Thuốc DIPRIVAN là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc DIPRIVAN (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Propofol
Phân loại: Thuốc gây mê cục bộ.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01AX10.
Brand name: DIPRIVAN.
Generic : Corden Pharma S.P.A – Ý (Cơ sở đóng gói: AstraZeneca UK Ltd)
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Nhũ tương tiêm/truyền: hộp 5 ống 20mL, hộp 1 bơm tiêm có sẵn thuốc 50mL.
Mỗi mL: Propofol 10mg.
Thuốc tham khảo:
| DIPRIVAN 1% | ||
| Mỗi ml nhũ dịch tiêm có chứa: | ||
| Propofol | …………………………. | 10 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Diprivan là một thuốc gây mê tĩnh mạch tác dụng ngắn dùng cho:
– Dẫn mê và duy trì mê ở người lớn và trẻ em >1 tháng tuổi.
– An thần ở bệnh nhân >16 tuổi đang được thông khí hỗ trợ trong đơn vị chăm sóc đặc biệt.
– An thần cho các phẫu thuật và thủ thuật chẩn đoán, dùng đơn độc hoặc kết hợp với thuốc gây mê vùng hoặc tại chỗ ở người lớn và trẻ em >1 tháng tuổi.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Diprivan không có đặc tính giảm đau, bởi vậy thường phải dùng thêm thuốc giảm đau với Diprivan.
Diprivan có thể được truyền tĩnh mạch không pha loãng qua bao bì thủy tinh, bơm tiêm nhựa hay bơm tiêm chứa sẵn Diprivan hoặc được dùng pha loãng, chỉ với loại dịch truyền tĩnh mạch Dextrose 5%, trong các túi nhựa PVC hoặc chai thủy tinh. Việc pha loãng, không quá 1 phần 5 (2 mg propofol/ml), phải được làm một cách vô trùng ngay trước khi truyền và phải sử dụng trong 6 giờ.
Khi sử dụng Diprivan pha loãng, lượng Dextrose 5% rút bỏ ra khỏi túi truyền được khuyến cáo bằng thể tích Diprivan thay thế (xem bảng “Pha loãng và dùng kèm với các thuốc hay với dịch truyền khác”).
Thuốc pha loãng có thể được dùng với nhiều kỹ thuật kiểm soát đường truyền đa dạng, nhưng một phương cách kiểm soát đơn độc sẽ không tránh được nguy cơ tai biến không kiểm soát được khi truyền quá nhiều Diprivan pha loãng. Phải thêm vào đường truyền 1 ống buret, máy đếm giọt hoặc bơm đo thể tích. Nguy cơ truyền không kiểm soát được phải được nghĩ tới khi quyết định thể tích tối đa Diprivan trong ống buret.
Khi sử dụng Diprivan không pha loãng để duy trì mê, các thiết bị như bơm tiêm, bơm truyền nên được sử dụng để kiểm soát tốc độ truyền.
Diprivan có thể được tiêm truyền qua một nhánh hình chữ Y gần vùng tiêm, vào trong các dịch truyền sau:
– Dịch truyền tĩnh mạch Dextrose 5%,
– Dịch truyền Natri chlorid 0,9%,
– Dịch truyền Dextrose 4% với Natri Chlorid 0,18%.
Bơm tiêm thủy tinh có chứa sẵn thuốc (pre-filled syringe PFS) có lực cản ma sát thấp hơn so với bơm tiêm nhựa dùng một lần và dễ sử dụng hơn. Vì vậy, nếu Diprivan được sử dụng với bơm tiêm cầm tay chứa sẵn thuốc, đường truyền giữa bơm tiêm và bệnh nhân không được để hở mà không được giám sát.
Khi dạng bơm tiêm chứa sẵn thuốc được dùng với bơm máy, thì phải đảm bảo tính tương thích phù hợp. Cụ thể, bơm nên được thiết kế để tránh bị rút ngược và nên có hệ thống báo động tình trạng bị tắc nghẽn được cài đặt với áp suất không được lớn hơn 1000mmHg. Nếu sử dụng bơm chương trình hoá hoặc bơm tương đương mà cho phép sử dụng các bơm tiêm khác nhau, chỉ chọn chế độ “B-D” 50/60 ml ‘PLASTIPAK’ khi lắp bơm tiêm chứa sẵn Diprivan.
Diprivan có thể trộn trước với alfentanil dạng tiêm chứa 500 microgram/mL alfentanil với tỷ lệ 20:1 đến 50:1 v/v. Hỗn hợp thuốc nên được chuẩn bị bằng kỹ thuật vô trùng và sử dụng trong vòng 6 giờ.
Để giảm đau lúc khởi đầu tiêm chích, phần Diprivan có thể được pha thêm với lidocaine dạng tiêm không có chất bảo quản 0,5% hoặc là 1% (xem bảng “Pha loãng và dùng kèm với các thuốc hay với dịch truyền khác”).
PHƯƠNG PHÁP GÂY MÊ BẰNG CÁCH TRUYỀN TĨNH MẠCH KIỂM SOÁT NỒNG ĐỘ Ở MÔ ĐÍCH (TARGET CONTROLLED INFUSION – TCI) – CÁCH SỬ DỤNG DIPRIVAN QUA HỆ THỐNG ‘DIPRIFUSOR’ TCI Ở NGƯỜI LỚN
Sử dụng Diprivan qua hệ thống ‘Diprifusor’ TCI chỉ giới hạn ở dẫn mê và duy trì mê trong gây mê ở người lớn. Dạng trình bày này không được khuyến cáo sử dụng cho an thần ở khoa phòng chăm sóc đặc biệt (ICU) hoặc an thần cho phẫu thuật và các thủ thuật chuẩn đoán hoặc ở trẻ em.
Diprivan chỉ có thể được sử dụng bằng phương pháp TCI qua hệ thống ‘Diprifusor’ TCI phối hợp với phần mềm Diprifusor TCI. Các hệ thống trên chỉ hoạt động khi nhận ra bơm tiêm có sẵn thuốc Diprivan qua thiết bị điện tử (electronic tag) gắn trên bơm tiêm. Hệ thống ‘Diprifusor’ TCI sẽ tự động điều chỉnh tốc độ truyền phù hợp với nồng độ Diprivan xác định. Người sử dụng phải thành thạo cách bơm tiêm truyền, cách dùng Diprivan qua phương pháp TCI và dùng đúng hệ thống nhận dạng bơm tiêm.
Hệ thống Diprifusor cho phép bác sĩ gây mê đạt được và kiểm soát tốc độ dẫn mê, độ sâu của gây mê mong muốn bằng cách thiết lập và điều chỉnh nồng độ propofol mục tiêu trong máu (được dự đoán trước). Phương pháp thay thế bằng cách truyền tĩnh mạch kiểm soát nồng độ tại mô đích (não) có thể thực hiện ở một số Diprifusor, nhưng độ an toàn và hiệu quả chưa được thiết lập.
Hệ thống ‘Diprifusor’ TCI giả định nồng độ ban đầu của propofol trong máu bệnh nhân là bằng 0. Vì vậy, đối với những bệnh nhân đã sử dụng propofol trước đó, có thể cần phải chọn nồng độ mục tiêu ban đầu trong máu thấp hơn khi bắt đầu sử dụng ‘Diprifusor’ TCI. Tương tự, không khuyến cáo dùng lại ngay ‘Diprifusor’ TCI khi đã tắt bơm máy.
Hướng dẫn đạt được nồng độ propofol mục tiêu như sau: vì dược động và dược lực của propofol thay đổi trên những bệnh nhân khác nhau, ở cả bệnh nhân được tiền mê và không được tiền mê, nồng độ propofol mục tiêu nên được xác định dựa vào đáp ứng của bệnh nhân nhằm đạt được độ mê sâu cần thiết.
DẪN MÊ VÀ DUY TRÌ MÊ TRONG GÂY MÊ
Trên người lớn <55 tuổi, thường dẫn mê với nồng độ propofol mục tiêu trong khoảng từ 4 đến 8 microgram/ml. Nồng độ mục tiêu khởi đầu được khuyến cáo ở bệnh nhân được tiền mê là 4 microgram/ml và ở bệnh nhân không được chuẩn mê là 6 microgram/ml. Thời gian dẫn mê với những nồng độ mục tiêu này thường kéo dài trong vòng 60-120 giây. Nồng độ mục tiêu cao hơn sẽ cho phép dẫn mê nhanh hơn khi gây mê nhưng có thể kèm với tình trạng suy giảm huyết động học và hô hấp rõ rệt hơn.
Nồng độ mục tiêu khởi đầu thấp hơn nên được áp dụng cho những bệnh nhân lớn hơn 55 tuổi và những bệnh nhân nhóm 3 và 4 theo phân loại ASA. Sau đó nồng độ mục tiêu có thể tăng lên từng mức từ 0,5 đến 1,0 microgram/ml mỗi một phút để đạt đến trạng thái dẫn mê từ từ.
Thông thường cần bổ sung thuốc giảm đau và nồng độ mục tiêu của duy trì mê có thể giảm xuống do ảnh hưởng của lượng thuốc giảm đau được sử dụng đồng thời. Nồng độ propofol mục tiêu trong khoảng 3 đến 6 microgram/ml thường duy trì được tình trạng mê mong muốn.
Nồng độ propofol dự đoán lúc tỉnh thường là 1,0 đến 2,0 microgram/ml và sẽ bị ảnh hưởng bởi lượng thuốc giảm đau sử dụng trong lúc duy trì mê.
PHA LOÃNG VÀ DÙNG KÈM VỚI CÁC THUỐC HAY VỚI DỊCH TRUYỀN KHÁC (xem thêm phần “Các thận trọng khác”).

Lắc kỹ trước khi dùng. Mọi phần thừa còn lại sau khi dùng phải được bỏ đi.
Diprivan không được pha trộn trước với các thuốc tiêm hay dịch truyền tĩnh mạch ngoại trừ Dextrose 5% hoặc thuốc tiêm Lidocaine (xem phần “Cách sử dụng”).
Liều dùng:
Xin xem các hướng dẫn chuyên biệt về cách sử dụng Diprivan cho Hệ Thống Truyền Tĩnh Mạch kiểm soát nồng độ ở mô đích (Target Controlled Infusion: TCI) phối hợp với phần mềm ‘Diprifusor’ TCI, xem phần “Cách dùng”. Cách sử dụng này chỉ giới hạn để dẫn mê và duy trì mê ở người lớn. Hệ thống ‘Diprifusor’ TCI không được khuyến cáo sử dụng cho an thần ở khoa phòng chăm sóc đặc biệt (ICU sedation), hoặc an thần cho các phẫu thuật và thủ thuật chuẩn đoán, hoặc ở trẻ em.
DẪN MÊ
Người lớn: Ở bệnh nhân không có tiền mê và bệnh nhân đã có tiền mê, nên điều chỉnh Diprivan (khoảng 4 ml [40 mg] mỗi 10 giây cho một người lớn khỏe mạnh, cân nặng trung bình bằng cách tiêm hay truyền tĩnh mạch) theo đáp ứng của bệnh nhân cho đến khi bệnh nhân có dấu hiệu bắt đầu mê. Đa số người lớn dưới 55 tuổi cần 1,5- 2,5 mg Diprivan/kg. Tổng liều có thể giảm bằng cách giảm tốc độ tiêm truyền (2-5 ml/phút [20-50 mg/phút]). Trên 55 tuổi, liều dùng thường ít hơn. Ở bệnh nhân phân độ ASA 3 và 4, nên tiêm truyền ở tốc độ chậm hơn (khoảng 2 ml [20 mg] mỗi 10 giây).
Người cao tuổi: Ở bệnh nhân cao tuổi, liều yêu cầu để dẫn mê bằng Diprivan được giảm bớt. Khi giảm liều, nên xem xét đến tình trạng thể chất và tuổi tác của bệnh nhân. Nên truyền liều đã giảm này ở tốc độ chậm hơn và điều chỉnh liều theo đáp ứng.
Trẻ em
Diprivan không nên dùng dẫn mê ở trẻ em dưới 1 tháng tuổi.
Khi dùng để dẫn mê ở trẻ em trên 1 tháng tuổi, Diprivan nên được điều chỉnh chậm cho đến lúc có dấu hiệu lâm sàng của tình trạng bắt đầu mê. Phải điều chỉnh liều lượng theo tuổi và/hoặc cân nặng. Đa số bệnh nhi trên 8 tuổi có thể cần khoảng 2,5 mg Diprivan/kg cân nặng để dẫn mê. Ở bệnh nhi dưới 8 tuổi, đặc biệt ở độ tuổi 1 tháng đến 3 năm, liều yêu cầu có thể cao hơn (2,5-4 mg/kg cân nặng).
Nên dùng liều thấp hơn đối với bệnh nhi phân độ ASA 3 và 4 (xem phần “Cảnh báo”).
Không khuyến cáo sử dụng Diprivan qua hệ thống ‘Diprifusor’ TCI để dẫn mê ở trẻ em.
DUY TRÌ MÊ
Người lớn: Có thể duy trì mê bằng cách truyền liên tục hoặc tiêm tĩnh mạch nhiều lần để tránh các dấu hiệu mê nông. Hồi tỉnh mê thường nhanh, bởi vậy việc duy trì dùng Diprivan đến khi kết thúc thủ thuật là cần thiết.
Truyền liên tục: Tốc độ truyền thay đổi đáng kể giữa các bệnh nhân nhưng tốc độ trong khoảng từ 4 đến 12 mg/kg/giờ thường duy trì mê tốt.
Tiêm tĩnh mạch nhiều lần: Nếu dùng kỹ thuật tiêm tĩnh mạch nhiều lần, có thể tiêm mỗi đợt từ 25 mg (2,5 ml) đến 50 mg (5 ml) tùy nhu cầu lâm sàng.
Người cao tuổi: Khi dùng Diprivan để duy trì mê, cũng nên giảm tốc độ truyền hoặc giảm “nồng độ thuốc mục tiêu”. Yêu cầu giảm hơn nữa về liều và tốc độ liều ở bệnh nhân phân độ ASA 3 và 4. Không nên tiêm tĩnh mạch nhanh (liều đơn hoặc lặp lại) cho bệnh nhân cao tuổi vì điều này có thể dẫn đến tình trạng trụy tim mạch hô hấp.
Trẻ em
Diprivan không nên dùng để duy trì mê ở trẻ em dưới 1 tháng tuổi.
Có thể dùng Diprivan duy trì mê ở trẻ em trên 1 tháng tuổi bằng cách truyền hoặc tiêm tĩnh mạch nhắc lại nhiều lần để duy trì mức độ sâu của mê cần thiết. Tốc độ tiêm hoặc truyền thay đổi rất nhiều giữa các bệnh nhân nhưng tốc độ trong khoảng 9-15 mg/kg/giờ thường đạt được yêu cầu kết quả gây mê tốt. Ở trẻ nhỏ hơn, đặc biệt từ 1 tháng tuổi đến 3 năm tuổi, nhu cầu liều có thể cao hơn.
Khuyến cáo dùng liều thấp hơn ở bệnh nhân phân độ ASA 3 và 4 (xem phần “Cảnh báo”).
Sử dụng Diprivan qua hệ thống ‘Diprifusor’ TCI không được khuyến cáo để duy trì mê ở trẻ em.
AN THẦN KHI CHĂM SÓC ĐẶC BIỆT
Người lớn
Khi dùng để an thần trong đơn vị chăm sóc đặc biệt, nên truyền Diprivan liên tục. Tốc độ truyền nên được xác định bằng độ sâu an thần mong muốn. Ở hầu hết bệnh nhân, an thần đầy đủ có thể đạt được với liều Diprivan 0,3 đến 4,0 mg/kg/giờ (xem phần “Cảnh báo”). Chống chỉ định dùng Diprivan để an thần khi chăm sóc đặc biệt ở bệnh nhân ≤16 tuổi (xem phần “Chống chỉ định”).
Sử dụng Diprivan qua hệ thống ‘Diprifusor’ TCI không được khuyến cáo dùng để an thần khi chăm sóc đặc biệt.
Diprivan có thể được pha loãng với Dextrose 5% (xem bảng “Pha loãng và dùng kèm với các thuốc hay với dịch truyền khác”).
Nên theo dõi nồng độ lipid máu khi dùng Diprivan ở bệnh nhân được cho là có nguy cơ bị quá tải chất béo. Phải chỉnh liều Diprivan thích hợp nếu sự theo dõi cho thấy mỡ không được thanh lọc khỏi cơ thể một cách thích hợp. Nếu bệnh nhân đang được truyền tĩnh mạch cùng lúc một dung dịch lipid khác, nên giảm liều dung dịch này để bù trừ cho lượng lipid sẽ được truyền nằm trong công thức bào chế Diprivan; 1,0 ml Diprivan chứa khoảng 0,1 g chất béo.
Nếu thời gian an thần trên 3 ngày, lipid nên được theo dõi ở tất cả bệnh nhân.
Người cao tuổi: Tốc độ truyền nên được giảm khi sử dụng Diprivan để an thần. Ở bệnh nhân phân độ ASA độ 3 và 4, cần giảm liều và tốc độ tiêm truyền. Không nên tiêm tĩnh mạch nhanh (liều đơn hoặc lặp lại) cho bệnh nhân lớn tuổi vì điều này có thể dẫn đến tình trạng trụy tim mạch hô hấp.
Trẻ em: Chống chỉ dùng Diprivan cho an thần ở bệnh nhân ≤16 tuổi đang được thông khí hỗ trợ trong chăm sóc đặc biệt.
AN THẦN CHO PHẪU THUẬT VÀ THỦ THUẬT CHẨN ĐOÁN
Người lớn
Để an thần cho phẫu thuật và thủ thuật chẩn đoán, tốc độ dùng nên được điều chỉnh cho từng cá nhân tùy theo đáp ứng lâm sàng.
Phần lớn bệnh nhân cần dùng liều 0,5-1 mg/kg trong 1-5 phút để khởi đầu cho an thần.
Duy trì an thần có thể cũng điều chỉnh liều tiêm truyền Diprivan đến mức cần thiết trên lâm sàng, phần lớn bệnh nhân cần dùng liều 1,5-4,5 mg/kg/giờ. Cùng với truyền tĩnh mạch, tiêm tĩnh mạch 10-20 mg mỗi lần có thể được dùng để tăng nhanh độ sâu an thần khi thấy cần thiết. Ở bệnh nhân phân độ ASA độ 3 và 4, tốc độ tiêm truyền và liều lượng cần phải giảm.
Sử dụng Diprivan qua hệ thống ‘Diprifusor’ TCI không được khuyến cáo dùng để an thần cho phẫu thuật và thủ thuật chuẩn đoán.
Người cao tuổi: Khi dùng Diprivan để an thần, cũng nên giảm tốc độ truyền hoặc giảm ‘nồng độ thuốc mục tiêu’. Bệnh nhân phân độ ASA 3 và 4 sẽ cần giảm liều và tốc độ truyền hơn nữa. Không nên tiêm tĩnh mạch nhanh (liều đơn hoặc lặp lại) cho bệnh nhân lớn tuổi vì điều này có thể dẫn đến tình trạng trụy tim mạch-hô hấp.
Trẻ em
Diprivan không nên dùng để an thần trong phẫu thuật và thủ thuật chuẩn đoán cho trẻ em dưới 1 tháng tuổi.
Ở trẻ trên 1 tháng tuổi, liều và tốc độ nên được điều chỉnh theo đáp ứng lâm sàng và độ sâu an thần yêu cầu. Hầu hết bệnh nhi cần 1-2 mg/kg cân nặng cho khởi đầu an thần. Duy trì an thần có thể được diễn ra bằng việc điều chỉnh truyền Diprivan đến khi đạt được mức độ an thần mong muốn. Hầu hết bệnh nhân cần 1,5-9 mg/kg/giờ Diprivan. Có thể bổ sung việc truyền bằng cách tiêm tĩnh mạch lên đến 1 mg/kg cân nặng nếu muốn tăng nhanh độ sâu an thần.
Nên dùng liều thấp ở bệnh nhân phân độ ASA 3 và 4.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với dược chất hoặc bất kỳ tá dược nào.
Diprivan có chứa dầu đậu nành, không nên sử dụng cho bệnh nhân có quá mẫn với đậu nành hoặc đậu phộng.
Diprivan không được sử dụng ở bệnh nhân ≤16 tuổi để an thần cho chăm sóc đặc biệt (xem phần “Cảnh báo”).
4.4 Thận trọng:
Diprivan phải được dùng bởi những người đã được huấn luyện về gây mê (hoặc ở nơi thích hợp, bởi các bác sĩ đã được huấn luyện về chăm sóc bệnh nhân ở khoa hồi sức).
Bệnh nhân nên được theo dõi liên tục kỹ lưỡng và nên có sẵn các phương tiện để giữ thông đường thở, thở máy, oxy và các thiết bị hồi sức khác. Diprivan không được dùng bởi những người tham gia thủ thuật chẩn đoán hay phẫu thuật.
Sự lạm dụng và phụ thuộc vào Diprivan, phần lớn bởi các cán bộ y tế đã được ghị nhận. Như các thuốc gây mê khác, sử dụng Diprivan mà không hỗ trợ đường hô hấp có thể dẫn đến biến chứng hô hấp gây tử vong.
Khi dùng Diprivan để an thần nhẹ cho thủ thuật ngoại khoa và chẩn đoán, bệnh nhân cần được theo dõi liên tục các dấu hiệu sớm của hạ huyết áp, tắc nghẽn đường hô hấp và mất bão hòa oxy.
Cũng như các thuốc an thần khác, khi dùng Diprivan để an thần trong phẫu thuật, những cử động không chủ ý của bệnh nhân có thể xảy ra. Trong tiến trình phẫu thuật đòi hỏi bệnh nhân phải nằm bất động, các cử động này có thể gây nguy hiểm đối với vị trí phẫu thuật.
Cần một khoảng thời gian thích hợp trước khi chuyển bệnh nhân đi để bảo đảm bệnh nhân đã hoàn toàn hồi tỉnh sau khi dùng Diprivan. Rất hiếm khi việc sử dụng Diprivan liên quan đến giai đoạn mất ý thức sau phẫu thuật, có thể kèm theo tăng trương lực cơ. Điều này có thể hay không thể được báo trước bằng một giai đoạn thức tỉnh. Mặc dù sự hồi tỉnh có thể xảy ra tự nhiên, nhưng cần chăm sóc thích hợp như đối với bệnh nhân mất ý thức.
Rối loạn do Diprivan thường không còn sau 12 giờ. Những ảnh hưởng của Diprivan, thủ thuật, thuốc dùng kèm, tuổi và tình trạng bệnh nhân nên được cân nhắc khi tư vấn cho bệnh nhân về:
– Sự cần thiết của việc đi cùng bệnh nhân rời khỏi phòng thủ thuật.
– Thời gian bắt đầu lại các hoạt động đòi hỏi có kỹ năng hoặc hoạt động nguy hiểm như lái xe.
– Sử dụng thuốc có thể gây an thần (ví dụ benzodiazepines, opiates, alcohol).
Cũng như các loại thuốc gây mê đường tĩnh mạch khác, phải thận trọng khi dùng ở bệnh nhân có tổn thương tim, phổi, thận, gan, giảm thể tích tuần hoàn hoặc suy kiệt. Độ thanh thải của Diprivan phụ thuộc lưu lượng máu, bởi vậy, thuốc dùng kèm làm giảm cung lượng tim cũng có thể làm giảm độ thanh thải của Diprivan.
Diprivan không có hoạt tính ức chế thần kinh phế vị và đã có các báo cáo về tình trạng nhịp tim chậm (đôi khi rất nặng) và vô tâm thu. Nên nghĩ tới việc dùng một thuốc kháng phó giao cảm đường tĩnh mạch trước dẫn mê hoặc lúc duy trì mê, nhất là khi trương lực phó giao cảm có nhiều khả năng chiếm ưu thế hoặc khi Diprivan được dùng kèm với các thuốc có khả năng gây chậm nhịp tim.
Như với các thuốc an thần gây mê đường tĩnh mạch khác, bệnh nhân nên được hướng dẫn tránh uống rượu trước và sau ít nhất 8 tiếng sử dụng Diprivan.
Trong quá trình sử dụng liều tải (bolus) Diprivan cho phẫu thuật, cực kỳ thận trọng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp hoặc ức chế hô hấp.
Sử dụng chung với các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương như rượu, thuốc gây mê, thuốc giảm đau gây nghiện sẽ làm tăng tác dụng an thần của thuốc. Khi kết hợp Diprivan với các thuốc giảm đau trung ương, suy tim mạch và suy hô hấp nghiêm trọng có thể xảy ra. Diprivan nên được dùng cùng với thuốc giảm đau, liều nên được điều chỉnh cẩn thận dựa trên đáp ứng của bênh nhân (xem phần “Tương tác”).
Trong quá trình dẫn mê, hạ huyết áp và ngưng thở thoáng qua có thể xảy ra phụ thuộc vào liều và việc sử dụng các thuốc tiền mê và các tác nhân khác.
Đôi khi, sử dụng dịch truyền và giảm tốc độ truyền Diprivan trong suốt quá trình duy trì mê có thể được yêu cầu nếu có hạ huyết áp.
Khi dùng Diprivan ở bệnh nhân động kinh, có thể có nguy cơ co giật.
Phải chăm sóc thích hợp bệnh nhân có rối loạn chuyển hóa mỡ và các bệnh trạng khác mà nhũ tương lipid phải được sử dụng một cách thận trọng.
Không khuyến cáo sử dụng với liệu pháp co giật điện.
Giống các thuốc gây mê khác, hành vi tình dục không kiểm soát có thể diễn ra trong quá trình hồi tỉnh.
Trẻ em
Không khuyến cáo dùng Diprivan trên trẻ sơ sinh vì dân số bệnh nhân này chưa được nghiên cứu đầy đủ. Dữ liệu dược động học (xem phần “Đặc tính dược động”) cho thấy độ thanh thải giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh và biến đổi lớn giữa các cá thể. Khi dùng liều khuyến cáo ở trẻ lớn tuổi hơn, có thể gây ra tình trạng quá liều tương đối ở trẻ sơ sinh và kết quả là gây ức chế tim mạch-hô hấp nghiêm trọng.
Không sử dụng propofol ở bệnh nhân ≤16 tuổi đang được chăm sóc đặc biệt để an thần vì an toàn và hiệu quả của propofol để an thần ở nhóm tuổi này chưa được thiết lập (xem phần “Chống chỉ định”).
Các khuyến cáo liên quan đến việc dùng thuốc trong Khoa Phòng Chăm sóc đặc biệt (ICU)
Truyền nhũ tương propofol để an thần tại khoa phòng chăm sóc đặc biệt có liên quan với sự rồi loạn chuyển hóa và suy giảm hệ thống cơ quan có thể dẫn đến tử vong. Đã nhận được các báo cáo sau: nhiễm toan chuyển hóa, tiêu cơ vân, tăng kali huyết, gan to, suy thận, tăng lipid máu, loạn nhịp tim, điện tâm đồ kiểu Brugada (đoạn ST chênh lên dạng vòm và sóng T) và suy tim tiến triển nhanh chóng thường không đáp ứng với điều trị hỗ trợ. Sự phối hợp của các biến cố này được gọi là hội chứng truyền propofol. Những biến cố này chủ yếu được ghi nhận ở những bệnh nhân bị chấn thương nặng ở đầu và trẻ em bị nhiễm khuẩn đường hô hấp mà được điều trị với mức liều vượt quá mức đươc khuyến cáo ở người lớn để an thần trong đơn vị chăm sóc đặc biệt.
Các yếu tố sau đây có thể là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến các biến cố này: Giảm cung cấp oxy đến các mô, tổn thương và/hoặc nhiễm trùng nặng hệ thần kinh, sử dụng liều cao một hoặc nhiều thuốc sau đây – các thuốc gây co mạch, steroid, thuốc ảnh hưởng lên sức co cơ tim và/hoặc Diprivan (thường ở liều cao hơn 4mg/kg/giờ trong hơn 48 giờ).
Người kê đơn nên cảnh báo các biến cố này cho bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ trên và nhanh chóng cân nhắc giảm liều hoặc ngừng Diprivan khi có các dấu hiệu trên. Tất cả các thuốc dùng an thần và điều trị được sử dụng trong ICU nên được chuẩn liều để duy trì sự cung cấp oxy tối ưu và các tham số huyết động khác. Bệnh nhân có tăng áp lực nội sọ (ICP) nên được điều trị thích hợp để hỗ trợ áp lực tưới máu não trong suốt quá trình điều chỉnh này.
Bác sỹ điều trị cần được nhắc nhở nếu có thể không nên vượt quá mức liều 4mg/kg/giờ.
Phải chăm sóc thích hợp bệnh nhân có rối loạn chuyển hóa mỡ và các bệnh nhân khác mà nhũ tương dầu phải được sử dụng một cách thận trọng.
Nên theo dõi nồng độ lipid máu khi dùng propofol ở bệnh nhân được cho là có nguy cơ bị quá tải chất béo. Phải chỉnh liều propofol thích hợp nếu sự theo dõi cho thấy mỡ không được thanh lọc khỏi cơ thể một cách thích hợp. Nếu bệnh nhân đang được truyền tĩnh mạch cùng lúc một dung dịch lipid khác, nên giảm liều dung dịch này để bù trừ cho lượng lipid sẽ được truyền nằm trong công thức bào chế propofol; 1,0 ml Diprivan chứa khoảng 0,1 g chất béo.
Diprivan chứa 0,0018 mmol muối trên 1ml. Phải cân nhắc cho bệnh nhân có chế độ ăn kiểm soát muối.
THẬN TRỌNG
Nên thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân có bệnh ty thể. Những bệnh nhân này dễ bị rối loạn cấp khi trải qua quá trình gây mê, phẫu thuật và chăm sóc đặc biệt. Nên duy trì thân nhiệt bình thường, cung cấp carbohydrate và hydrate tốt cho những bệnh nhân này. Biểu hiện sớm của đợt cấp bệnh ty thể và ‘hội chứng truyền propofol’ tương tự nhau.
Diprivan không chứa các chất bảo quản kháng khuẩn và hỗ trợ sự phát triển của vi sinh vật.
EDTA tạo phức với các ion kim loại trong đó có kẽm, và làm giảm sự phát triển của vi sinh vật. Khi dùng lâu dài Diprivan, nên xem xét sự cần thiết của việc bổ sung kẽm đối với những bệnh nhân có nguy cơ thiếu kẽm, đặc biệt ở bệnh nhân bị bỏng, tiêu chảy và/hoặc nhiễm khuẩn nặng.
Khi bơm rút Diprivan, phải lấy thuốc ra một cách vô trùng vào một ống tiêm vô trùng hoặc vào bộ đồ truyền ngay sau khi mở ống tiêm hoặc bẻ gãy dấu niêm phong của lọ thuốc. Phải dùng liền, không chậm trễ. Sự vô trùng phải được duy trì cho cả Diprivan lẫn bộ dụng cụ để truyền trong suốt quá trình truyền. Bất kỳ dịch truyền nào thêm vào đường truyền Diprivan phải được tiến hành gần chỗ vị trí ống cannula. Không nên truyền Diprivan qua màng lọc vi sinh.
Diprivan và mọi ống tiêm chích chứa Diprivan là để dùng một lần duy nhất trên một bệnh nhân. Giống như các hướng dẫn về việc truyền các nhũ tương lipid khác, một lần truyền Diprivan không nên vượt quá 12 giờ. Sau khi truyền xong hoặc hết hạn 12 giờ, tùy theo điều nào xảy ra trước, cả bình chứa propofol lẫn dây truyền phải bị hủy bỏ và thay thế thích hợp.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Diprivan ảnh hưởng trung bình trên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Phải thông báo cho bệnh nhân biết là các công việc đòi hỏi kỹ năng như lái xe hoặc vận hành máy móc có thể bị rối loạn một thời gian sau khi sử dụng thuốc mê.
Những rối loạn do Diprivan thường không còn sau 12 giờ.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: C
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Tính an toàn của Diprivan trên phụ nữ có thai chưa được thiết lập. Không nên dùng Diprivan cho phụ nữ có thai trừ khi thật cần thiết. Tuy nhiên có thể dùng Diprivan trong quá trình phá thai.
Sản khoa: Diprivan qua nhau và có thể gây ra suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Không nên dùng Diprivan để gây mê trong sản khoa trừ khi thật cần thiết.
Thời kỳ cho con bú:
Những nghiên cứu trên phụ nữ cho con bú cho thấy một lượng nhỏ Diprivan bài tiết vào nữa mẹ. Vì vậy, phụ nữ không nên cho con bú trong vòng 24 giờ sau khi dùng Diprivan. Cần bỏ sữa tiết ra trong thời gian này.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Toàn thân
Dẫn mê và duy trì mê hay an thần thường nhẹ nhàng với ít biểu hiện kích thích. Các tác dụng ngoại ý được ghi nhận thường nhất là các phản ứng dược lý của nhóm thuốc gây mê/an thần có thể dự đoán trước, như hạ huyết áp. Bản chất, mức độ nghiêm trọng và tần suất các tác dụng ngoại ý quan sát thấy ở những bệnh nhân dùng Diprivan có thể liên quan đến tình trạng bệnh nhân và thủ thuật điều trị hay phẫu thuật.
Tần suất được xác định như sau: Rất thường gặp (>1/10), thường gặp (≥1/100 đến <1/10), ít gặp (≥1/1000 đến 1/100), hiếm gặp (≥1/10000 đến <1/1000), rất hiếm gặp (<1/10000), không xác định (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn).

Tại chỗ: Đau tại chỗ có thể xảy ra khi dẫn mê bằng Diprivan có thể được giảm thiểu bằng cách phối hợp với lidocaine (xem phần “Liều lượng và Cách dùng”) và bằng cách sử dụng các tĩnh mạch có kích thước lớn ở cánh tay và hố trước xương trụ. Hiếm gặp huyết khối và viêm tĩnh mạch. Những nghiên cứu lâm sàng trên người và trên động vật về biến cố tiêm thuốc thoát mạch cho thấy phản ứng mô ở mức tối thiểu. Tiêm vào động mạch ở động vật không gây ra tác dụng mô tại chỗ.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Nếu xảy ra hạ huyết áp và/hoặc nhịp tim chậm, điều trị bao gồm tăng tốc độ truyền dịch tĩnh mạch, nâng cao chi dưới, dùng các thuốc nâng huyết áp, hoặc dùng atropin. Có thể giảm tối thiểu đau buốt cục bộ nhất thời ở nơi tiêm nhũ dịch propofol nếu sử dụng những tĩnh mạch lớn ở cẳng tay. Cũng có thể giảm đau khi tiêm tĩnh mạch propofol bằng cách tiêm tĩnh mạch trước đó lidocain (1 ml dung dịch 1%).
Không được ngừng đột ngột tiêm tĩnh mạch nhũ dịch propofol.
Chỉ có thể dùng propofol khi có phương tiện hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn vì nguy cơ suy hô hấp và tuần hoàn rất hay gặp.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Diprivan đã được dùng kết hợp với gây tê tủy sống và gây tê ngoài màng cứng và với các thuốc tiền mê thông dụng, các thuốc ức chế thần kinh cơ, các thuốc gây mê qua đường thở và thuốc giảm đau; không ghi nhận được sự tương kỵ về dược lý nào. Diprivan có thể dùng ở liều thấp khi mà gây mê được dùng như một biện pháp hỗ trợ với kỹ thuật gây tê vùng. Tăng huyết áp nghiêm trọng đã được báo cáo sau khi gây mê bằng propofol ở bệnh nhân đã được điều trị bằng rifampicin.
Việc dùng đồng thời với các thuốc ức chế thần kinh trung ương như thuốc tiền mê, thuốc dùng đường hít, thuốc giảm đau có thể làm tăng tác dụng an thần, gây mê và ức chế tim mạch hô hấp của Diprivan (xem phần “Cảnh báo”).
4.9 Quá liều và xử trí:
Quá liều do tai biến có thể gây suy hô hấp tuần hoàn. Phải xử trí tình trạng suy hô hấp bằng thông khí nhân tạo với ôxy. Khi bệnh nhân bị suy tuần hoàn, cần cho bệnh nhân nằm với đầu thấp và bồi hoàn thể tích và các thuốc vận mạch nếu trầm trọng.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhũ dịch propofol để tiêm là một thuốc gây mê đường tĩnh mạch để khởi mê và duy trì trạng thái mê hoặc an thần. Tiêm tĩnh mạch một liều điều trị propofol gây mê nhanh thường trong vòng 40 giây kể từ lúc bắt đầu tiêm. Cũng như những thuốc gây mê tĩnh mạch tác dụng nhanh khác, nửa đời cân bằng máu – não xấp xỉ 1 đến 3 phút, và điều này được coi là sự khởi mê nhanh.
Tính chất dược lực của propofol phụ thuộc vào nồng độ điều trị của propofol trong máu. Nồng độ propofol trong máu ở trạng thái ổn định thường tỷ lệ với tốc độ tiêm truyền, đặc biệt với từng cá thể người bệnh. Các ADR như ức chế tim – hô hấp có thể xảy ra nhiều hơn khi nồng độ trong máu cao do tiêm thuốc nhanh vào tĩnh mạch hoặc tăng nhanh tốc độ tiêm truyền: Phải có một khoảng thời gian thích hợp (3 – 5 phút) giữa các đợt điều chỉnh liều lượng trên lâm sàng để đánh giá tác dụng của thuốc.
Tác dụng của propofol trên huyết động thay đổi trong khởi mê. Nếu duy trì thông khí tự nhiên, tác dụng trên tim mạch chủ yếu là giảm huyết áp động mạch, với thay đổi ít hoặc không thay đổi tần số tim và giảm không đáng kể cung lượng tim. Nếu thông khí hỗ trợ hoặc điều khiển (thông khí áp lực dương) mức độ và tỷ lệ giảm cung lượng tim tăng rõ rệt hơn. Việc dùng thêm một thuốc opioid có tác dụng mạnh (ví dụ, fentanyl) làm thuốc tiền mê sẽ làm giảm hơn nữa cung lượng tim và lực điều khiển hô hấp.
Nếu tiếp tục gây mê bằng tiêm truyền propofol, sự kích thích do đặt ống nội khí quản và phẫu thuật có thể làm huyết áp động mạch trở về bình thường. Tuy nhiên cung lượng tim có thể vẫn bị giảm. Hiếm thấy sự liên quan giữa propofol với mức tăng histamin huyết tương. Khởi mê bằng propofol thường kèm theo ngừng thở ở cả người lớn và trẻ em. Trong duy trì mê, propofol gây giảm thông khí, thường kết hợp với tăng áp suất carbon dioxyd, có thể rõ rệt tùy thuộc tốc độ cho thuốc và những thuốc khác dùng đồng thời (ví dụ thuốc opioid, thuốc an thần v.v.).
Propofol không ảnh hưởng đến tính phản ứng của mạch não đối với những thay đổi áp suất carbon dioxyd trong động mạch. Việc sử dụng propofol cũng làm giảm tỷ lệ và mức độ nặng của buồn nôn và nôn sau phẫu thuật.
Cơ chế tác dụng:
Propofol (2, 6-diisopropylphenol) là tác nhân gây mê tổng hợp tác dụng ngắn với khởi phát nhanh trong khoảng 30 giây. Phục hồi nhanh chóng. Cơ chế hoạt động, giống như tất cả các thuốc gây mê khác, chưa rõ. Tuy nhiên, propofol được cho là có tác dụng an thần / gây mê bằng cách ức chế chất dẫn truyền thần kinh GABA thông qua thụ thể GABAA.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Ớ người lớn, độ thanh thải propofol thay đổi từ 23 – 50 ml/kg/phút. Thuốc được thải trừ chủ yếu bằng liên hợp thành những chất chuyển hóa không có hoạt tính ở gan, và bài tiết qua thận. Khoảng 50% liều thuốc sử dụng là liên hợp glucuronic. Propofol có thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (tiêm truyền trong 10 ngày) gần bằng 60 lít/kg ở người lớn khỏe mạnh, giảm ở người cao tuổi. Nửa đời thải trừ (thuốc thải trừ theo 2 pha): Pha khởi đầu có nửa đời thải trừ 40 phút, pha cuối 4 – 7 giờ (nếu sau đợt truyền 10 ngày thì có thể lên đến 1 – 3 ngày).
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược : dầu nành tinh khiết, phosphatide của trứng được tinh khiết hóa, glycérol, sodium hydroxyde, nước cất pha tiêm.
6.2. Tương kỵ :
Các thuốc ức chế thần kinh cơ như atracurium và mivacurium không được cho qua cùng đường truyền tĩnh mạch với Diprivan nếu trước đó không bơm đẩy hết thuốc Diprivan trong đường truyền.
6.3. Bảo quản:
Diprivan phải được bảo quản ở nhiệt độ từ 2°C tới 25°C. Không được đông lạnh.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
MIMS Việt Nam (2018)
HDSD Thuốc Diprivan do Corden Pharma S.P.A sản xuất (2013).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.