon là các kháng thể có khả năng trung hoà hiệu lực chống virus của interferon. Tỷ lệ lâm sàng của những yếu tố trung hoà ở bệnh nhân dùng Peginterferon Alfa-2B 0,5 microgram/kg là 1,1%.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
…
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản Peginterferon Alfa-2B ở nhiệt độ 2-8°C (tủ lạnh), nhưng không được để đông lạnh.
Sau khi pha chế, cần dùng ngay dung dịch đã pha hoặc nếu để tủ lạnh 2-8°C thì có thể dùng 24 giờ. Sau khi dùng, phải vứt bỏ phần còn dư thừa. Không dùng Peginterferon Alfa-2B khi bột đổi màu.
Độ ổn định của dung dịch đã pha: Độ ổn định về hoá và lý học thông dụng của dung dịch là được 24 giờ, nếu bảo quản ở 2-8°C. Về quan điểm vi sinh học, dung dịch đã pha phải được dùng ngay. Nếu chưa dùng ngay, thì điều kiện và thời gian bảo quản thông dụng là thuộc trách nhiệm của người dùng, nhưng thường là không được để kéo dài quá 24 giờ trong điều kiện nhiệt độ 2-8°C, trừ khi sự pha dung dịch là ở nơi có điều kiện vô khuẩn đáng tin cậy và được kiểm soát chặt chẽ.
6.4. Thông tin khác :
Chưa có thông tin.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
HDSD Thuốc Peg-intron.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM