Thuốc Imazan (Azathioprine 50mg)

Azathioprine – Imazan

Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Imazan

Thuốc Imazan có chứa thành phần chính là Azathioprine, thuộc nhóm thuốc ức chế miễn dịch, tức là thuốc sẽ phần nào làm suy yếu hệ thống miễn dịch của cơ thể, giúp cơ thể tiếp nhận và không đào thải cơ quan được cấy ghép (Ví dụ như ghép thận). Imazan cũng được sử dụng để điều trị các triệu chứng của bệnh viêm khớp dạng thấp. Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Imazan (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Azathioprine (Azathioprin)

Phân loại: Thuốc dị ứng và hệ miễn dịch > Thuốc điều hòa miễn dịch > Thuốc ức chế miễn dịch khác > DMARD

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L04AX01.

Biệt dược gốc: Hiện chưa có thuốc đăng ký biệt dược gốc tại Việt Nam.

Biệt dược: Imazan

Hãng sản xuất : Douglas Manufacturing Ltd.

Hãng đăng ký: Công ty TNHH Dược Tâm Đan.


2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim: 50 mg.

Thuốc tham khảo:

IMAZAN
Mỗi viên nén bao phimcó chứa:
Azathioprine …………………………. 50 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Thuốc Imazan (Azathioprine 50mg)

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

3.1. Imazan là thuốc gì?

Thuốc Imazan có chứa thành phần chính là Azathioprine, thuộc nhóm thuốc ức chế miễn dịch, tức là thuốc sẽ phần nào làm suy yếu hệ thống miễn dịch của cơ thể, giúp cơ thể tiếp nhận và không đào thải cơ quan được cấy ghép (Ví dụ như ghép thận). Imazan cũng được sử dụng để điều trị các triệu chứng của bệnh viêm khớp dạng thấp.

3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:

Azathioprine có phải là thuốc giảm đau hay không?

Azathioprine không phải là thuốc giảm đau, nhưng Azathioprine có thể làm giảm tổn thương và ảnh hưởng do tình trạng viêm gây ra. Ví dụ như trong bệnh viêm khớp dạng thấp, các triệu chứng sẽ bắt đầu cải thiện sau 6 – 12 tuần kể từ khi bắt đầu dùng thuốc.

Azathioprine có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?

Azathioprine CÓ nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam, thuốc này được cấp bảo hiểm cho bệnh nhân điều trị nội trú ở các bệnh viện hạng II trở lên. Do đó người bệnh có thể được được cấp và lĩnh thuốc này tại các cơ sở khám chữa bệnh có đấu thầu thuốc này trong danh mục của bệnh viện.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Azathioprin được dùng làm chất chống chuyển hóa ức chế miễn dịch, dùng đơn độc, hoặc thường phối hợp với các thuốc khác (thường là corticosteroid). Tác dụng điều trị chỉ thấy rõ sau nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Vì vậy cần phối hợp để giảm liều của mỗi thuốc và do đó giảm độc tính.

Azathioprin phối hợp với corticosteroid hoặc các phương pháp và các thuốc ức chế miễn dịch khác cho người bệnh nhận cơ quan ghép.

Azathioprin dùng riêng rẽ hoặc thường phối hợp với corticosteroid và các phương pháp khác cho các bệnh sau: Viêm khớp dạng thấp nặng, luput ban đỏ lan tỏa, viêm da cơ, viêm đa cơ, viêm gan mạn hoạt động tự miễn, bệnh pemphigut thông thường (pemphigus vulgaris), viêm nút quanh động mạch, thiếu máu tiêu huyết tự miễn, xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát. Đối với viêm khớp dạng thấp tiến triển, methotrexat thường cho kết quả tốt hơn nếu xét về hiệu quả/độc tính.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường uống.

Liều dùng:

Ghép tạng – Người lớn và trẻ em

Tùy thuộc vào mức độ ức chế miễn dịch của bệnh nhân, có thể sử dụng liều lên đến 5 mg/kg thể trọng /ngày bằng đường uống trong ngày đầu điều trị.

Liều duy trì trong khoảng từ 1 đến 4 mg/kg thể trọng/ngày, và phải được điều chỉnh tùy theo yêu cầu lâm sàng và dung nạp huyết học.

Y học chứng cứ cho thấy nên duy trì lâu dài điều trị với azathioprin, ngay cả khi dùng liều thấp, vì nguy cơ thải ghép có thể xảy ra.

Các bệnh khác

Nói chung, liều khởi đầu từ 1 đến 3 mg/kg thể trọng/ngày và cần được điều chỉnh tùy theo đáp ứng lâm sàng (có thể không rõ ràng trong vài tuần hoặc tháng) và dung nạp huyết học.

Khi đáp ứng điều trị, cần xem xét đến việc giảm liều duy trì ở mức thấp nhất thích hợp với duy trì sự đáp ứng. Nếu tình trạng của bệnh nhân không cải thiện trong vòng 3 tháng, cần xem xét dừng thuốc azathioprin.

Liều duy trì có thể nằm trong khoảng từ dưới 1 mg/kg thể trọng/ngày đến 3 mg/kg thể trạng/ngày tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng và đáp ứng của từng bệnh nhân, bao gồm sự dung nạp huyết học ở bệnh nhân suy thận hoặc suy gan nhẹ đến trung bình, liều nên ở mức thấp nhất của mức bình thường. Chống chỉ định azathioprin ở bệnh nhân suy gan nặng.

Bệnh nhi

Không đủ dữ liệu để khuyến cáo sử dụng azathioprin điều trị bệnh viêm khớp mạn tính, lupus ban đỏ hệ thống, viêm da cơ và viêm nút động mạch ở trẻ vị thành niên. Liên quan đến các chỉ định khác, khuyến cáo dùng liều cho trẻ em và thanh thiếu niên như liều người lớn.

Người lớn tuổi

Kinh nghiệm sử dụng azathioprin ở người lớn tuổi còn hạn chế. Mặc dù đữ liệu. hiện có không cung cấp bằng chứng cho thấy tỷ lệ tác dụng không mong muốn ở bệnh nhân lớn tuổi cao hơn các bệnh nhân khác dùng azathioprin, liều được khuyến cáo ở mức thấp nhất của mức bình thường.

Sử dụng kết hợp

Khi sử dụng đồng thời allopurinol, oxipurinol hoặc thiopurinol với azathioprin, phải giảm liều azathiaprin còn một phần tư liều ban đầu.

Có thể cần vài tuần hay vài tháng trước khi thấy hiệu quả điều trị

Nên sử dụng thuốc lâu dài, trừ khi bệnh nhân không dung nạp thuốc.

Trong vài trường hợp, ví dụ viêm khớp dạng thấp và một số bệnh về huyết học, có thể ngưng điều trị sau một thời gian nhất định.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định azathioprin ở bệnh nhân mẫn cảm với azathioprin. Mẫn cảm với 6-mercaptopurin (6-MP) cảnh báo khả năng mẫn cảm với azathioprin.

Chống chỉ định ở bệnh nhân:

Nhiễm khuẩn nặng.

Suy gan nặng hay suy chức năng tủy xương nặng.

Viêm tụy.

Sử dụng bất kỳ vaccin sống nào, đặc biệt là BCG, đậu mùa, sốt vàng.

Mang thai, hoặc có thể mang thai trừ khi lợi ích lớn hơn nguy cơ.

Cho con bú.

4.4 Thận trọng:

Khả năng gây ung thư của azathioprin còn đang tranh cãi, tuy nhiên nguy cơ thúc đẩy u phát triển đã được xác định; có nghĩa là thuốc làm cho các tế bào tiền ung thư đang ở trạng thái tiềm ẩn phát triển thành u nhanh hơn và xuất hiện ung thư sớm hơn.

Tỉ lệ các chất chuyển hóa khác nhau ở mỗi người, nên mức độ và thời gian tác dụng thuốc cũng khác nhau.

Theo dõi

Có những nguy hiểm tiềm ẩn liên quan đến việc sử dụng của azathioprin. Azathioprin nên được chỉ định chỉ khi bệnh nhân được theo dõi đầy đủ các ảnh hưởng độc hại trong suốt quá trình điều trị.

Trong suốt tám tuần điều trị đầu tiên, công thức máu đẩy đủ, bao gồm tiểu cầu, phải được thực hiện hàng tuần hoặc thường xuyên hơn khi sử dụng liêu cao hoặc khi rối loạn thận và gan nặng cùng xảy ra.

Cần thiết giảm nhanh liều lượng hoặc tạm thời ngưng thuốc khi số lượng bạch cầu giảm nhanh chóng, hay liên tục thấp hoặc có bằng chứng khác về sự ức chế tủy xương.

Bệnh nhân dùng azathioprin cần được hướng dẫn để báo cáo ngay nếu có bất kỳ dấu hiệu nào của sự nhiễm trùng bầm tím hay chảy máu bất thường, phân có màu đen hoặc và có máu trong nước tiểu hay phân, hoặc các biểu hiện khác của sự suy yếu tủy xương.

Những bệnh nhân có hụt do di truyền enzym thiopurin methyltransferase (TPMT), có thể nhạy cảm bất thường với hiệu ứng ức chế tủy xương của azathioprin và dễ bị phát triển nhanh suy nhược tủy xương sau điều trị ban đầu với azathioprin. Vấn đề này có thể trở nên trầm trọng khi dùng chung với các thuốc ức chế TPMT, như olsalazin, tesalazin hoặc sulfasalazin. Vì vậy vẫn cần thiết theo dõi chặt chẽ công thức máu.

Suy thận và/hoặc suy gan

Không có sự liên hệ giữa lượng huyết tương của azathloprin hay 6-mercaptoprin đến hiệu quả điều trị hoặc độc tính. Sự biến đổi các acid 6-thioinosinic thành acid 6-thiourie do men oxy hóa xanthin không phụ thuộc vào chức năng thận và/hoặc chức năng gan bình thường. Tuy nhiên, khuyến cáo rằng liều lượng sử dụng ở mức thấp của khoảng mức bình thường và phải theo dõi cẩn thận phản ứng huyết học. Nên giảm thêm liều dùng nếu độc tính huyết học xảy ra.

Thận trọng khi sử dụng azathioprin cho bệnh nhân rối loạn chức năng gan và nên thực hiện công thức máu và xét nghiệm chức năng gan đều đặn. Ở những bệnh nhân như vậy, sự chuyển hóa của azathioprin có thể bị giảm sỏi, và do đó liều azathioprin nên được giảm xuống tới mức thấp của liều đề nghị. Nên giảm thêm liều dùng nếu độc tính gan hay huyết học xảy ra.

Bằng chứng giới hạn cho thấy azathioprin không có lợi cho bệnh nhân thiếu men hypoxanthin – guanin – phosphoribosyltransferase (hội chứng Lesch – Nyhan).

Do sự chuyển hóa bất thường trên những bệnh nhân này, không nên dùng azathioprin.

Gây đột biến

Bất thường nhiễm sắc thể, có thể xảy ra độc lập với ảnh hưởng của azathioprin, đã được chứng minh trên bệnh nhân nam và nữ nhận cơ quan ghép. Bất thưởng nhiễm sắc thể, biến mất theo thời gian, đã được chứng minh trong con đẻ của người được ghép. Ngoại trừ vài trường hợp rất hiếm, không có bằng chứng cụ thể của bất thường được quan sát thấy ở các người con.

Azathioprin và tia cực tím sóng dài đã được chứng minh là có tác dụng hiệp đồng gây đứt đoạn nhiễm sắc thể ở những bệnh nhân được điều trị bằng azathioprin.

Gây ung thư

Bệnh nhân được điều trị ức chế miễn dịch có nguy cơ gia tăng phát triển u lympho không Hedgkin và các u ác tính khác, đặc biệt là ung thư da (u hắc tố và không hắc tố, sarcom Kaposi và không Kaposi) và ung thư cổ tử cung tại chỗ.

Nguy cơ xuất hiện có liên quan đến cường độ và thời gian ức chế miễn dịch hơn là việc sử dụng của bất kỳ tác nhân cụ thể nào.

Nhiễm virus Varicella Zoster

Nhiễm virus varicella zoster (VZV: thủy đậu và zona) có thể trở nên nghiêm trọng khi dùng chất ức chế miễn dịch. Cần thận trọng đặc biệt đối với các trường hợp sau:

Trước khi bắt đầu dùng chất ức chế miễn dịch, bác sĩ nên kiểm tra xem bệnh nhân có tiền sử VZV hay không. Xét nghiệm huyết thanh có thể hữu ích để xác định đã nhiễm trước đó. Bệnh nhân không có tiền sử bị VZV nên tránh tiếp xúc với người bệnh thủy đậu hoặc zona. Nếu bệnh nhân đã bị VZV, phải tiến hành chăm sóc đặc biệt để tránh phát triển thủy đậu hay zona, và có thể xem xét đến miễn dịch thụ động với globulin miễn dịch varicella-zoster (VZIG: varicella-zoster immunoglobulin)

Trên bệnh nhân nhiễm VZV, cần thực hiện biện pháp thích hợp, trong đó có thể bao gồm điều trị kháng virus và chăm sóc hỗ trợ.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Các nghiên cứu về ảnh hưởng của azathioprin trên khả năng lái xe và vận hành máy móc chưa được thực hiện.


4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Azathioprin và các chất chuyển hóa có nồng độ thấp ở máu của thai nhi và nước ối. Thuốc có thể gây hại cho thai khi dùng cho người mang thai. Vì vậy, không nên dùng azathioprin cho người bệnh mang thai, kể cả để điều trị viêm khớp dạng thấp.

Bất thường về miễn dịch và các bất thường khác có thể xảy ra ở một số ít trẻ sinh ra từ người mẹ được ghép thận dùng azathioprin.

Cần cân nhắc kỹ lợi hại trước khi dùng azathioprin cho người bệnh còn khả năng sinh đẻ. Nếu dùng thuốc khi có thai hoặc nếu người bệnh có thai trong khi dùng thuốc, cần báo trước nguy cơ tiềm tàng có thể xảy ra cho thai nhi. Phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ nên dùng các biện pháp tránh thai thích hợp khi điều trị để tránh có thai.

Thời kỳ cho con bú:

Không nên dùng azathioprin cho người đang cho con bú. Azathioprin và các chất chuyển hóa vào sữa mẹ ở nồng độ thấp. Do azathioprin có khả năng gây ung thư, nên cần phải quyết định xem nên ngừng cho con bú hoặc ngừng thuốc tùy theo tầm quan trọng của thuốc đối với người mẹ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tác dụng không mong muốn có thể khác nhau tủy thuộc vào chỉ định điều trị. Các tác dụng không mong muốn dưới đây được sắp xếp theo tần suất: rất phổ biến (1/10); phổ biến (> 1/100 đến < 1/10); không phổ biến (> 1/1.000 đến 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm (< 1/10.000).

Nhiễm khuẩn

Ở bệnh nhân được cấy ghép dùng azathioprin với các thuốc ức chế miễn dịch khác:

Rất phổ biến: Nhiễm khuẩn, virus và nấm.

Ở các chỉ định khác:

Không phổ biến: Nhiễm khuẩn, virus và nấm.

Bệnh nhân dùng azathioprin riêng lẻ hay kết hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác, đặc biệt là corticosteroid cho thấy tăng nhạy cảm với virus, vi khuẩn và nấm, bao gồm các nhiễm khuẩn nặng hoặc không điển hình như thủy đậu, herpes zoster và các tác nhân lây nhiễm khác.

U lành tính và ác tính (bao gồm u nang và polyp)

Hiếm: Ung thu bao gồm u lympho không Hodgkin và ung thư cổ tử cung tại chỗ, bệnh bạch cầu tủy xương cấp và loạn sản tủy.

Nguy cơ phát triển u lympho không Hodgkin và u ác tính khác, đặc biệt là ung thư da (ác tính và không ác tính), sarcoma (Kaposi và không Kaposi) và ung thư cổ tử cung tại chỗ tăng lên ở bệnh nhân dùng thuốc ức chế miễn dịch, đặc biệt ở bệnh nhân ghép tạng được điều trị tích cực và vì vậy, việc điều trị này cần được duy trì ở mức thấp nhất có hiệu lực. Các nguy cơ phát triển u lympho không Hodgkin ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp suy giảm miễn dịch so với dân số chung dường như liên quan ít nhất một phần là do bệnh.

Có báo cáo hiếm gặp về bệnh bạch cầu tủy xương cấp và loạn sản tủy (một số trường hợp liên quan đến bất thường nhiễm sắc thể).

Rối loạn máu và hệ bạch huyết

Rất phổ biến: Giảm bạch cầu, suy chức năng tủy xương liên quan liều, có thể hồi phục

Phổ biến: Giảm tiểu cầu.

Không phổ biến: Thiếu máu.

Hiếm: Mất bạch cầu hạt, giảm toàn thể tế bào máu, thiếu máu bất sản, thiếu máu hồng cầu khổng lồ, giảm sinh hồng cầu.

Các bệnh trên thường xảy ra ở bệnh nhân có nguy cơ hoại tử xương, ví dụ bệnh nhân bị thiếu hụt TPMT (TPMT: thiopurine S-methyltransferase), suy thận hoặc suy gan và bệnh nhân thất bại trong giảm liều azathioprin khi điều trị đồng thời với allopurinol.

Azathioprin có thể liên quan đến làm tăng thể tích trung bình và số lượng hemoglobin trung bình trong một hồng cầu.

Rối loạn hô hấp ngực và trung thất

Rất hiếm: Viêm phổi có thể hồi phục.

Rối loạn tiêu hóa

Không phổ biến: Viêm tụy.

Hiếm: Viêm đại tràng, viêm túi thừa và thủng ruột ở bệnh nhân ghép tạng, tiêu chảy nặng ở bệnh nhân viêm ruột.

Một số ít bệnh nhân bị buồn nôn khí lần đầu tiên dùng azathioprin. Buồn nôn có thể giảm khi uống thuốc sau bữa ăn.

Các biến chứng nghiêm trọng, bao gồm viêm đại tràng, viêm túi thừa đại tràng và thủng ruột, đã được mô tả ở bệnh nhân ghép tạng được điều trị ức chế miễn dịch. Tuy nhiên, chưa xác định rõ nguyên nhân và có thể liên quan đến corticoid liều cao. Có báo cáo về tiêu chảy nặng và tái phát ở bệnh nhân điều trị với azathioprin bị viêm ruột. Lưu ý khả năng làm trầm trọng thêm các triệu chứng có thể liên quan đến thuốc khi điều trị các bệnh nhân này.

Có báo cáo viêm tụy ở một số ít bệnh nhân điều trị bằng azathioprin, đặc biệt ở những bệnh nhân ghép thận hay được chẩn đoán viêm ruột. Khó xác định sự liên quan giữa viêm tụy và một loại thuốc đặc biệt, mặc dù đôi khi xác nhận có liên quan đến azathioprin.

Rối loạn gan mật

Không phổ biến: Ứ mật và suy chức năng gan.

Hiếm: Tổn thương gan đe dọa tính mạng.

Ứ mật và suy chức năng gan đôi khi được báo cáo khi sử dụng azathioprin và thường hồi phục khi ngừng thuốc. Triệu chứng này có thể liên quan đến triệu chứng của phản ứng quá mẫn.

Tổn thương gan, tuy hiếm nhưng đe dọa tính mạng, đã được báo cáo liên quan đến sử dụng azathioprin kéo dài, chủ yếu ở bệnh nhân ghép tạng. Kết quả mô học bao gồm sự giãn nở dạng sin, ứ máu gan, tắc tĩnh mạch, tăng sản tái tạo dạng nốt. Trong một số trường hợp, ngưng dùng azathioprin làm cải thiện tạm thời hoặc lâu dài các triệu chứng và mô học gan.

Rối loạn da và mô dưới da

Hiếm: Rụng tóc, nhạy cảm ánh sáng. Rụng tóc được mô tả ở một số trường hợp bệnh nhân dùng azathioprin và các thuốc ức chế miễn dịch khác. Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân tự hồi phục triệu chứng này dù tiếp tục điều trị. Không chắc chắn về mối liên hệ giữa rụng tóc và azathioprin.

Rối loạn hệ miễn dịch

Không phổ biến: Phản ứng quá mẫn.

Rất hiếm: Hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử thượng bì nhiễm độc. Một số hội chứng lâm sàng khác nhau, thể hiện đặc tính của quá mẫn, đôi khi được mô tả sau khi dùng azathioprin. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm suy nhược, chóng mặt, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, sốt, rét run, viêm mạch máu, đau cơ, đau khớp, hạ huyết áp, rối loạn chức năng thận, rối loạn chức năng gan và ứ mật. Trong nhiều trường hợp, xác nhận sự tái phát liên quan đến azathioprin.

Dừng azathioprin ngay lập tức và hỗ trợ tuần hoàn đưa đến sự phục hồi trong phần lớn trường hợp. Bệnh lý tiềm ẩn khác góp phần gây chết rất hiếm được báo cáo. Sau khi gặp phản ứng quá mẫn với azathioprin, việc tiếp tục điều trị azathioprin cần được cân nhắc cẩn thận dựa trên từng bệnh nhân.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Người bệnh khi bắt đầu dùng azathioprin cần được xác định công thức máu định kỳ trong khi dùng thuốc và phải báo cáo thầy thuốc nếu có xuất huyết hoặc thâm tím bất thường. Người bệnh phải được thông báo về nguy cơ nhiễm khuẩn khi dùng azathioprin và báo cáo thầy thuốc nếu có các dấu hiệu nhiễm khuẩn. Cần hướng dẫn cẩn thận cho người bệnh, đặc biệt khi dùng azathioprin cho người có tổn thương chức năng thận hoặc dùng phối hợp với alopurinol. Độc tính trên máu liên quan đến liều dùng và có thể nặng hơn ở người bệnh ghép thận đồng loại đang trải qua giai đoạn đào thải. Người bệnh đang dùng azathioprin phải được xác định công thức máu đầy đủ, kể cả tiểu cầu, hàng tuần trong tháng đầu, mỗi tháng 2 lần vào tháng thứ hai và thứ ba, rồi hàng tháng, nếu cần thay đổi liều dùng hoặc thay đổi phác đồ điều trị. Có thể xảy ra ức chế tạo máu chậm. Cần giảm liều ngay hoặc ngừng thuốc tạm thời nếu bạch cầu giảm nhanh hoặc giảm ít nhưng kéo dài, hoặc có bằng chứng bị ức chế tủy xương. Bạch cầu giảm không tương quan với tác dụng điều trị; do đó không được tăng liều với ý định để làm giảm số lượng bạch cầu.

Nhiễm khuẩn nghiêm trọng là một nguy cơ thường xuyên ở người bệnh dùng lâu thuốc ức chế miễn dịch, đặc biệt đối với người thận ghép. Nhiễm nấm, virus, nhiễm khuẩn và sinh vật đơn bào có thể gây chết và cần xử lý tích cực, cần cân nhắc giảm liều azathioprin, hoặc dùng thuốc điều trị thích hợp khác.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Cũng như với 6-mercaptopurin, alopurinol phối hợp với azathioprin có thể làm tăng độc tính, do alopurinol ức chế xanthin oxidase là enzym tối quan trọng trong dị hóa nhiều purin, kể cả 6-mercaptopurin. Nói chung, tốt nhất là tránh dùng 2 loại thuốc này với nhau. Khi buộc phải dùng phối hợp nên giảm liều azathioprin 25 – 33% so với liều azathioprin thường dùng đơn độc.

Các thuốc ảnh hưởng đến tạo tế bào tủy, dùng đồng thời với co-trimoxazol, có thể làm giảm bạch cầu mạnh, đặc biệt ở người ghép thận.

Thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin để chữa tăng huyết áp cho người đang dùng azathioprin sẽ gây giảm bạch cầu và thiếu máu nặng.

Azathioprin có thể ức chế tác dụng chống đông của warfarin.

Những chất phong tỏa thần kinh cơ:

Azathioprin có thể làm tăng sự phong tỏa thần kinh cơ được tạo ra bởi các tác nhân khử cực như succinylcholin và có thể làm giảm sự phong tỏa được tạo ra bởi các chất không khử cực như tubocurarin.

Aminosalicylat:

In vitro, có bằng chứng cho thấy các dẫn xuất aminosalicylat (ví dụ olsalaxin, meslazin hoặc sulfasalazin) ức chế các enzym TPMT, nên dùng các chất này thận trọng cho những bệnh nhân đang điều trị đồng thời bằng azathioprin.

Vaccin:

Hoạt động ức chế miễn dịch của azathioprin có thể dẫn đến phản ứng không điển hình và có khả năng có hại cho vaccin sóng và do đó trên lý thuyết, không chỉ định vaccin sống trên bệnh nhân được điều trị bằng azathioprin.

Có khả năng có phản ứng làm giảm vaccin bất hoạt và phản ứng với vaccin viêm gan B đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị bằng sự kết hợp cả azathioprin và corticosteroid.

Khác:

Thuốc gây ra (phenytoin, phenobarbital, rifampicin) hoặc ức chế (ketoconazol, erythomycin) enzym microsom gan có thể làm thay đổi sự thanh thải azathioprin.

4.9 Quá liều và xử trí:

Các triệu chứng và dấu hiệu:

Nhiễm khuẩn chưa rõ nguyên nhân, loét cổ họng, bầm tim và chảy máu là những dấu hiệu chính của quá liều với azathioprin và ức chế tủy xương có thể tác động mạnh nhất sau 9 đến 14 ngày. Các dấu hiệu này thường xuất hiện sau khi dùng quá liều mạn, thay vì quá liều đơn. Có báo cáo một trường hợp bệnh nhân uống quá liều một lần 7,5 g azathioprin. Tác động độc tính ngay lập tức của quá liều này là buồn nôn, nôn và tiêu chảy, sau đó là giảm bạch cầu nhẹ và bất thường chức năng gan nhẹ. Các triệu chứng do quá liều có thể phục hồi.

Xử trí:

Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Có thể rửa dạ dày. Cần tiếp tục theo dõi, bao gồm theo dõi huyết học để kịp thời điều trị các tác dụng không mong muốn tăng lên. Chưa biết hiệu quả của thẩm tách máu ở bệnh nhân quá liều azathioprin, mặc dù có thể thẩm tách một phần azathioprin.


5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Mã ATC: L04AX01.

Azathioprin là một chất chống chuyển hóa có cấu trúc purin, là tiền chất thiopurin của 6-mercaptopurin. Thuốc tác dụng chủ yếu là ức chế miễn dịch. Azathioprin có thể ức chế tổng hợp DNA, RNA và protein. Thuốc có thể liên kết vào acid nucleic, dẫn đến gẫy nhiễm sắc thể, làm acid nucleic dịch sai mã gây việc tổng hợp protein bị sai lệch. Thuốc có thể cản trở chuyển hóa tế bào và ức chế gián phân.

Trên người bệnh ghép thận, azathioprin ức chế phản ứng quá mẫn kiểu trung gian tế bào và gây cản trở tạo kháng thể. Thuốc ít có tác dụng khi cơ quan ghép có biểu hiện bị đào thải.

Cơ chế tác dụng của azathioprin trong viêm khớp dạng thấp và các bệnh tự miễn khác còn chưa biết rõ, nhưng có thể có liên quan đến sự ức chế miễn dịch.

Cơ chế tác dụng:

Mặc dù cơ chế hành động chính xác vẫn được làm sáng tỏ, một số cơ chế được đề xuất bao gồm:

Việc giải phóng chất 6-MP là chất chống chuyển hóa purine.

Phong tỏa gốc -SH nhóm bằng alkyl hóa.

Sự ức chế của nhiều con đường trong sinh tổng hợp acid nucleic, do đó ngăn ngừa sự gia tăng của các tế bào tham gia vào việc xác định và lan rộng ra của phản ứng miễn dịch.

Phá hủy axit deoxyribonucleic (DNA) thông qua việc kết hợp các chất tương tự purine.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Azathioprin hấp thu được dễ dàng qua đường tiêu hóa và đạt nồng độ đỉnh trong máu 1 – 2 giờ sau khi uống. Azathioprin bị phân giải nhanh thành mercaptopurin do chuyển hóa mạnh và chỉ còn một phần nhỏ là azathioprin. Với liều thường dùng, nồng độ azathioprin và chất phân giải mercaptopurin trong máu thường dưới 1 microgam/ml. Cả hai chất này liên kết vừa phải với protein huyết tương (30%) và có thể thẩm tách được. Chuyển hóa tiếp được thực hiện chủ yếu ở gan nhờ enzym xanthin oxydase và ở hồng cầu. Các chất chuyển hóa của azathioprin được đào thải ra nước tiểu. Chỉ có một lượng nhỏ azathioprin và mercaptopurin đào thải nguyên vẹn (1 – 2%).

Nồng độ thuốc trong máu ít có giá trị để tiên đoán hiệu quả điều trị, vì mức độ và hiệu quả lâm sàng tương quan với nồng độ nucleotid thiopurin trong mô hơn là trong huyết tương. Nửa đời của các chất chuyển hóa có chứa S khoảng 5 giờ.

Cả azathioprin và mercaptopurin đều bị oxy hóa hoặc methyl hóa ở hồng cầu và gan. Thuốc và các chất chuyển hóa thải trừ qua nước tiểu. Sau 8 giờ không còn thấy azathioprin hoặc mercaptopurin trong nước tiểu.

Sự chuyển thành acid 6-thiouric không hoạt tính nhờ xanthin oxidase là một quá trình giáng vị quan trọng. Nếu người bệnh dùng alopurinol để ức chế quá trình giáng vị này, thì phải giảm liều azathioprin.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Cellulose microcrystallin, natri croscarmellose, manitel, povidon, natri stearylfumarat, tinh bột ngô và Opadry clear OY-7240..

6.2. Tương kỵ :

Azathioprin ổn định trong dung dịch trung tính hoặc có pH acid, nhưng thủy phân thành mercaptopurin sẽ xảy ra nếu dư thừa natri hydroxyd (0,1N) đặc biệt khi nóng.

Sự chuyển thành mercaptopurin cũng xảy ra khi có các hợp chất sulfhydryl như cystein, glutathion và hydrogen sulfid.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Imazan do Công ty Douglas Manufacturing Ltd sản xuất (2018).

Ngân hàng dữ liệu ngành Dược.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM