Thuốc PEG-INTRON là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc PEG-INTRON (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Peginterferon Alfa-2B
Phân loại: Thuốc điều hòa miễn dịch.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L03AB10.
Brand name: PEG-INTRON.
Hãng sản xuất : Schering-Plough
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Bột pha tiêm 50 mcg : hộp 1 lọ,
Bột pha tiêm 80 mcg : hộp 1 lọ,
Bột pha tiêm 100 mcg : hộp 1 lọ,
Bột pha tiêm 120 mcg : hộp 1 lọ,
Bột pha tiêm 150 mcg : hộp 1 lọ
Thuốc tham khảo:
| PEG-INTRON 80 mcg/0.5ml | ||
| Mỗi lọ bột để pha dung dịch tiêm có chứa: | ||
| Peginterferon Alfa-2B | …………………………. | 80 mcg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
PEG-INTRON được chỉ định điều trị viêm gan mạn tính C và viêm gan mạn tính B.
Điều trị viêm gan C mạn tính được cho là tối ưu khi kết hợp PEG-INTRON với ribavirin. Khi dùng PEG-INTRON kết hợp với ribavirin, xin tham khảo thêm thông tin sản phẩm ribavirin.
Điều trị kết hợp PEG-INTRON với ribavirin được chỉ định cho những bệnh nhân viêm gan C mạn tính chưa điều trị, tái phát và không đáp ứng với điều trị, những bệnh nhân này có các men transaminase ở mức bình thường hoặc tăng với gan còn bù, kể cả những người có bằng chứng mô học xơ gan (Child-Pugh nhóm A), và những người có HCV-RNA hoặc kháng HCV huyết thanh dương tính. Phác đồ kết hợp này cũng được chỉ định cho bệnh nhân viêm gan C mạn tính đồng nhiễm HIV ổn định trên lâm sàng.
Bệnh nhân phải trên 18 tuổi và bệnh lý gan còn bù.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Chỉ pha PegIntron với dung môi được cung cấp và không được pha trộn với các thuốc khác (xem Chuẩn bị và sử dụng). PegIntron được phân phối dạng bột Peginterferon alpha-2b với hàm lượng 50-80-100-120-150 microgram để tiêm một lần. Mỗi lọ bột cần pha với 0,7 ml nước cất vô khuẩn để tiêm; sau khi pha thì tiêm tới 0,5 ml dung dịch. Dung dịch đã pha sẽ có nồng độ là 100-160-200-240-300 microgram/ml.
Cũng như mọi sản phẩm để tiêm, hãy nhận xét bằng mắt dung dịch trước khi tiêm. Không được tiêm, nếu dung dịch đổi màu. Phần tiêm không hết mà còn thừa, phải vứt bỏ.
Dùng ống tiêm và kim tiêm vô khuẩn, cho thêm 0,7 ml nước cất vô khuẩn vào lọ bột PegIntron. Lắc nhẹ nhàng đến khi bột thuốc tan hoàn toàn. Rút liều thích hợp khỏi lọ bằng ống tiêm kim tiêm vô khuẩn và tiêm dưới da bệnh nhân.
Độ ổn định của dung dịch đã pha: Độ ổn định về hóa và lý học thông dụng của dung dịch là được 24 giờ, nếu bảo quản ở 2-8°C. Về quan điểm vi sinh học, dung dịch đã pha phải được dùng ngay. Nếu chưa dùng ngay, thì điều kiện và thời gian bảo quản thông dụng là thuộc trách nhiệm của người dùng, nhưng thường là không được để kéo dài quá 24 giờ trong điều kiện nhiệt độ 2-8°C.
Liều dùng:
Viêm gan B mạn tính:
PegIntron tiêm dưới da với liều 1,0 đến 1,5 mcg/kg x 1 lần/tuần, ít nhất là 24 tuần và tối đa 52 tuần. Nên chọn liều dựa trên dự đoán về hiệu lực và tính an toàn. Những bệnh nhân kiểu gen C và D khó điều trị có thể hiệu quả hơn khi sử dụng liều ở giới hạn cao và thời gian điều trị ở giới hạn dài. Chỉ những bác sĩ có kinh nghiệm điều trị viêm gan B mới nên sử dụng và giám sát điều trị với PegIntron.
Khi bệnh nhân tự tiêm thuốc thì nên khuyên bệnh nhân thay đổi vị trí tiêm cho mỗi lần tiêm.
Viêm gan C mạn tính:
Đơn trị liệu:
Liều đề nghị là 0,5 hoặc 1,0 mcg/kg x 1 lần/tuần tiêm dưới da ít nhất trong 6 tháng. Nên lựa chọn liều dựa trên dự đoán về hiệu lực và tính an toàn. Chỉ những bác sĩ có kinh nghiệm điều trị viêm gan C mới nên sử dụng và giám sát điều trị với PegIntron. Ở những bệnh nhân mất HCV-RNA sau 6 tháng điều trị thì nên điều trị thêm 6 tháng nữa (tổng thời gian điều trị là 1 năm). Ở những bệnh nhân biểu hiện đáp ứng virus tại tuần 12, nên điều trị tiếp trong 9 tháng nữa (tổng thời gian điều trị là 1 năm).
Khi bệnh nhân tự tiêm thuốc thì nên khuyên bệnh nhân thay đổi vị trí cho mỗi lần tiêm.
Nên ngừng điều trị PegIntron ở những bệnh nhân không mất HCV-RNA sau 6 tháng điều trị.
Chưa nghiên cứu đơn trị liệu PegIntron ở bệnh nhân đồng nhiễm HCV/HIV.
* Điều trị kết hợp PegIntron với ribavirin:
PegIntron tiêm dưới da 1,5 mcg/kg/tuần kết hợp với viên nang ribavirin.
Liều ribavirin sử dụng trong điều trị kết hợp với PegIntron dựa trên thể trọng (Bảng A). Viên nang ribavirin dùng 2 lần mỗi ngày, uống cùng với thức ăn (buổi sáng và buổi chiều).

Để có thể tính chính xác liều sử dụng, đã xây dựng liều PegIntron đơn giản hóa dựa trên kinh nghiệm trong các thử nghiệm lâm sàng (xem Bảng B). Bảng này sắp xếp liều PegIntron đã đơn giản hóa theo các nhóm thể trọng và liên hệ liều với dạng trình bày có hàm lượng phù hợp nhất. Liều viên nang ribavirin cũng được hợp nhất.
PegIntron tiêm dưới da 1 lần/tuần. Viên nang ribavirin được uống 2 lần/ngày, cùng với thức ăn (buổi sáng và buổi chiều).

Thời gian điều trị:
Bệnh nhân chưa được điều trị:
Nên cân nhắc ngừng điều trị kết hợp PEG-INTRON sau 12 đến 24 tuần điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng virus sớm, được xác định bằng HCV RNA không xác định được hoặc ít nhất số lượng virus giảm 2 log10 so với ban đầu ở tuần điều trị thứ 12.
Những bệnh nhân nhiễm virus kiểu gen 1 nếu không đạt được đáp ứng virus vào tuần điều trị thứ 12 thì rất ít khả năng có đáp ứng virus kéo dài.
Kiểu gen 1: Đối với bệnh nhân thể hiện đáp ứng virus vào tuần điều trị thứ 12, nên tiếp tục điều trị thêm 9 tháng (tổng thời gian điều trị 48 tuần). Ở nhóm bệnh nhân nhiễm virus kiểu gen 1 với lượng virus thấp (< 2.000.000 bản sao/ml) mà HCV RNA âm tính tại tuần điều trị thứ 4 và duy trì HCV RNA âm tính đến tuần 24 thì nên hoặc ngừng điều trị tại tuần 24 hoặc tiếp tục điều trị thêm 24 tuần (tổng thời gian điều trị là 48 tuần). Tuy nhiên, nếu điều trị trong 24 tuần thì nguy cơ tái phát sẽ cao hơn khi điều trị trong 48 tuần.
Kiểu gen 2 hoặc 3: Tất cả bệnh nhân đều được khuyến cáo điều trị 24 tuần, ngoại trừ bệnh nhân đồng nhiễm HCV/HIV nên được điều trị 48 tuần.
Kiểu gen 4: Nói chung, bệnh nhân nhiễm virus kiểu gen 4 được xem là khó điều trị hơn và những dữ liệu nghiên cứu còn hạn chế (n=66) cho thấy thời gian điều trị đối với kiểu gen 1 có thể áp dụng phù hợp cho những bệnh nhân này.
Đồng nhiễm HIV/HCV:
Thời gian điều trị đề nghị cho bệnh nhân đồng nhiễm HCV/HIV là 48 tuần, không kể kiểu gen.
Tái điều trị khi thất bại điều trị trước đó (Bệnh nhân tái phát và không đáp ứng điều trị):
Tất cả bệnh nhân tái phát và bệnh nhân không đáp ứng điều trị, không kể kiểu gen, thể hiện HCV RNA huyết thanh không phát hiện được vào tuần thứ 12 thì nên điều trị trong 48 tuần. Những bệnh nhân tái điều trị mà không đạt được đáp ứng virus tại tuần điều trị thứ 12 thì khó có đáp ứng kéo dài.
Điều chỉnh liều:
Nếu xuất hiện các phản ứng bất lợi nghiêm trọng hoặc bất thường xét nghiệm trong thời gian điều trị PegIntron hoặc PegIntron kết hợp với ribavirin thì nên chỉnh liều mỗi loại thuốc cho phù hợp cho đến khi không còn các phản ứng bất lợi.
Đối với đơn trị liệu PegIntron, cần giảm nửa liều, nếu số lượng bạch cầu trung tính < 0,75 x 109/lít, hoặc tiểu cầu < 50 x 109/lít. Phải ngừng thuốc, nếu bạch cầu trung tính < 0,50 x 109/lít hoặc tiểu cầu < 25 x 109/lít.
Giảm liều trong điều trị kết hợp PegIntron/Ribavirin nên chia thành 2 bước từ liều khởi đầu cơ bản 1,5 mcg/kg/tuần giảm xuống 1 mcg/kg/tuần, sau đó xuống 0,5 mcg/kg/tuần, nếu cần.
Hướng dẫn chỉnh liều được xây dựng từ các thử nghiệm lâm sàng cho việc điều chỉnh liều dựa trên giá trị xét nghiệm (xem Hướng dẫn điều chỉnh liều Bảng C cho PegIntron/Ribavirin).

Liệu trình giảm liều đơn giản: Có thể sử dụng cách giảm liều đơn giản cho bệnh nhân bằng cách sử dụng dạng trình bày khác (hàm lượng thấp hơn) hoặc sử dụng thể tích ít hơn.
Sử dụng trong suy thận:
* Đơn trị liệu: Nên giảm 25% liều khởi đầu PegIntron cho những bệnh nhân viêm gan C mạn tính suy thận trung bình (thanh thải creatinine 30-50ml/phút). Nên giảm 50% liều khởi đầu PegIntron cho những bệnh nhân suy thận nặng (thanh thải creatinine 10-29ml/phút), kể cả bệnh nhân thẩm phân máu. Nên ngừng điều trị PegIntron nếu chức năng thận giảm trong thời gian điều trị.
* Điều trị kết hợp: Không điều trị kết hợp PegIntron với ribavirin cho bệnh nhân có thanh thải creatinine < 50ml/phút (xem Chống chỉ định). Nên theo dõi chặt biểu hiện thiếu máu ở những bệnh nhân suy thận và/hoặc bệnh nhân > 50 tuổi khi dùng PegIntron kết hợp với Rebetol.
Nên đánh giá chức năng thận cho tất cả bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị với PegIntron. Nên giám sát chặt chẽ bệnh nhân suy thận trung bình và giảm liều PegIntron theo bệnh cảnh lâm sàng. Ngừng dùng PegIntron nếu creatinine huyết thanh tăng > 2mg/dl (xem Bảng C và Thận trọng).Sử dụng trong suy gan:
Chưa đánh giá hiệu lực và tính an toàn của PegIntron ở bệnh nhân suy gan nặng, do đó, không được dùng PegIntron cho những bệnh nhân này.
Bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi):
Dường như tuổi tác không tác động đáng kể lên dược động học của peginterferon alpha-2b. Tuy nhiên, cũng như các bệnh nhân trẻ tuổi hơn, phải kiểm tra chức năng thận trước khi bắt đầu điều trị với PegIntron.
Sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi:
Chưa đánh giá tính an toàn và hiệu lực của PegIntron ở những bệnh nhân này. Không nên dùng PegIntron cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi (xem Chỉ định và sử dụng).
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ interferon nào hoặc với bất kỳ tá dược nào.
Phụ nữ có thai. Không nên điều trị kết hợp PegIntron với ribavirin cho đến khi có kết quả thử thai âm tính được tiến hành ngay trước khi điều trị.
Không được dùng PegIntron kết hợp với ribavirin ở nam giới có bạn tình đang mang thai.
Viêm gan tự miễn hoặc tiền sử có bệnh lý tự miễn.
Bệnh gan mất bù.
Sử dụng kết hợp với ribavirin khi bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinine < 50ml/phút.
4.4 Thận trọng:
Hệ thần kinh trung ương và tâm thần: Bệnh nhân đang có hoặc tiền sử có các bệnh tâm thần nặng: Nếu cần điều trị kết hợp PegIntron ở bệnh nhân người lớn đang có hoặc tiền sử có bệnh tâm thần nặng, chỉ tiến hành điều trị sau khi bảo đảm chẩn đoán và điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân có bệnh lý tâm thần.
Nếu có những tác động thần kinh-tâm thần nặng, đặc biệt là trầm cảm, phải ngừng điều trị kết hợp PegIntron. Đã quan sát thấy những tác động nghiêm trọng lên hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là trầm cảm ở những bệnh nhân điều trị với PegIntron và đã quan sát thấy ý tưởng tự tử, tự tử hoặc cố gắng tự tử ở một vài bệnh nhân trong thời gian điều trị kết hợp PegIntron. Cũng quan sát thấy các tác động khác lên hệ thần kinh trung ương bao gồm hành vi hung hăng, đôi khi tấn công người khác, loạn tâm thần bao gồm ảo giác, lẫn lộn và thay đổi trạng thái tinh thần. Những tác dụng bất lợi này xảy ra ở bệnh nhân người lớn dùng liều khuyến cáo cũng như ở người dùng alfa interferon liều cao hơn. Mất cảm giác đau và hôn mê nhiều hơn, kể cả trường hợp có bệnh lý não, được ghi nhận ở một số bệnh nhân, thường là người cao tuổi, điều trị interferon alfa liều cao. Mặc dù những ảnh hưởng này thường hồi phục, nhưng phải mất 3 tuần mới hồi phục hoàn toàn ở một vài bệnh nhân. Rất hiếm xuất hiện cơn động kinh khi dùng alfa interferon liều cao.
Nếu bệnh nhân xuất hiện những vấn đề về tâm thần hoặc hệ thần kinh trung ương, kể cả trầm cảm trên lâm sàng, bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ bởi thầy thuốc kê đơn trong suốt thời gian điều trị và trong 6 tháng theo dõi sau điều trị. Nếu những triệu chứng trên xuất hiện, thầy thuốc phải lưu ý khả năng các tác dụng ngoại ý này trở nên nặng hơn. Nếu các triệu chứng tâm thần tồn tại dai dẳng hoặc tiến triển xấu, hoặc bệnh nhân có ý tưởng tự tử hoặc hành vi hung hăng đối với người khác, nên ngừng điều trị kết hợp PegIntron và phải dùng thuốc điều trị bệnh tâm thần cho phù hợp.
Hệ tim mạch: Cũng như interferon alpha, cần theo dõi bệnh nhân chặt chẽ khi điều trị bằng PegIntron cho người có tiền sử suy tim sung huyết, nhồi máu cơ tim và/hoặc đã hoặc đang có rối loạn nhịp tim. Bệnh nhân đã có bệnh lý tim được khuyến cáo làm điện tâm đồ trước và trong khi điều trị. Rối loạn nhịp tim (chủ yếu loạn nhịp trên thất) thường đáp ứng với điều trị thông thường nhưng có thể phải ngừng dùng PegIntron.
Quá mẫn cấp tính: Những phản ứng quá mẫn cấp tính (như mày đay, phù mạch, co thắt phế quản, phản ứng phản vệ) hiếm xảy ra khi điều trị với interferon alfa-2b. Nếu xuất hiện một phản ứng quá mẫn trong khi dùng PegIntron, phải ngừng thuốc và áp dụng ngay các biện pháp y tế phù hợp. Không cần ngừng điều trị khi phát ban thoáng qua.
Chức năng gan:Cũng như điều trị với bất kỳ interferon nào, phải ngừng điều trị PegIntron ở bệnh nhân biểu hiện kéo dài yếu tố đông máu, điều đó chứng tỏ gan có thể mất bù.
Thải mô ghép gan/thận: Chưa có nghiên cứu về tính an toàn và hiệu lực của PegIntron đơn trị liệu hoặc kết hợp với ribavirin trong điều trị viêm gan C ở người được ghép gan hoặc các tạng khác. Dữ liệu sơ bộ cho thấy điều trị bằng interferon alfa có thể liên quan đến tăng tỷ lệ thải ghép thận. Cũng ghi nhận thải ghép gan nhưng chưa xác định được mối liên quan với điều trị bằng interferon alfa.
Sốt: Do sốt có liên quan với hội chứng giả cúm thường gặp khi điều trị bằng interferon, nên phải loại trừ các nguyên nhân khác gây sốt dai dẳng.
Bù nước: Nên duy trì bù nước đầy đủ cho bệnh nhân đang dùng PegIntron do tình trạng giảm huyết áp liên quan đến mất nước đã được ghi nhận ở một số bệnh nhân điều trị bằng các interferon alfa. Việc bù nước có thể rất cần thiết.
Thay đổi ở phổi:Hiếm thấy thâm nhiễm phổi, viêm phổi khu trú, và viêm phổi, đôi khi gây tử vong ở bệnh nhân dùng interferon alfa. Bất kỳ bệnh nhân nào xuất hiện sốt, ho, khó thở hoặc các triệu chứng hô hấp khác phải được chụp X quang lồng ngực. Nếu X quang lồng ngực cho thấy thâm nhiễm phổi hoặc có bằng chứng suy chức năng phổi, nên theo dõi bệnh nhân chặt chẽ và ngừng PegIntron nếu cần. Ngừng điều trị nhanh chóng và sử dụng corticosteroid có thể giải quyết được những tác dụng bất lợi ở phổi.
Bệnh tự miễn:Sự phát triển các kháng thể tự miễn đã được báo cáo khi điều trị với các interferon alfa. Biểu hiện lâm sàng của bệnh tự miễn khi điều trị bằng interferon có thể thường xảy ra hơn ở bệnh nhân có cơ địa phát triển bệnh lý tự miễn.
Thay đổi mắt:Các rối loạn ở mắt, bao gồm xuất huyết võng mạc, đốm bông trắng ở võng mạc và tắc nghẽn động mạch hoặc tĩnh mạch võng mạc hiếm xảy ra sau khi điều trị bằng interferon alfa (xem Tác dụng ngoại ý). Nên khám mắt cho tất cả bệnh nhân trước khi điều trị. Nếu bệnh nhân than phiền có các triệu chứng ở mắt, gồm mất thị lực hoặc thị trường, phải nhanh chóng khám mắt toàn diện. Do những triệu chứng này có thể xảy ra cùng với những bệnh lý khác, nên khuyến cáo khám mắt định kỳ khi điều trị với PegIntron ở những bệnh nhân có các rối loạn gây bệnh lý võng mạc như bệnh đái tháo đường hoặc tăng huyết áp. Nên cân nhắc ngừng điều trị PegIntron ở bệnh nhân xuất hiện rối loạn mới hoặc các rối loạn ở mắt tiến triển xấu đi.
Thay đổi tuyến giáp:Hiếm có bất thường tuyến giáp như nhược giáp hoặc cường giáp ở những bệnh nhân điều trị viêm gan C mạn tính bằng interferon alfa. Nên đo nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH) nếu bệnh nhân có các triệu chứng giống như rối loạn chức năng tuyến giáp trong thời gian điều trị. Có thể tiếp tục dùng Peg-Intron khi có rối loạn chức năng tuyến giáp nhưng vẫn duy trì nồng độ TSH ở giới hạn bình thường bằng cách dùng thuốc.
Rối loạn răng và mô quanh răng:Đã có báo cáo về rối loạn răng và mô quanh răng ở bệnh nhân viêm gan điều trị phối hợp ribavirin với peginterferon. Hơn nữa, khô miệng cũng có thể làm tổn thương răng và niêm mạc miệng khi điều trị kéo dài Rebetol kết hợp với peg-interferon alfa-2b. Bệnh nhân nên đánh răng kỹ 2 lần/ngày và khám răng định kỳ. Hơn nữa, một vài bệnh nhân có thể bị nôn, khi đó nên khuyên bệnh nhân súc sạch miệng.
Rối loạn chuyển hóa:Cũng ghi nhận tăng triglycerid máu và tăng triglycerid máu đợt kịch phát đôi khi nặng, do đó nên theo dõi lipid máu.
Đồng nhiễm HCV/HIV:Đối với bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HCV, chỉ có ít dữ liệu về hiệu lực và tính an toàn (N = 25) ở bệnh nhân có lượng CD4 dưới 200 tế bào/mcl; do đó, cần thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân có lượng CD4 thấp.
Xin tham khảo thông tin sản phẩm của từng loại thuốc kháng retrovirus khi dùng cùng lúc với trị liệu HCV để hiểu rõ và quản lý các độc tính đặc thù của từng loại thuốc và khả năng trùng lặp độc tính khi điều trị kết hợp PegIntron với ribavirin.
Rối loạn khác:Do có báo cáo dùng interferon alfa làm nặng thêm bệnh vẩy nến và bệnh sarcoid đã có sẵn, nên chỉ dùng PegIntron ở bệnh nhân có bệnh vẩy nến hoặc bệnh sarcoid khi lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ có thể xảy ra.
Xét nghiệm:Phải thực hiện các xét nghiệm chuẩn về huyết học, sinh hóa máu và chức năng tuyến giáp cho tất cả bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị. Các giá trị ban đầu được chấp thuận là giá trị hướng dẫn trước khi khởi đầu trị liệu PegIntron là: Tiểu cầu ≥ 100.000/mm3, bạch cầu trung tính ≥ 1.500/mm3, nồng độ TSH phải trong giới hạn bình thường.
Ở bệnh nhân viêm gan:Xét nghiệm vào tuần điều trị thứ 2 và thứ 4, sau đó định kỳ theo bệnh cảnh lâm sàng.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc:Những bệnh nhân xuất hiện mệt mỏi, buồn ngủ hoặc lú lẫn trong thời gian điều trị với PegIntron thì nên thận trọng tránh lái xe hoặc vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
Đơn trị liệu cho bệnh nhân viêm gan:
Đã chứng minh interferon alfa-2b gây sẩy thai trên động vật linh trưởng. Do chưa có dữ liệu về việc sử dụng PegIntron cho phụ nữ có thai do đó không nên dùng PegIntron trong khi mang thai.
Chỉ đề nghị dùng PegIntron ở phụ nữ có khả năng sinh sản khi đang áp dụng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong thời gian điều trị.
Vẫn chưa biết liệu các thành phần của thuốc có được tiết vào sữa mẹ hay không. Do đó, nên quyết định hoặc ngừng thuốc hoặc ngừng cho con bú, phải tính đến tầm quan trọng của thuốc đối với mẹ.
Điều trị kết hợp cho bệnh nhân viêm gan:
Không nên dùng PegIntron kết hợp với ribavirin cho phụ nữ có thai.
Đã ghi nhận khả năng quái thai và/hoặc hư thai đáng kể đối với ribavirin ở mọi loài động vật thử nghiệm trong các nghiên cứu được tiến hành chuẩn mực với liều thấp bằng 1/20 liều đề nghị ở người. Đã ghi nhận dị dạng sọ, vòm miệng, mắt, xương hàm, chân tay, xương và đường tiêu hóa. Tỷ lệ và mức độ nặng của quái thai tăng lên khi tăng liều ribavirin. Giảm khả năng sống sót của thai và con vật mới sinh.
Bệnh nhân nữ: Không được dùng viên nang ribavirin cho phụ nữ đang có thai (xem Chống chỉ định) Bệnh nhân nữ phải đặc biệt chú ý tránh có thai trong khi điều trị. Không nên bắt đầu điều trị với viên nang ribavirin cho đến khi có kết quả thử thai âm tính được tiến hành ngay trước khi bắt đầu điều trị. Phụ nữ có khả năng sinh sản cùng bạn tình của họ phải dùng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong thời gian điều trị và trong 6 tháng sau điều trị; trong thời gian này phải thử thai thường qui mỗi tháng. Nếu có thai trong lúc điều trị hoặc trong 6 tháng theo dõi sau điều trị, phải báo cho bệnh nhân biết về nguy cơ quái thai rất lớn do tác động của ribavirin lên thai nhi.
Bệnh nhân nam và bạn tình nữ: Phải đặc biệt chú ý tránh có thai cho bạn tình nữ khi bệnh nhân nam đang dùng ribavirin. Ribavirin tích lũy bên trong tế bào và được thải trừ khỏi cơ thể rất chậm. Trong các nghiên cứu ở động vật, ribavirin làm thay đổi tinh dịch ở liều thấp hơn liều điều trị. Hiện vẫn chưa biết rõ liệu sự hiện diện của ribavirin trong tinh dịch có gây những tác động quái thai đã biết khi thụ thai với trứng. Do đó, bệnh nhân nam và bạn tình nữ trong độ tuổi sinh sản phải được tư vấn về cách sử dụng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong thời gian điều trị với ribavirin và trong 6 tháng theo dõi sau điều trị. Chỉ khuyến cáo sử dụng PegIntron kết hợp với ribavirin cho phụ nữ có khả năng sinh sản khi đang áp dụng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong thời gian điều trị.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa biết liệu pegylated interferon alfa-2b kết hợp với ribavirin có được bài tiết vào sữa người mẹ hay không. Phải ngừng cho con bú trước khi bắt đầu điều trị do khả năng có các tác dụng bất lợi cho trẻ bú mẹ.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Đơn trị liệu PegIntron:
Phần lớn các tác dụng ngoại ý là nhẹ hoặc trung bình và không giới hạn điều trị. Đa số bệnh nhân báo cáo nhức đầu và đau cơ.
Những ảnh hưởng được báo cáo rất phổ biến (≥ 10% bệnh nhân) là đau/viêm tại chỗ tiêm, mệt mỏi, rét run, sốt, trầm cảm, đau khớp, buồn nôn, rụng tóc, đau cơ-xương, dễ bị kích thích, các triệu chứng giả cúm, mất ngủ, tiêu chảy, đau bụng, suy nhược, viêm họng, sụt cân, chán ăn, lo lâu, giảm tập trung, choáng váng, và phản ứng tại chỗ tiêm.
Những ảnh hưởng được báo cáo phổ biến (≥ 2% bệnh nhân) là ngứa, khô da, khó chịu, tăng tiết mồ hôi, đau góc phần tư trên bên phải, giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu, thiếu máu, phát ban, nôn, khô miệng, dễ xúc động, bồn chồn, khó thở, nhiễm virus, buồn ngủ, rối loạn tuyến giáp, đau ngực, khó tiêu, bừng hỏa, dị cảm, ho, kích động, viêm xoang, tăng trương lực, tăng cảm giác, nhìn mờ, lú lẫn, đầy hơi, giảm ham muốn tình dục, ban đỏ, đau mắt, thờ ơ, giảm cảm giác, phân lỏng, viêm kết mạc, sung huyết mũi, táo bón, chóng mặt, rong kinh, rối loạn kinh nguyệt.
Trong thử nghiệm lâm sàng với Peg-Intron, những biểu hiện tâm thần nặng là không phổ biến; những biểu hiện tâm thần đe dọa tính mạng ít xuất hiện. Những biểu hiện nay bao gồm tự tử, cố gắng tự tử, có ý định tự tử, hành vi hung hăng, đôi khi tấn công người khác, và những rối loạn tâm thần kể cả ảo giác.
Giảm bạch cầu hạt (< 0,75 x 109/l) gặp ở 4% và 7%, và giảm tiểu cầu (< 70 x 109/l) gặp ở 1% và 3%, theo thứ tự ở bệnh nhân dùng PegIntron liều 0,5 hoặc 1,0 mcg/kg.
PegIntron kết hợp với ribavirin:
Ngoài những tác dụng bất lợi được báo cáo khi đơn trị liệu bằng PegIntron, những tác dụng bất lợi sau đây được báo cáo khi điều trị kết hợp PegIntron với ribavirin:
Tác dụng bất lợi được báo cáo với tỷ lệ 5%-10%: nhanh nhịp tim, viêm mũi và loạn vị giác.
Tác dụng bất lợi được báo cáo với tỷ lệ 2%-5%: giảm huyết áp, ngất, tăng huyết áp, rối loạn tuyến lệ, run rẩy, chảy máu lợi, viêm lưỡi, viêm dạ dày, viêm loét dạ dày, giảm/mất thính lực, ù tai, đánh trống ngực, khát, hành vi hung hăng, nhiễm nấm, viêm tiền liệt tuyến, viêm tai giữa, viêm phế quản, rối loạn hô hấp, chảy mũi, chàm, bất thường kết cấu tóc, phản ứng nhạy cảm ánh sáng, và bệnh lý hạch bạch huyết.
Bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HCV:
Điều trị kết hợp PegIntron với ribavirin liên quan đến giảm lượng tế bào CD4+ tuyệt đối trong 4 tuần đầu điều trị mà không giảm tỷ lệ tế bào CD4+. Giảm lượng tế bào CD4+ có thể phục hồi khi giảm liều hoặc ngừng điều trị. Dùng PegIntron kết hợp với ribavirin không gây ảnh hưởng bất lợi nào lên sự kiểm soát lượng virus HIV trong máu trong giai đoạn điều trị hoặc theo dõi. Đã có dữ liệu về tính an toàn, mặc dù còn giới hạn (N= 25) ở những bệnh nhân đồng nhiễm HIV với lượng tế bào CD4+ < 200/mcl.
Đối với bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HCV dùng PegIntron kết hợp với ribavirin, những tác dụng ngoại ý khác được báo cáo trong nghiên cứu quy mô lớn hơn: giảm bạch cầu trung tính (26%), loạn dưỡng mỡ mắc phải (13%), giảm limphô bào CD4 (8%), giảm cảm giác ăn ngon (8%), tăng gamma glutamyltransferase (9%), đau lưng (5%), viêm mũi (5%), tăng amylase máu (6%), tăng acid lactic máu (5%), viêm gan phân hủy tế bào (6%), dị cảm (5%), tăng lipase (6%).
Giá trị xét nghiệm ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HCV: Mặc dù độc tính về huyết học là giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu và thiếu máu thường gặp hơn ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HCV, nhưng có thể kiểm soát được đa số các tác dụng này bằng cách chỉnh liều và hiếm khi phải ngừng điều trị lâu dài. Một nghiên cứu có quy mô lớn hơn đã ghi nhận giảm số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối < 500 tế bào/mm3 ở 4% (8/194) bệnh nhân và giảm tiểu cầu < 50.000/mm3 ở 4% bệnh nhân (8/194) dùng PegIntron với ribavirin. Thiếu máu (hemoglobin < 9,4g/dl) được báo cáo ở 12% bệnh nhân (23/194) điều trị PegIntron với ribavirin.
Xin tham khảo thông tin sản phẩm của từng loại thuốc kháng retrovirus khi dùng cùng lúc với điều trị HCV để hiểu rõ và quản lý các độc tính đặc thù của từng loại thuốc và khả năng độc tính trùng lặp khi điều trị kết hợp PegIntron với ribavirin.
Bệnh nhân cao tuổi: 144 bệnh nhân ≥ 65 tuổi đã tham gia điều trị. Với ghi nhận ngoại lệ, tần xuất xuất hiện tác dụng bất lợi ở bệnh nhân ≥ 65 tuổi trong nhóm dùng PegIntron (n=64) không cao hơn so với bệnh nhân trẻ tuổi hơn dùng thuốc. Những bệnh nhân ≥ 65 tuổi dùng thuốc thường có tỷ lệ cao hơn (khác biệt > 5%) về alkaline phosphatase máu, loạn vị giác, đau cơ, loạn khứu giác và nôn. Ngược lại, những bệnh nhân dưới 65 tuổi thường ghi nhận rét run, đau đầu, ban tróc vảy và dị cảm.
Mọi bệnh nhân/Sau khi đưa thuốc ra thị trường: Những tác dụng bất lợi hiếm gặp khi dùng interferon alfa-2b gồm động kinh, viêm tụy, tăng triglycerid máu, loạn nhịp tim, tiểu đường và bệnh thần kinh ngoại vi.
Rất hiếm gặp thiếu máu bất sản hoặc chỉ bất sản hồng cầu khi dùng các alfa interferon, kể cả PegIntron, một mình hoặc kết hợp với ribavirin.
Những tác dụng bất lợi khác có thể xuất hiện khi đơn trị liệu PegIntron hoặc điều trị kết hợp PegIntron với ribavirin:
Hiếm có báo cáo rối loạn thị giác khi sử dụng các alpha interferon, bao gồm bệnh võng mạc (gồm phù hoàng điểm), xuất huyết võng mạc, tắc nghẽn động mạch hoặc tĩnh mạch võng mạc, các đốm trắng như bông trên võng mạc, mất thị lực hoặc thị trường, viêm thần kinh thị giác, và phù gai thị (xem Thận trọng).
Các tác dụng bất lợi về tim mạch, đặc biệt là loạn nhịp tim, hình như liên quan chủ yếu đến bệnh tim mạch đã có sẵn và điều trị bằng thuốc độc tim trước đó. Bệnh lý cơ tim có thể hồi phục khi ngừng điều trị với alfa interferon hiếm được báo cáo ở những bệnh nhân không có bằng chứng bệnh tim trước đó.
Sau khi lưu hành PegIntron trên thị trường, hiếm thấy báo cáo về globulin cơ niệu kịch phát, viêm cơ, suy thận và hư thận. Cũng hiếm thấy báo cáo thiếu máu cơ tim cục bộ, nhồi máu cơ tim, thiếu máu não cục bộ, xuất huyết não, bệnh lý não (xem Thận trọng), viêm ruột kết do loét và thiếu máu cục bộ, bệnh sarcoid hoặc đợt kịch phát bệnh sarcoid, ban đỏ đa hình, hội chứng Stevens Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc, và hoại tử chỗ tiêm.
Nhiều rối loạn khác nhau do tự miễn dịch và trung gian miễn dịch được báo cáo khi dùng các alpha interferon, gồm ban xuất huyết do giảm tiểu cầu chưa rõ nguyên nhân và ban xuất huyết do giảm tiểu cầu có huyết khối, bệnh khớp, lupus ban đỏ hệ thống, viêm mạch, hội chứng Vogt-Koyanagi-Harada.
Những trường hợp phản ứng quá mẫn cấp tính, kể cả phản vệ, mày đay, phù mạch đã được báo cáo.
Đã có báo cáo tình trạng suy nhược (bao gồm suy nhược, khó chịu, mệt mỏi), mất nước, liệt mặt, đau nửa đầu (migraine), nhiễm khuẩn, suy giáp, cường giáp và vảy nến.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Không ghi nhận tương tác dược động học khi dùng PegIntron với ribavirin trong một nghiên cứu dược động học đa liều.
Kết quả từ một nghiên cứu thăm dò đa liều nhằm đánh giá các cytochrome P450 ở bệnh nhân viêm gan C mạn tính dùng PegIntron một lần mỗi tuần (1,5 mcg/kg) trong 4 tuần không thấy thay đổi hoạt tính của CYP1A2, CYP3A4, hoặc N-acetyltransferase. Đã có sự gia tăng hoạt tính CYP2C8/9 và CYP2D6. Nên thận trọng khi dùng PegIntron cùng với các thuốc được chuyển hóa bởi CYP2C8/9 và CYP2D6, đặc biệt là các thuốc có chỉ số điều trị hẹp.
Đồng nhiễm HIV/HCV:
Các thuốc tương tự nucleoside: Ribavirin được chứng minh in vitro gây ức chế quá trình phosphoryl hóa của zidovudine và stavudine. Chưa biết rõ ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này. Tuy nhiên, những phát hiện in vitro này cho thấy khả năng có thể tăng lượng HIV trong huyết tương khi sử dụng đồng thời ribavirin với zidovudine hoặc stavudine. Do đó, nên theo dõi chặt chẽ lượng HIV RNA huyết tương ở bệnh nhân dùng ribavirin đồng thời với một trong hai loại thuốc trên. Phải xem xét lại việc sử dụng ribavirin đồng thời với các thuốc ức chế sao chép ngược (xem thông tin sản phẩm ribavirin) nếu lượng HIV RNA tăng.
Sử dụng các chất tương tự nucleoside một mình hoặc kết hợp với các nucleoside khác gây nhiễm toan lactic. Về phương diện dược lý in vitro ribavirin làm tăng các chất chuyển hóa theo con đường phosphoryl hóa của các nucleoside chứa purine. Tác động này có thể tạo nguy cơ nhiễm toan lactic gây ra bởi các chất tương tự nucleoside chứa purine (như didanosine hoặc abacavir). Không nên dùng ribavirin cùng lúc với didanosine. Đã có các báo cáo về độc tính ty lạp thể, cụ thể là nhiễm toan lactic và viêm tụy, đôi khi gây tử vong (xem thông tin sản phẩm ribavirin).
Bệnh nhân đồng nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và đang dùng phác đồ điều trị tích cực kháng retrovirus (HAART) có thể tăng nguy cơ nhiễm toan lactic. Nên thận trọng khi bổ sung thêm điều trị PegIntron và ribavirin vào phác đồ điều trị tích cực kháng retrovirus.
4.9 Quá liều và xử trí:
Đã ghi nhận dùng liều cao gấp 10,5 lần liều đề nghị ở bệnh nhân viêm gan. Liều tối đa hàng ngày ghi nhận là 1200 mcg/ngày, dùng trong một ngày. Nhìn chung những tác dụng bất lợi quan sát thấy trong các trường hợp quá liều PegIntron là phù hợp với hồ sơ an toàn đã biết của PegIntron; tuy nhiên mức độ nặng của những tác dụng bất lợi này tăng lên.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu đối với PegIntron; do đó nên điều trị triệu chứng và theo dõi bệnh nhân chặt chẽ trong những trường hợp quá liều. Người thầy thuốc nên liên hệ với trung tâm chống độc.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Những nghiên cứu in vitro và in vivo cho thấy hoạt tính sinh học của peginterferon alfa-2b xuất phát từ nhóm chức interferon alfa-2b.
Interferon tác động lên tế bào bằng cách gắn vào thụ thể màng đặc hiệu trên bề mặt tế bào. Những nghiên cứu với các interferon khác đã chứng tỏ tính đặc hiệu theo loài. Tuy nhiên, một số loài khỉ nào đó, như khỉ Rhesus, tỏ ra nhạy cảm với kích thích dược lực học khi tiếp xúc với các interferon type 1 của người.
Một khi đã gắn vào màng tế bào, interferon khởi phát một chuỗi hoạt động phức tạp trong tế bào, trong đó có sự cảm ứng những enzym nhất định. Các nhà nghiên cứu cho rằng quá trình này ít nhất phần nào chịu trách nhiệm cho những đáp ứng khác nhau của tế bào đối với interferon. Những đáp ứng này bao gồm ức chế sao chép của virus trong tế bào bị nhiễm virus, ngăn chặn tế bào tăng sinh và các hoạt động điều chỉnh miễn dịch (như tăng hoạt động thực bào của đại thực bào và tăng độc tính tế bào đặc hiệu của limpho bào đối với tế bào đích). Bất kỳ hoặc tất cả các hoạt động này có thể đóng góp vào hiệu lực điều trị của interferon.
Interferon alfa-2b tái tổ hợp cũng ức chế quá trình sao chép virus in vitro và in vivo. Mặc dù chưa biết chính xác cơ chế tác dụng kháng virus của interferon alfa-2b tái tổ hợp nhưng hình như chất này làm thay đổi chuyển hóa của tế bào vật chủ. Tác dụng này ức chế virus sao chép hoặc nếu có sao chép thì những tế bào virus mới tạo thành không thể rời khỏi tế bào vật chủ.
Dược lực
Peginterferon alfa-2b là chế phẩm kết hợp đồng hóa trị interferon alfa-2b tái tổ hợp với polyethylene glycol và có phân tử lượng trung bình xấp xỉ 31.300 dalton.
Những nghiên cứu in vitro và in vivo cho thấy hoạt tính sinh học của peginterferon alfa-2b xuất phát từ nhóm chức interferon alfa-2b.
Interferon alfa-2b tái tổ hợp được thu hoạch từ dòng E.coli đơn bào mang 1 đoạn plasmid lai ghép với 1 gen interferon alfa-2b từ bạch cầu của người theo kỹ thuật di truyền.
Dược lực học của peginterferon alfa-2b được đánh giá trong một thử nghiệm dùng liều đơn tăng dần ở những người khỏe mạnh bằng cách khảo sát những thay đổi về thân nhiệt đo ở miệng, nồng độ các protein phản ứng như neopterin huyết thanh cũng như số lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính. Những người được điều trị với peginterferon alfa-2b có tăng nhẹ thân nhiệt và nồng độ neopterin liên quan đến liều dùng, giảm lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính.
Hiệu lực lâm sàng:
Kết quả của một thử nghiệm lâm sàng lớn đa trung tâm, ngẫu nhiên, thử nghiệm lâm sàng pha III đã chứng minh tính hiệu lực và độ an toàn của PegIntron trong điều trị viêm gan C mạn tính. Mục tiêu của thử nghiệm này trên 1219 bệnh nhân là để đánh giá hiệu lực và độ an toàn điều trị kéo dài 48 tuần với 3 liều PegIntron (0,5-1,0-1,5 microgram/kg, mỗi tuần tiêm dưới da một lần) so với Intron A (3 triệu đơn vị, tiêm dưới da mỗi tuần 3 lần). Bệnh nhân thích hợp cho các thử nghiệm này là người bị viêm gan C mạn tính được xác định bởi xét nghiệm phản ứng chuỗi trùng hợp HCV-RNA dương tính (PCR) (> 100 copies/mL), sinh thiết gan phù hợp với chẩn đoán mô học bệnh gan mạn tính mà không có nguyên nhân nào khác về viêm gan mạn, đồng thời có ALT/huyết thanh bất thường. Thông số chính đánh giá hiệu lực điều trị của thuốc trong thử nghiệm lâm sàng, là hết HCV-RNA (< 100 copies/ml) (đánh giá virus) và ALT trở về bình thường (hóa sinh) 6 tháng sau khi điều trị kéo dài 1 năm. Qua đánh giá virus học, mọi liều của Peg-Intron trong thử nghiệm lâm sàng đều vượt trội có ý nghĩa so với Intron A (Bảng 1).

Chất lượng sống ít bị ảnh hưởng khi dùng liều 0,5 microgram/kg PegIntron hơn so với liều 1 microgram/kg mỗi tuần một lần hoặc so với 3 triệu IU của Intron-A mỗi tuần 3 lần.
Cơ chế tác dụng:
Nghiên cứu in vitro và vivo cho thấy hoạt tính sinh học của peginterferon alpha-2b là do ở phần interferon alpha-2b.
Các interferon tác động lên tế bào nhờ gắn vào các thụ thể đặc hiệu ở màng trên bề mặt tế bào. Nghiên cứu với các interferon khác đã chứng tỏ có tính đặc hiệu về loài. Tuy nhiên, ở một số loài khỉ, như khỉ Rhesus, cũng nhạy cảm với kích thích dược lực học khi tiếp xúc với interferon của người tuýp I.
Khi đã gắn vào màng tế bào, interferon sẽ khởi động một chuỗi phức hợp các hiện tượng nội bào, gây cảm ứng một số enzym. Có thể quá trình này ít nhất một phần chịu trách nhiệm về các đáp ứng khác nhau của tế bào với interferon, bao gồm sự ức chế phân đôi của virus trong các tế bào nhiễm virus, ngăn chặn sự tăng sinh tế bào, các hoạt tính điều biến miễn dịch này làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào và làm tăng độc tính tế bào đặc hiệu của tế bào đối với tế bào đích. Mỗi một hoặc tất cả các đặc tính trên tạo nên tác dụng điều trị của interferon. Intron A (interferon alpha-2b) còn ức chế sự phân đôi của virus in vitro và in vivo. Mặc dầu cơ chế tác dụng chính xác kháng virus của Intron A còn chưa rõ, nhưng cũng thấy có huỷ hoại sự chuyển hoá của tế bào vật chủ. Tác dụng ức chế sự nhân đôi của virus hoặc nếu có nhân đôi, thì các virion tổ tiên cũng không vào được trong tế bào vật chủ.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Peginterferon alfa-2b là dẫn xuất của interferon alfa-2b gắn với polyethylene glycol có tính chất xác định (gọi là “peg hóa”) và chủ yếu được tạo nên từ các đơn phân tử polyethylene glycol. Thời gian bán hủy của peginterferon alfa-2b trong huyết tương kéo dài hơn so với interferon alfa-2b không peg hóa. Sau khi tiêm dưới da, nồng độ thuốc tối đa trong huyết thanh xuất hiện 15-44 giờ sau khi dùng thuốc và duy trì đến 48-72 giờ sau khi dùng thuốc. Thể tích phân phối trung bình biểu kiến là 0,99 l/kg. Sẽ có sự tích lũy các interferon phản ứng miễn dịch sau nhiều liều sử dụng.
Thời gian bán thải trung bình (SD) của peginterferon alfa-2b khoảng 40 giờ (độ lệch chuẩn là 13,3 giờ), với hệ số thanh thải biểu kiến là 22,0 ml/giờ/kg. Những cơ chế tham gia vào sự thải trừ interferon ở người hoàn toàn chưa được sáng tỏ. Tuy nhiên, thanh thải qua thận có thể đóng vai trò nhỏ (30%) trong quá trình thanh thải peginterferon alfa-2b.
Những yếu tố trung hòa interferon: Xét nghiệm tìm yếu tố trung hòa interferon được thực hiện trên mẫu máu của bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng với peginterferon alfa-2b. Những yếu tố trung hòa interferon là các kháng thể có tác động trung hòa hoạt tính kháng virus của interferon. Tỉ suất các yếu tố trung hòa này trên lâm sàng ở bệnh nhân dùng peginterferon alfa-2b với liều 0,5 mcg/kg là 1,1% và với liều 1,5 mcg/kg là 2-3 %.
Nhóm dân số đặc biệt:
Chức năng thận: Bài tiết qua thận chiếm 30% toàn bộ quá trình thanh thải peginterferon alfa-2b. Trong một nghiên cứu dùng liều duy nhất (1,0 mcg/kg) ở bệnh nhân suy chức năng thận, Cmax, AUC, và thời gian bán hủy gia tăng theo mức độ suy thận (xem Chống chỉ định và Thận trọng).
Sau nhiều liều PegIntron (1 mcg/kg tiêm dưới da mỗi tuần trong 4 tuần), so với người có chức năng thận bình thường, quá trình thải trừ PegIntron đã giảm trung bình 17% ở những bệnh nhân suy thận trung bình (thanh thải creatinine 30-49 ml/phút) và 44% ở bệnh nhân suy thận nặng (thanh thải creatinine 10-29 ml/phút). Quá trình thanh thải là giống nhau ở những bệnh nhân suy thận nặng không thẩm phân và những bệnh nhân có thẩm phân máu. Nên giảm liều PegIntron đơn trị liệu ở bệnh nhân suy thận trung bình hoặc nặng (xem Liều lượng và cách dùng).
Chưa có dữ liệu về dược động học của PegIntron ở người suy thận với liều 3 đến 6 mcg/kg/tuần.
Chức năng gan:Chưa đánh giá dược động học của peginterferon alfa-2b ở bệnh nhân suy chức năng gan nặng. Do đó, không nên dùng Peg-Intron cho những bệnh nhân này.
Bệnh nhân cao tuổi ≥ 65 tuổi:Hình như tuổi tác không ảnh hưởng đáng kể đến dược động học của PegIntron. Tuy nhiên, cũng như bệnh nhân trẻ tuổi hơn, phải đánh giá chức năng thận trước khi dùng PegIntron.
Bệnh nhân dưới 18 tuổi:Chưa tiến hành đánh giá dược động học riêng biệt ở bệnh nhân dưới 18 tuổi. Chỉ được chỉ định PegIntron điều trị viêm gan C mạn tính cho bệnh nhân trên 18 tuổi.
Nghiên cứu tương tác thuốc với methadone: Dược động học của methadone dùng cùng lúc với PegIntron được đánh giá ở 18 bệnh nhân viêm gan C mạn tính chưa từng dùng peginterferon alfa-2b, và được tiêm dưới da PegIntron 1,5 mcg/kg/tuần. Tất cả bệnh nhân đang dùng methadone liều duy trì ổn định ≥ 40 mg/ngày trước khi bắt đầu dùng PegIntron. So với ban đầu, AUC trung bình của methadone cao hơn khoảng 16% sau 4 tuần dùng PegIntron.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
PegIntron được đóng gói trong lọ hoặc bút đóng sẵn với hàm lượng hoặc 50, 80 hoặc 100 mcg peginterferon alfa-2b, là chế phẩm kết hợp interferon alfa-2b tái tổ hợp với monomethoxy polyethylene glycol. Khi được pha với dung môi theo khuyến cáo, mỗi lọ hoặc bút thuốc chứa 0,5 ml PegIntron.
PegIntron cũng chứa dibasic sodium phosphate, monobasic sodium phosphate, sucrose và polysorbat 80. Dung môi được cung cấp để pha tiêm là nước pha tiêm vô khuẩn.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản PegIntron ở nhiệt độ 2-8°C (tủ lạnh), nhưng không được để đông lạnh.
Sau khi pha chế, cần dùng ngay dung dịch đã pha hoặc nếu để tủ lạnh 2-8°C thì có thể dùng 24 giờ. Sau khi dùng, phải vứt bỏ phần còn dư thừa. Không dùng PegIntron khi bột đổi màu.
6.4. Thông tin khác :
An toàn tiền lâm sàng
Peginterferon alfa-2b:
Những hiện tượng có hại không gặp trong thử nghiệm lâm sàng thì cũng không gặp khi nghiên cứu độc tính trên khỉ. Nhiều tác dụng rõ rệt trên khỉ, bao gồm giảm bạch cầu. Những nghiên cứu này chỉ kéo dài 4 tuần, vì có thấy xuất hiện kháng thể kháng interferon ở nhiều khỉ.
Chưa tiến hành nghiên cứu peginterferon alfa-2b trên sự sinh sản. Vì đã biết interferon alfa-2b gây sảy thai ở loài linh trưởng nên peginterferon alfa-2b cũng gây độc tính này. Chưa xác định được tác dụng trên sự thụ tinh. Peginterferon alfa-2b không độc với gen.
Nghiên cứu tiền lâm sàng về độc tính cấp và bán cấp trên khỉ và loài gặm nhấm, nghiên cứu chuẩn về sự phát triển phôi thai và thử nghiệm in vitro về biến dị đã chứng tỏ tính không gây độc của monomethoxy-polyethylen-glycol (mPEG), là một phần của phân tử peginterferon alfa-2b.
Peginterferon kết hợp với ribavirin:
Tính an toàn tiền lâm sàng: khi dùng kết hợp peginterferon alfa-2b với ribavirin không thấy gây ra thêm bất cứ ảnh hưởng nào so với khi chỉ dùng một mình các hoạt chất này. Ảnh hưởng chủ yếu có liên quan đến điều trị là có tính thuận nghịch, thiếu máu từ nhẹ đến vừa, nhưng mức độ có nặng hơn so với khi chỉ dùng một mình một trong các hoạt chất này.
An toàn lâm sàng:
Những đặc tính an toàn của PegIntron phù hợp với những đặc tính đã xác định với Intron A. Nói chung tỷ lệ và độ nghiêm trọng của những tác dụng có hại là tương đương giữa người dùng PegIntron 0,5 microgram/kg với người dùng Intron A 3 triệu đơn vị, mỗi tuần 3 lần. Cả hai chế độ điều trị đều ít tác dụng ngoại ý hơn khi dùng Peg-Intron với liều 1,0 và 1,5 microgram/kg.
Tỷ lệ và độ nghiêm trọng ở các nhóm dùng 2 liều cao PegIntron đều tương đương như nhau. Phần lớn các tác dụng có hại là từ nhẹ đến trung bình và không cần hạn chế điều trị. Độc tính tổng hợp cũng hạn chế, nếu kéo dài 6 tháng điều trị tới 1 năm. Trong phần lớn các trường hợp này, các sự thay đổi điều trị được bổ sung và bệnh nhân có khả năng hoàn thành đầy đủ liệu trình.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
HDSD Thuốc Peg-intron do Schering – Plough (Brinny) Co. sản xuất (2013).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM