Paclitaxel – Paclitaxel Bhardwaj/Paclitaxel Stragen

Thuốc Paclitaxel Bhardwaj , Paclitaxel Stragen là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Paclitaxel Bhardwaj , Paclitaxel Stragen (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Paclitaxel

Phân loại: Thuốc chống ung thư, thuộc nhóm taxan.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01CD01.

Biệt dược gốc: Anzatax

Biệt dược: Paclitaxel Bhardwaj , Paclitaxel Stragen

Hãng sản xuất : Haupt Pharma WolfratshausenGmbH

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm đậm đặc Paclitaxel Bhardwaj 6mg/ml là dung dịch vô trùng chứa 6mg/ml paclitaxel, dung dịch trong suốt cho tới vàng nhạt

Có các hàm lượng :

Paclitaxel 30mg/5ml

Paclitaxel 100mg/16.7ml

Paclitaxel 150mg/25ml

Paclitaxel 300mg/50ml

Thuốc tham khảo:

PACLITAXEL BHARDWAJ 6 mg/ml (Lọ 5ml)
Mỗi ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 6 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PACLITAXEL BHARDWAJ 6 mg/ml (Lọ 25ml)
Mỗi ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 6 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PACLITAXEL BHARDWAJ 6 mg/ml (Lọ 50ml)
Mỗi ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 6 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PACLITAXEL STRAGEN 6MG/ML
Mỗi ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 6 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Ung thư biểu mô buồng trứng:

Trị liệu đầu tay ung thư buồng trứng tiến xa hoặc bướu tồn lưu (> 1cm) sau phẫu thuật, dùng phối hợp với cisplatine.

Trong trị liệu thứ nhì, ung thư buồng trứng đã di căn, sau khi thất bại với phương pháp điều trị cổ điển bằng các dẫn xuất của platine.

Ung thư biểu mô vú:

Trong điều trị hỗ trợ ung thư giai đoạn sớm, có hạch dương tính, dùng liên tiếp sau phác đồ có chứa doxorubicine.

Trong điều trị ung thư vú di căn đã thất bại với điều trị chuẩn hoặc tái phát sau khi điều trị hỗ trợ.

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:

Paclitaxel dùng chung với cisplatine, được chỉ định đầu tay để điều trị bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, ở giai đoạn không thể phẫu thuật và/hoặc xạ trị được.

Ngoài ra, Paclitaxel còn dùng để điều trị Ung thư Kaposi có liên quan đến bệnh AIDS.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Pha dung dịch

Dung dịch đậm đặc Paclitaxel Bhardwaj 6mg/ml PHẢI ĐƯỢC PHA LOÃNG TRƯỚC KHI TIÊM TRUYÊN TĨNH MẠCH với dung dịch tiêm truyền Glucose 5% hay NaCl 0.9%.

Dung dịch sau khi pha loãng có nồng độ sau cùng từ 0.3-1.2mg/ml.

Chai đựng dung dịch sau khi pha loãng xoay vòng nhẹ để phân tán đều Paclitaxel. KHÔNG ĐƯỢC LĂC.

Tránh việc tiếp xúc dung dịch Paclitaxel với dụng cụ, dây truyền hay máy móc làm bằng nhựa PVC có chất làm dẻo trong khi pha chế dung dịch truyền. Pha chế và tồn trữ dung dịch paclitaxel đã pha loãng trong chai bằng thủy tinh. Sự thận trọng này để tránh chất DEHP (di-[2-ethylhexyl phthalate từ bao đựng hoặc bộ dây truyền PVC vào dung dịch tiêm.

Dung dịch Paclitaxel phải được truyền từ bộ dây truyền tráng polyethylen (như Gemini 20 giving set), dùng bơm IMED.

Mặc dù dung dịch tiêm truyền Paclitaxel pha chế như phác họa trên đây ổn định về mặt hóa học trong 48 giờ ở nhiệt độ phòng (25°C), dung dịch tiêm truyền phải được sử dụng ngay sau khi pha do không chứa chất kháng khuẩn. Việc truyền dịch phải được thực hiện trong vòng 24 giờ sau khi pha và loại bỏ phần không dùng đến, theo như cách hướng dẫn việc hủy các loại thuốc độc trên tế bào (xem phần thao tác và việc hủy bỏ).

Cách lọc:

Màng vị lọc (0.22 microns) hay nhỏ hơn được chỉ định dùng làm lớp bọc bên trong cho tất cả dung dịch tiêm truyền Paclitaxel. Bộ lọc IMED 0.2 microns làm bằng polysulfone và lọc IVEX II 0.2 microns làm bằng cellulose đều thích hợp với dung dịch tiêm đậm đặc Paclitaxel Bhardwaj 6mg/ml.

Thao tác và việc hủy bỏ

Phải tuân theo các hướng dẫn có liên quan đến qui trình thao tác thích hợp và việc hủy các thuốc độc trên tế bào.

Liều dùng:

Tất cả bệnh nhân phải được chuẩn bị dùng thuốc trước khi cho sử dụng paclitaxel để phòng ngừa các phản ứng quá mẫn cảm (xem phần cẩn trọng). Trước mỗi chu kỳ điều trị, bệnh nhân phải dùng các thuốc sau:

Dexamethason 20mg uống 12 giờ và 6 giờ trước khi bắt đầu tiêm truyền Paclitaxel.

Promethazin 25-50mg hay các chất kháng H1 thích hợp khác tiêm tĩnh mạch 30 phút trước khi bắt đầu tiêm truyền Paclitaxel..

Cimetidin 300mg hay ranitidin 50mg tiêm truyền tĩnh mạch trong hơn 15 phút, trước khi bắt đầu tiêm truyền Paclitaxel 30 phút.

Điều trị đầu tay ung thư biểu mô buồng trứng:

Trong khi một số phác đồ điều trị khác đang được đánh giá, phác đồ được khuyến cáo là phối hợp Paclitaxel 175mg/m2 IV/3 giờ, sau đó cisplatine 75mg/m2, mỗi 3 tuần, hoặc Paclitaxel 135mg/m2, trong 24 giờ, sau đó dùng cisplatine 75mg/m2, với khoảng cách là 3 tuần giữa 2 đợt điều trị.

Điều trị thứ nhì ung thư biểu mô buồng trứng và ung thư biểu mô vú :

Liều Paclitaxel được khuyến cáo là 175mg/m2 , trong 3 giờ, với khoảng cách là 3 tuần giữa 2 đợt điều trị. Sau lần dùng Paclitaxel đầu, các liều sau đó nên được điều chỉnh tùy theo mức độ dung nạp của từng bệnh nhân.

Điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:

Liều Paclitaxel được khuyến cáo là 175mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, sau đó cisplatine 80mg/m2, với khoảng cách là 3 tuần giữa hai đợt điều trị. Sau liều đầu tiên, phải điều chỉnh lại liều lượng tùy theo sự dung nạp của bệnh nhân

Điều trị KS liên quan đến AIDS:

Liều khuyến cáo của paclitaxel là 100 mg / m2 được tiêm tĩnh mạch 3 giờ một lần mỗi hai tuần.

Chỉ lặp lại đợt điều trị với Paclitaxel khi bệnh nhân có lượng bạch cầu trung tính tối thiểu là 1,5 x 10^9 tế bào/ L (1500 tế bào/ mm) và lượng tiểu cầu tối thiểu là 100 x 10^9 tế bào/ L (100.000 tế bào/ mm3).

Nếu xảy ra chúng giảm bạch cầu trung tính nghiêm trọng (lượng bạch cầu trung tính ít hơn 0,5 x 10^9 tế bào/ L trong 7 ngày hay hơn hay bệnh thần kinh ngoại biên nặng trong thời gian điều trị với Paclitaxel, phải giảm 20% liều Paclitaxel trong các đợt điều trị kế tiếp (xem phần chú ý đề phòng).

Bệnh nhân suy gan:

Không có đủ số liệu để khuyến cáo thay đổi liều ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình. Bệnh nhân suy gan nặng không được điều trị với paclitaxel

Dùng cho trẻ em:

Không nên dùng Paclitaxel cho trẻ dưới 18 tuổi do thiếu dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả.

4.3. Chống chỉ định:

Dung dịch tiêm đậm đặc Paclitaxel Bhardwaj 6mg/ml không được dùng cho những bệnh nhân được biết đã có phản ứng quá mẫn cảm với Paclitaxel.

Dung dịch tiêm đâm đặc Paclitaxel Bhardwai 6mg/ml không được dùng cho những bệnh nhân có tiền sử quá mẫn cảm với PEG 35 castor oil (Cremophor EL) hay các thuốc có thành phần PEG 35 castor oil (như dung dịch tiêm đậm đặc cyclosporin và dung dịch tiêm đậm đặc teniposit).

Dung dịch tiêm đậm đặc Paclitaxel Bhardwaj 6mg/ml chống chỉ định ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính trầm trọng (số lượng bạch cầu trung tính dưới 1.500/mm), bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng.

4.4 Thận trọng:

Việc điều trị bằng Paclitaxel phải do một bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm quyết định. Do có thể xảy ra phản ứng quá mẫn cảm nặng, cần phải trang bị những phương tiện cấp cứu thích hợp.

Bệnh nhân phải được cho dùng một thuốc thuộc nhóm corticoid, kháng histamine và đối kháng thụ thể H2 trước khi dùng Paclitaxel.

Paclitaxel phải được cho dùng trước cisplatine trong trường hợp dùng phối hợp.

Các phản ứng dị ứng nặng, được đặc trưng bằng chứng khó thở và tụt huyết áp đến mức cần phải được điếu trị, phù mạch và mề đay toàn thân, đã được ghi nhận trên 1% những bệnh nhân được điều trị bằng Paclitaxel mặc dầu trước đó đã có dùng những thuốc dự phòng (corticọde, kháng histamine và đối kháng thụ thể H2). Các phản ứng xảy ra có liên quan đến sự phóng thích histamine.

Trường hợp xảy ra phản ứng quá mẫn cảm nặng, cần phải ngưng truyền ngay, điều trị triệu chứng và không dùng trở lại Paclitaxel cho bệnh nhân này.

Chứng suy tủy (chủ yếu là giảm bạch cầu trung tính) là một độc tính của thuốc (giới hạn liều dùng). Cần phải thường xuyên kiểm tra công thức máu trong thời gian điều trị với Paclitaxel . Một đợt điều trị mới bằng Paclitaxel chỉ được thực hiện khi mà số lượng bạch cầu trung tính phải ≥ 1.500 /mm3 và số lượng tiểu cầu phải ≥ 100.000/mm3.

Các rối loạn nặng về dẫn truyền ở tim cũng đã được ghi nhận. Nếu có rối loạn dẫn truyền của tim trong thời gian dùng Paclitaxel , phải dùng một biện pháp điều trị thích hợp và theo dõi điện tim của bệnh nhân trong suốt thời gian điều trị bằng Paclitaxel . Có thể xảy ra hạ huyết áp, tăng huyết áp, chậm nhịp tim nhưng không biểu hiện bằng triệu chứng. Nên thường xuyên theo dõi các chức năng sinh tồn trong thời gian truyền Paclitaxel , nhất là trong giờ đầu tiên.

Mặc dầu các bệnh lý thần kinh ngoại biên là một trong những tác dụng ngoại ý thường xảy ra, nhưng chỉ ở mức độ nhẹ. Trường hợp có những triệu chứng nặng, nên giảm liều 20% cho những liều tiếp theo.

Ở những bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan nhẹ, không ghi nhận độc tính của Paclitaxel tăng lên khi truyền trong 3 giờ. Hiện không có tài liệu về dùng thuốc ở những bệnh nhân bị tắc mật nặng. Nếu thời gian truyền Paclitaxel lâu hơn, ở những bệnh nhân bị suy gan vừa hoặc nặng, có thể tăng nguy cơ suy tủy.

Không khuyến cáo dùng Paclitaxel ở những bệnh nhân bị suy gan nặng.

Do trong thành phần của Paclitaxel có chứa 396 mg ethanol tuyệt đối/ml, cũng nên lưu ý đến những tác dụng trên thần kinh trung ương có thể xảy ra.

Không dùng Paclitaxel bằng cách tiêm động mạch do đã ghi nhận có những phản ứng nặng trên mô trong những thử nghiệm trên động vật về khả năng dung nạp tại chỗ.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Bản thân Paclitaxel không gây ảnh hưởng đến sự tập trung khi lái xe hay thao tác máy.

Tuy nhiên, do thuốc có chứa alcool nên phải thận trọng không nên lái xe hay thao tác máy ngay sau khi điều trị vì có thể gây buồn ngủ.

Người lái xe hay phải vận hành máy móc cần phải được lưu ý về điều này.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Paclitaxel được ghi nhận là có độc tính trên phôi và bào thai ở thỏ và làm giảm khả năng sinh sản ở chuột cống.

Không có số liệu về sử dụng Paclitaxel cho phụ nữ có thai. Cũng như đối với tất cả các tác nhân độc tế bào khác, Paclitaxel có thể độc cho bào thai. Chống chỉ định Paclitaxel cho phụ nữ có thai. Nên khuyên bệnh nhân không nên có thai trong thời gian điều trị bằng Paclitaxel . Trường hợp có thai, bệnh nhân phải báo ngay cho bác sĩ điều trị biết.

Thời kỳ cho con bú:

Không biết Paclitaxel có được bài tiết qua sữa mẹ hay không. Chống chỉ định Paclitaxel trong thời gian cho con bú. Phải ngưng cho con bú trong thời gian điều trị bằng Paclitaxel .

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Quá mẫn cảm: (xem phần thận trọng và phần liều lượng và cách sử dụng)

Các phản ứng quá mẫn nghiêm trọng được ghi nhận chiếm tỉ lệ 2% bệnh nhân điều trị với Paclitaxel cho dù đã chuẩn bị trước với Corticosteroid, kháng histamin và các thuốc đối kháng thụ thể H2. Các triệu chứng nghiêm trọng thường xuất hiện vào giờ đầu tiên sau khi bắt đầu tiêm truyền và hay gặp nhất là triệu chứng khó thở, giảm huyết áp và đau tức ngực. Ở một số bệnh nhân, ngưng tiêm truyền tạm thời là đủ để đây lui các triệu chứng. Với các bệnh nhân khác, cần phải điều trị với các thuốc giãn phế quản, adrenaline, kháng histamines và corticosteroid, điều trị đơn hay điều trị phối hợp. Nói chung, các phản ứng quá mẫn xảy ra với tỉ lệ 21% các đợt điều trị với paclitaxel và các phản ứng đầu tiên xuất hiện phần lớn trong 2 đợt điều trị đầu. Các biểu hiện phụ của tình trạng quá mẫn cảm bao gồm nóng bừng (32%), phát ban 14% và khó thở 4%.

Huyết học:

Độc tính giới hạn liệu chủ yếu của Paclitaxel là ức chế tủy xương. Phản ứng có hại về mặt huyết học thường gặp nhất là chứng giảm bạch cầu trung tính phụ thuộc liều với tình trạng trầm trọng hơn sau 24 giờ tiêm truyền so với tình trạng sau 3 giờ tiêm truyền. Tính chung lại, tính giảm bạch cầu trung tính nghiêm trọng xảy ra ở 68% các bệnh nhân. Trong đợt trị liệu đầu với Paclitaxel, tính giảm bạch cầu trung tính nghiêm trọng xảy ra ở 58% các bệnh nhân. Sau khi cho sử dụng Paclitaxel mức bạch cầu trung tính giảm nhất xảy ra trung bình khoảng sau 11 ngày. Bệnh nhân trước đó đã xạ trị hay điều trị với cisplatin biểu hiện thường xuyên hơn và thường nặng hơn tình trạng ức chế tủy xương (xem phần chú ý đề phòng và phần tương tác thuốc).

Các báo cáo về chứng thiếu tiêu câu sau khi điều trị với Paclitaxel ít gặp hơn nghiêm trọng hơn so với giảm bạch cầu trung tính, với mức tiểu cầu giảm nhất (< 50 x 10^9 tế bào/L) quan sát được 8-9 ngày sau khi cho sử dụng paclitaxel ở 5% bệnh nhân. Chứng xuất huyết đã được ghi nhận ở bệnh nhân sử dụng Paclitaxel nhưng có lẽ không có liên quan với chứng thiếu tiểu cầu.

Khoảng 3% các bệnh nhân cần phải truyền tiểu cầu.

Chứng thiếu máu (hemoglobin < 11g/dl) thường được ghi nhận ở 90% các bệnh nhân và ở mức độ nặng (hemoglobin < 8g/dl) ở 24% các bệnh nhân. Nguy cơ và sự trầm trọng có liên hệ trực tiếp đến mức độ tiếp cận với Paclitaxel.

Mọi việc điều trị với Paclitaxel phải đi kèm với việc theo dõi thường xuyên đếm tế bào máu. Nếu ở bệnh nhân có dấu hiệu ức chế tủy xương trầm trọng, phải giảm các liều paclitaxel tiếp theo (xem phần thận trọng). Phải truyền tiểu cầu hoặc hồng cầu khi được chỉ định.

Sự nhiễm khuẩn

Sự giảm bạch cầu trung tính kèm theo sốt xuất hiện ở 5% các đợt điều trị và 30% các đợt điều trị có liên quan đến một giai đoạn nhiễm khuẩn. Thường gặp nhất là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đường tiểu và nhiễm khuẩn máu. Trong các thử nghiệm lâm sàng pha II, năm đợt nhiễm khuẩn đã dẫn đến cái chết.

Thần kinh học: (xem phần thận trọng)

Bệnh lý thần kinh ngoại biên phụ thuộc liều, thường biểu hiện dưới dạng tê nhẹ, đã được ghi nhận ở 60% các bệnh nhân với các liều chỉ định ở giai đoạn I của độc tính, 10% ở giai đoạn II và 2% ở giai đoạn III. Với liều cao hơn, bệnh lý thần kinh được ghi nhận ở 87% các bệnh nhân. Nguy cơ xảy ra các triệu chứng nghiêm trọng (giai đoạn III) gia tăng ở 4-10% các bệnh nhân dùng liều cao. Chỉ xảy ra một ít trường hợp với triệu chứng thần kinh nghiêm trọng, thường là với bệnh nhân sử dụng liều cao Paclitaxel. Các triệu chứng trở nên nặng hơn khi bệnh nhân sử dụng lại Paclitaxel. Khoảng 2% các bệnh nhân phải ngưng điều trị với Paclitaxel do độc tính thần kinh ngoại biên. Các triệu chứng về giác quan thường được cải thiện hay đẩy lui sau một ít tháng ngưng điều trị với paclitaxel. Ảnh hưởng việc điều trị paclitaxel trên bệnh lý thần kinh sẵn có do các đợt điều trị trước đó hiện chưa được xác định.

Theo một báo cáo, động kinh con lớn đã xảy ra cho bệnh nhân sử dụng paclitaxel và cơn động kinh tái phát khi lại bắt đầu điều trị với Paclitaxel. Cũng có một báo cáo khác về cơn động kinh lớn ở một ing suy gan đáng kể trong thời gian tiêm truyền với Paclitaxel. Các báo cáo khác mô tả bệnh lý thần kinh vận động đưa đến tắc liệt ruột và giảm huyết áp thế đứng.

Hệ tim mạch: (Xem phần thận trọng)

Hạ huyết áp do truyền dịch paclitaxel được ghi nhận ở 25% các bệnh nhân và chứng tim đập chậm ở sử dụng thuốc. Tuy nhiên, cả hai hai triệu chứng thường không xuất hiện trong cùng một đợt điều trị. Phần lớn các vấn đề về tim mạch thường không có triệu chứng và không cần phải điều trị. Tuy vậy, các phản ứng quá mẫn cảm nặng thường đưa đến tác dụng hạ huyết áp nghiêm trọng và cần đến biện pháp điều trị.

Sáu trường hợp bệnh tim mạch nghiêm trọng liên quan đến tim mạch có thể liên hệ đến việc điều trị với Paclitaxel đã được ghi nhận, bao gồm chứng loạn nhịp tim (tim đập nhanh tâm thất không có triệu chứng, mạch nhanh từng hai nhịp một, các giai đoạn choáng), nghẽn tâm nhĩ và tâm thất.

Các thay đổi trên điện tâm đồ đã được ghi nhận ở 30% bệnh nhân sử dụng Paclitaxel, phần lớn thường là tái phân cực không đặc hiệu (20%), tim đập nhanh (19%) và nhịp tim đập không trọn vẹn (7%).

Chỉ có 2 trường hợp cần đến việc điều trị. Mối liên hệ giữa paclitaxel và các thay đổi trên điện tâm đồ chưa được xác định.

Gan

Việc gia tăng các enzyme ở gan (bilirubine 8% bệnh nhân, phosphat kiềm-23%, aspartat transaminase (AST (SGOT)-16% và Alanin transaminase (ALT(SGPT))-33%) đã được ghi nhận phần lớn ở bệnh nhân có chức năng gan bình thường đã trị liệu với paclitaxel. Tất cả các sự gia tăng này, trừ ALT, đều phụ thuộc liều dùng. Hoại tử gan và bệnh lý não liên quan đến gan dẫn đến cái chết đã được ghi nhận tuy rất hiếm.

Đau nhức khớp và cơ

Đau nhức khớp và cơ được ghi nhận ở 55% các bệnh nhân và thường biểu hiện dưới dạng đau nhức nhẹ ở các khớp tay và chân. Các triệu chứng thường ngắn hạn, xuất hiện 2-3 ngày sau khi điều trị và biến mất trong vòng vài ngày. Các tác dụng rõ ràng phụ thuộc liều dùng và có lẽ xác xuất cao hơn ở bệnh nhân đang điều trị đồng thời filgrastim (tác nhân kích thích khóm tế bào hạt, G-CSF).

Hệ tiêu hóa

Bệnh nhân cũng thường phải chịu các tác dụng phụ về tiêu hóa từ nhẹ đến trung bình như nôn ói (53%), tiêu chảy (26%) và viêm niêm mạc (26%). Đã có một số trường hợp bị thủng ruột trong khi điều trị với Paclitaxel. Phải cảnh giác để loại bỏ nguy cơ này khi thấy bệnh nhân đang sử dụng paclitaxel có triệu chứng đau bụng.

Các phản ứng chỗ tiêm

Có thể xảy ra viêm tĩnh mạch sau khi tiêm truyền paclitaxel. Tràn dịch ra ngoài mạch trong lúc tiêm có thể làm sưng, đau, phù , đỏ và cứng chỗ tiêm, đôi khi dẫn đến viêm tế bào. Chỗ da cũng có thể bị mất màu. Hiện chưa có cách điều trị chuyên biệt đối với các phản ứng do tràn dịch.

Các phản ứng khác

Hầu hết bệnh nhân điều trị với Paclitaxel đều bị chứng rụng tóc.

Các thay đổi tạm thời và nhẹ ở móng và da được ghi nhận.

Ít có báo cáo về các bất thường ở da do tái xạ trị.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Tất cả phương tiện và thuốc men cần thiết cho cấp cứu hồi sức (adrenalin, corticoid, oxygen, dịch truyền, máy trợ tim – hô hấp…) cần phải sẵn sàng.

Trong trường hợp có bệnh thần kinh gây rối loạn vận động thì phải ngừng thuốc, hoặc có thể giảm liều 20%.

Có thể tiếp tục dùng thuốc cho người bệnh bị blốc nhĩ – thất cấp I và phải theo dõi điện tâm đồ. ở người bệnh có rối loạn dẫn truyền nặng hơn thì phải ngừng dùng paclitaxel và cần điều trị trợ tim thích hợp.

Ở bệnh nhân có triệu chứng mẫn cảm nghiêm trọng với paclitaxel, dừng tiêm truyền thuốc kết hợp với các biện pháp điều trị triệu chứng tích cực. Các biện pháp này thường bao gồm sử dụng epinephrin, kháng histamin hay corticosteroid trong trường hợp cần thiết.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Cisplatin: Việc sử dụng Cisplatin trước khi điều trị với Paclitaxel đưa đến tình trạng ức chế tủy xương nặng hơn so với trường hợp sử dụng Paclitaxel trước cisplatin. Trong số các bệnh nhân dùng cisplatin trước khi điều trị với paclitaxel làm giảm 20% mức thanh thải Paclitaxel.

Doxorubicin: Do việc dùng doxorubicin và paclitaxel ở thời điểm gần nhau sẽ làm giảm quá trình đào thải của Doxorubicin và các chất chuyển hóa của thuốc, do đó nên dùng xa nhau, khuyến cáo nên dùng paclitaxel 24 giờ sau khi dùng doxorubicin ở bệnh nhân ung thư vú di căn

Các thuốc chuyển hóa ở gan

Phải thận trọng khi sử dụng đồng thời các thuốc chuyển hóa ở gan (như ketoconazol, erythromycin), do các thuốc này có thể ngăn chặn sự chuyển hóa Paclitaxel, do đó làm tăng độc tính của paclitaxel.

Nên thận trọng khi dùng phối hợp paclitaxel ở những bệnh nhân có dùng thuốc ức chế protease.

4.9 Quá liều và xử trí:

Việc sử dụng quá liều cho tới nay chưa có cách điều trị chuyên biệt cho việc sử dụng quá liều paclitaxel. Các hậu quả có thể xảy ra do việc sử dụng quá liều là viêm niêm mạc, ức chế nặng tủy xương và độc tính thần kinh ngoại biên và phải điều trị hỗ trợ.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Paclitaxel, hoạt chất có trong vỏ cây thông đỏ Taxux brevifolia, là một thuốc chống ung thư.

Paclitaxel làm tăng quá trình trùng hợp các dimetubulin tạo thành các vi quản và làm ổn định các vị quản do ức chế quá trình giải trùng hợp. Sự SINnh này ức chế sự tổ chức lại bình thường của mạng vi quản rất quan trọng ở gian kỳ của quá trình phân bào giảm nhiễm, và cả với hoạt động của ty lạp thể. Paclitaxel cũng gây tạo thành các cấu trúc bất thường trong các vi quản trong quá trình phân bào. Tuy chưa được nghiên cứu kỹ nhưng do cơ chế tác dụng của nó, paclitaxel phải được coi là chất gây ung thư và độc đối với gen. Các thử nghiệm in vivo và in vitro cho thấy paclitaxel có tác dụng gây đột biến gen trên tế bào động vật có vú.

Cơ chế tác dụng:

Paclitaxel làm tăng quá trình trùng hợp các dime tubulin tạo thành các ống vi thể và làm ổn định các ống vi thể sẵn có do ức chế quá trình giải trùng hợp. Do đó, ức chế sự tái cấu trúc bình thường của mạng ống vi thể rất quan trọng ở gian kỳ của quá trình phân bào và cả với hoạt động của ty lạp thể. Paclitaxel cũng gây tạo thành các cấu trúc bất thường trong các ống vi thể trong quá trình phân bào, kết quả là phá vỡ các nhiễm sắc thể. Tuy chưa được nghiên cứu kỹ nhưng do cơ chế tác dụng của nó, paclitaxel được coi là chất gây ung thư và độc đối với gen. Paclitaxel có thể ức chế sự tăng sinh tế bào và điều hòa đáp ứng miễn dịch.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Sau khi được truyền tĩnh mạch, nồng độ của paclitaxel trong huyết tương giảm dần theo một đường cong biểu diễn gồm hai pha.

Dược động của paclitaxel được nghiên cứu trong điều kiện truyền tĩnh mạch thời gian là 3 giờ và 24 giờ, và ở liều 135 và 175 mg/m2. Thời gian bán hủy trung bình của pha cuối từ 3 đến 52,7 giờ và giá trị trung bình của thanh thải toàn phần từ 11,6 đến 24 1/giờ/m2. Sự thanh thải toàn phần dường như giảm khi nồng độ của paclitaxel trong huyết tương cao. Thể tích phân phối trung bình ở tình trạng lao động từ 198 đến 688 1/m2 điều này cho thấy có sự khuếch tán ngoại mạch và/hoặc gắn vào mô đáng kể của paclitaxel. Khi tăng 30% liều, từ 135 đến 175 mg/m2, các giá trị Cmax và diện tích dưới đường cong tăng tương ứng từ 75 đến 81% khi truyền trong 3 giờ, như vậy việc tăng liều không có liên quan tuyến tính với việc tăng các thông số dược động.

Sự khác biệt giữa người này và người khác khi dùng paclitaxel đường toàn thân rất ít. Không ghi nhận có hiện tượng tích tụ paclitaxel khi dùng nhiều đợt điều trị liên tiếp. Các nghiên cứu in vitro được thực hiện trên protein huyết thanh người cho thấy tỷ lệ gắn với protein trung bình từ 89 đến 98%. Khi dùng đồng thời với cimetidine, ranitidine, dexamethasone hay diphenhydramin, tỷ lệ gắn với protein không bị thay đổi. Thể thức đào thải của paclitaxel ở người hiện chưa được biết rõ. Tỷ lệ đào thải qua thận dưới dạng không đổi từ 1,3 đến 12,6% liều dùng, cho thấy có sự thanh thải đáng kể ngoài thận. Các chất chuyển hóa chính được tìm thấy dưới dạng hydroxyl hóa. Sự chuyển hóa qua gan và đào thải qua mật dường như là cơ chế đào thải chính của paclitaxel. Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng trên sự chuyển hóa thuốc khi dùng cho bệnh nhân bị suy gan hay suy thận. Các thông số dược động thu được ở bệnh nhân chạy thận được truyền Paclitaxel 135 mg/m2 trong 3 giờ thì tương tự như ở bệnh nhân bình thường.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Citric acid –anhydrous, Macrogolglycerol ricinoleate, Ethanol- anhydrous

6.2. Tương kỵ :

Chưa có thông tin.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C, tránh ánh sáng.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Paclitaxel Bhardwaj 6mg/ml do Haupt Pharma WolfratshausenGmbH sản xuất (2017).

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM