1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Vincristine
Phân loại: Thuốc chống ung thư.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01CA02.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Vincristine Sulphate Pharmạchemie
Hãng sản xuất : Pharmạchemie B.V.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Dung dịch thuốc tiêm
Hộp 1 lọ 1mg/1ml
Thuốc tham khảo:
| VINCRISTINE SULPHATE PHARMẠCHEMIE 1 mg/ml | ||
| Mỗi ml dung dịch tiêm có chứa: | ||
| Vincristine | …………………………. | 1 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Dung dịch tiêm vincristin sulphat được sử dụng đơn độc hoặc phối hợp với các thuốc chống ung thư khác để điều trị:
Bệnh bạch cầu cấp dòng lympho.
U lympho ác tính, bao gồm bệnh Hodgkin và u lympho không Hodgkin.
Đa u tủy.
Các khối u rắn như ung thư vú (di căn), ung thư phổi tế bào nhỏ.
Sarcoma Ewing, sarcoma cơ vân thể bào thai, u ngoại bì thần kinh nguyên phát (như u nguyên bào tủy và u nguyên bào thần kinh), u Wilm và u nguyên bào võng mạc.
Ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn. Bệnh nhân bị ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn kháng trị với cắt bỏ lách hoặc điều trị ngắn ngày bằng adrenocorticosteroid thì có thể đáp ứng với vincristin nhưng không khuyến cáo sử dụng vincristin làm thuốc điều trị chính trong trường hợp này. Sử dụng vincristin với liều đề nghị hàng tuần trong 3 đến 4 tuần giúp lui bệnh lâu dài ở một số bệnh nhân. Nếu bệnh nhân không đáp ứng sau 3 đến 6 liều, thường các liều tiếp theo cũng không có hiệu quả.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Chỉ nên dùng vincristin sulphat đưới sự giám sát chặt chế của bác sĩ đã có kinh nghiệm sử dụng các thuốc gây độc tế bào.
Tiêm vincristin vào khoang nội tủy gây tử vong do nhiễm độc thần kinh. Có thể sử dụng vincristin sulphat theo đường tĩnh mạch bằng cách truyền hoặc tiêm bolus tĩnh mạch trong thời gian tối thiểu 1 phút qua một đường dịch truyền đang chảy.
Thận trọng: Phải đặc biệt lưu ý đưa kim tiêm đúng vào trong tĩnh mạch trước khi bơm thuốc. Cần thận trọng để tránh rò rỉ thuốc ra các mô mềm. Vincristin sulphat khi thoát mạch có thể gây kích ứng mạnh (xem mục Những cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng). Để tránh kích ứng mạch, cần xả dịch kĩ để rửa tĩnh mạch sau khi tiêm vincristin sulphat.
Cần tính toán chính xác liều vincristin sulphat và sử dụng hết sức thận trọng do dùng quá liều có thể gây ra các phản ứng bất lợi nghiêm trọng và thậm chí tử vong.
Không nên tăng liều cao hơn mức liều mang lại lợi ích điều trị
Các mức liều thường không quá 2mg. Cần kiểm tra số lượng bạch cầu trước và sau khi sử dụng mỗi liều.
Liều dùng:
Phải hết sức thận trong khi tính toán và lựa chọn liều để tiêm, do sử dụng quá liều có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí tử vong. Khi dùng đơn độc, các liều phải cách nhau 1 tuần. Khi phối hợp với các thuốc chống ung thư khác, tần suất sử dụng phụ thuộc vào phác đồ trị liệu.
Liều thông thường:
Người lớn: Liều thông thường dùng cho người lớn là 1,4 mg/m2 (tối đa 2 mg), tuần 1 lần.
Trẻ em: Với trẻ cân nặng từ 10 kg trở xuống, liều thông thường là 0,05 mng/kg, tuần 1 lần.
Với trẻ có thể dung nạp liều cao hơn, cân nặng trên 10 kg: 1,5-2,0 mg/m2, tuần 1 lần.
Liều lượng và tần suất sử dụng có thể được điều chỉnh tùy theo chỉ định điều trị, tình trạng của bệnh nhân, phác đồ trị liệu.
(1). Bệnh bạch cầu cấp đòng lympho:
Người lớn: Liều thông thường dùng cho người lớn là 1,4 mg/m2 (tối đa 2 mg), tuần 1 lần.
Trẻ em: Với trẻ cân nặng từ 10 kg trở xuống, liều thông thường là 0,05 mg/kg, tuần 1 lần.
Với trẻ có thể dung nạp liều cao hơn, cân nặng trên 10 kg: 1,5-2,0 mg/m2, tuần 1 lần.
Liều lượng và tần suất sử dụng có thể được điều chỉnh tùy theo tình trạng của bệnh nhân, phác đồ trị liệu.
(2). U lympho ác tính, bao gồm bệnh Hodgkin và u lympho không Hodgkin:
Người lớn: Liều thông thường đùng cho người lớn là 1,4 mg/m2 (tối đa 2 mg), tuần 1 lần.
Trẻ em: Với trẻ cân nặng từ 10 kg trở xuống, liều thông thường là 0,05 mg/kg, tuần 1 lần.
Với trẻ có thể dung nạp liều cao hơn, cân nặng trên 10 kg: 1,5-2,0 mg/m2, tuần 1 lần,
Liều lượng và tần suất sử đụng có thể được điều chính tùy theo tình trạng của bệnh nhân, phác đồ trị liệu.
(3). Đa u tủy
Người lớn: Liều thông thường dùng cho người lớn là 0,03- 1,4 mg/m2 (tối đa 2 mg), tuần 1 lần.
Trẻ em: Với trẻ cân nặng từ 10 kg trở xuống, liều thông thường là 0,05 mg/kg, tuần 1 lần.
Với trẻ có thể dung nạp liều cao hơn, cân nặng trên 10 kg: 1,5-2,0 mg/m2, tuần 1 lần.
Liều lượng và tần suất sử dụng có thể được điều chỉnh tay theo tình trạng của bệnh nhân, phác đồ trị liệu.
(4). Các khối u rắn như ung thư vú (di căn), ung thư phổi tế bào nhỏ:
Ung thư phối tế bào nhỏ: Người lớn: Liều thông thường dùng cho người lớn là 0,03- 1,4 mg/m2 (tối đa 2 mg), tuần 1 lần.
Liều dùng cho người lớn cho chỉ định còn lại và liều dùng cho trẻ em: như liều thông thườngkhuyến cáo chung trên đây.
Liều lượng và tần suất sử dụng có thể được điều chỉnh tùy theo tình trạng của bệnh nhân, phác đề trị liệu.
(5). Sarcoma Ewing, sarcoma cơ vân thể bào thai, u ngoại bì thần kinh nguyên phát (như u nguyên bào tủy và u nguyên bào thần kinh), u Wilm và u nguyên bào võng mạc:
Người lớn: Liều thông thường dùng cho người lớn là 1,4 mg/m2 (tối đa 2 mg), tuần 1 lần.
Trẻ em: Với trẻ cân nặng từ 10 kg trở xuống, liều thông thường là 0,05 mg/kg, tuần 1 lần.
Với trẻ có thể dung nạp liều cao hơn, cân nặng trên 10 kg: 1,5-2,0 mg/m2, tuần 1 lần.
Liều lượng và tần suất sử dụng có thể được điều chỉnh tùy theo tình trạng của bệnh nhân, phác đồ trị liệu.
(6). Ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn:
Người lớn: Liều thông thường dùng cho người lớn là 0,03 – l,4 mg/m2 (tối đa 2 mg), tuần 1 lần.
Trẻ em: Với trẻ cân nặng từ 10 kg trở xuống, liều thông thường là 0,05 mg/kg, tuần 1 lần.
Với trẻ có thể dung nạp liều cao hơn, cân nặng trên l0 kg: 1,5-2,0 mg/m2, tuần 1 lần.
Liều lượng và tần suất sử dụng có thể được điều chỉnh tùy theo tình trạng của bệnh nhân, phác đồ trị liệu.
Sử dụng vincristin với liều để nghị hàng tuần trong 3 đến 4 tuần giúp lui bệnh lâu dài ở một số bệnh nhân. Nếu bệnh nhân không đáp ứng sau 3 đến 6 liều, thường các liều tiếp theo cũng không có hiệu quả.
Người cao tuổi: Liều thông thường dùng cho người lớn vẫn thích hợp cho bệnh nhân cao tuổi.
Bệnh nhân suy gan: ở bệnh nhân suy gan hoặc có nồng độ bilirubin trực tiếp trong huyết thanh cao hơn 3 mg/100 ml, khuyến cáo giảm 50% liều vincristin sulphat. Do vincristin được chuyển, hóa ở gan và bài tiết qua mật,khuyến cáo giảm liều vincristin cho bệnh nhân tắc mật hoặc gặp các rồi loạn gan khác. Bệnh nhân mắc bệnh gan làm giảm tiết mật có thể gặp phải nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng hơn.
Trong trường hợp nhiễm độc thần kinh nặng, không nên dùng vincristin sulphat, đặc biệt là ở bệnh nhân bị liệt nhẹ. Nếu các tác dụng bất lợi giảm bớt sau khi ngừng sử dụng vincristin sulphat, có thể dùng thuốc trở lại với liều giảm 50%.
4.3. Chống chỉ định:
Bệnh nhân quá mẫn với vincristin sulphat hoặc bất kì thành phần nào của thuốc.
Bệnh nhân rối loạn thần kinh cơ (như dạng thoái hóa myelin của hội chứng Charcot-Marie-Tooth).
Bệnh nhân rối loạn chức năng gan nặng.
Bệnh nhân bị táo bón hoặc có nguy cơ tắc ruột, đặc biệt là ở trẻ em.
Bệnh nhân đã được xạ trị liên quan đến gan.
Cũng cần lưu ý đến các tình trạng được nhắc đến trong mục Những cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng.
4.4 Thận trọng:
Chỉ được dùng vincristin sulphat dưới sự giám sát chặt chế của bác sĩ đã có kinh nghiệm sử dụng các thuốc gây độc tế bào.
Cần ghi nhãn riêng cho bơm tiêm có chứa thuốc này.
“CHỈ ĐƯỢC SỬ DỤNG VINCRISTIN SULPHAT THEO ĐƯỜNG TĨNH MẠCH. DÙNG THUỐC THEO CÁC ĐƯỜNG KHÁC CÓ THỂ GÂY TỬ VONG”.
Tiêm vincristin vào khoang nội tủy gây tử vong do ngộ độc thần kinh.
Nếu vô tình tiêm vào khoang nội tủy, cần tiến hành can thiệp phẫu thuật thần kinh ngây lập tức để tránh tình trạng liệt lan dần lên phía trên dẫn đến tử vong. Một số rất ít bệnh nhân có thể tránh được tình trạng liệt gây nguy hiểm tính mạng và tử vong nhưng gặp phải di chứng nghiêm trọng về thần kinh khó phục hồi.
Dựa trên kinh nghiệm xử trí những trường hợp sống sót sau khi tiêm vào khoang nội tủy, nếu vincristin sulphat bị tiêm sai vào khoang nội tủy, cần khẩn cấp áp dụng các biện pháp dưới đây ngây sau khi tiêm:
(1). Rút địch não tủy nhiều nhất có thể qua chọc ông sống thắt lưng ở mức đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
(2), Đặt một ống thông gây tê ngoài màng cứng vào khoang dưới màng nhện qua khoang giữa các đốt sống phía trên vị trí chọc ống sống thắt lưng và tưới dịch não tủy bằng dung dịch Ringer lactat. Nên sử dụng huyết tương tươi đông lạnh và nếu có, thêm 25 ml huyết tương này vào mỗi lít dung dịch Ringer lactat.
(3). Đặt một ống dẫn lưu hoặc ống thông trong não thất bằng phẫu thuật thần kinh và tiếp tục tưới dịch não tủy được chọc rút qua ống sống thắt lưng nổi với một hệ dẫn lưu kín. Cần truyền tĩnh mạch liên tục dung dịch Ringer lactat với tốc độ 150 ml/giờ hoặc 75 mL/giờ khi thêm huyết tương tươi đông lạnh.
Cần hiệu chỉnh tốc độ truyền tĩnh mạch để duy trì nồng độ protein trong dịch tủy ở mức 150 mg/dL.
Các biện pháp bổ sung sau cũng đã đượcáp dụng nhưng có thể không thiết yếu:
Acid folinie đã được dùng qua đường tĩnh mạch với liều bolus 100 mg rồi truyền tĩnh mạch với tốc độ 25 mg/giờ trong 24 giờ, sau đó dùng liều bolus 25 mg sau mỗi 6 giờ trong 1 tuần. Truyền tĩnh mạch acid glutamic 10 g trong 24 giờ, sau đó dùng liều 500 mg, 3 lần/ngày theo đường uống hàng ngày trong 1 tháng. Pyridoxin đã được sử đụng với liều 50 mg sau mỗi 8 giờ theo đường truyền tĩnh mạch trong 30 phút. Vai trò của các chất này trong trường hợp nhiễm độc thần kinh vẫn còn chưa rõ ràng,
Cần thận trọng tránh để vincristin sulphat tiếp xúc với mắt do có thể gây kích ứng nghiêm trọng hoặc loét giác mạc (đặc biệt là khi thuốc được bơm với áp.lực mạnh). Nếu thuốc tiếp xúc với mắt, phải rửa mắt ngây lập tức với lượng lớn nước. Bệnh nhân cần tham vấn thầy thuốc hoặc bác sĩ nhãn khoa nếu tình trạng kích ứng mắt vẫn dai dẳng.
Trong trường hợp để thuốc tiếp xúc với da, phải rửa kĩ vùng da này với nhiều nước, sau đó bằng xà phòng nhẹ rồi rửa kĩ.
Cần tránh để xảy ra tình trạng thoát mạch. Nếu bị thoát mạch, phải ngừng tiêm ngây lập tức và phần thuốc còn lại phải tiêm vào một tĩnh mạch khác. Tiêm dưới da dung dịch hyaluronidase 250 IU/mL (1 mL) xung quanh vùng tổn thương và chườm nóng vừa tại vị trí thoát mạch có thể giúp phân tán thuốc và giảm bớt khó chịu cũng như hạn chế tối thiểu tình trạng viêm tế bào. Tại cơ sở sử dụng vincristin sulphat, cần chuẩn bị sẵn bộ xử lý thoát mạch thuốc ức chế tế bào.
Cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng cho bệnh nhân đã mắc sẵn các rối loạn thần kinh hoặc rối loạn chức năng gan. Cần theo đõi kĩ những bệnh nhân sử dụng phối hợp vincristin sulphat và các thuốc có thể gây độc thần kinh.
Rối loạn chức năng gan có thể làm tăng nồng độ thuốc trong tuần hoàn và thời gian bán thải của vincristin trong huyết tương, từ đó làm tăng tác dụng bất lợi.
Tác dụng gây độc thần kinh của vincristin sulphat có thể tăng lên khi sử dụng cùng với các thuốc gây độc thần kinh khác hoặc đo chiếu xạ tủy sống và bệnh thần kinh. Bệnh nhân cao tuổi có thể nhạy cảm hơn với tác dụng gây độc thần kinh của vincristin sulphat.
Bệnh nhân sử dụng vincrisiin phối hợp với các thuốc chống ung thư khác có đặc tính gây ung thư bị tiến triển các tình trạng ác tính thứ phát. Vai trò của vincristin trong việc tiến triển các tình trạng ác tính này chưa được khẳng định.
Khuyến cáp áp dụng các biện pháp dự phòng táo bón như điều chỉnh chế độ ăn và dùng thuốc nhuận tràng như lactulose.
Cần thận trọng khi sử dụng vincristin cho bệnh nhân gặp các rối loạn tìm thiếu máu.
Đo số lượng bạch cầu có thể giảm trong quá trình đùng thuốc, cả bác sĩ và bệnh nhân cần lưu ý nguy cơ nhiễm khuẩn. Nếu bệnh nhân bị giảm bạch cầu, cần áp dụng các biện pháp xử trí thích hợp như xem xét thời điểm đùng liều vincristin sulphat kế tiếp. Cần kiểm tra số lượng tế bào máu toàn phần trước khi sử dụng mỗi liều.
Do nguy cơ giảm bạch cầu và tiểu cầu tăng lên, cần giám sát chặt chẽ hơn ở những bệnh nhân mà các biện pháp điều trị trước đó ức chế chức năng tủy xương hoặc mang tinh trạng bệnh ức chế chức năng tủy xương.
Tình trạng tăng nồng độ aciduric trong huyết thanh cấp có thể xảy ra trong quá trình thuyên giảm bệnh – cảm ứng bởi bệnh bạch cầu cấp. Do đó, cần thường xuyên kiểm tra nồng độ acid uric trong huyết thanh trong 3-4 tuần đầu điều trị và áp dung các biện pháp xử trí thích hợp để dự phòng bệnh thận do acid uric.
Cần áp dụng các biện pháp tránh thai cho cả bệnh nhân nam và nữ trong quá trình điều trị và trong vòng 6 tháng sau khi ngừng thuốc (xem thêm mục Sử dụng cho phụ nữ mang thai và cho con bú).
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa có dữ liệu về ảnh hưởng của vincristin đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Do các tác dụng phụ của thuốc (về mặt thần kinh), cần lưu ý ảnh hưởng của thuốc đến khả năng lái xe.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Có rất it đữ liệu về việc sử dụng vincristin cho phụ nữ mang thai.
Các nghiên cứu trên động vật cho thấy đặc tỉnh gây quái thai và các độc tính khác đối với sinh sản. Dựa trên các kết quả nghiên cứu trên động vật và đặc tính dược lực học của thuốc, không nên sử dung vincristin trong thai kì, đặc biệt là trong 3 tháng đầu. Nếu bệnh nhân mang thai trong quá trình điều trị bằng vincristin, cần thông báo cho bệnh nhân biết về những nguy hiểm đối với thai.
Cả bệnh nhân nam và nữ cần áp dụng các biện pháp tránh thai trong quá trình điều trị và trong vòng 6 tháng sau khi ngừng dùng thuốc (xem thêm mục Những cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).
Nếu bệnh nhân mang thai trong quá trình điều trị bằng vincristin, cần thông báo cho bệnh nhân biết về những nguy cơ đối với thai và cần giám sát cẩn thận.
Vincristin có thể gây độc với di truyền. Do đó, cần xem xét việc tham vấn về di truyền nếu bệnh nhân mang thai trong quá trình điều trị bằng vincristin và khuyến cáo tham vấn về di truyền cho cả bệnh nhân dự định sinh con sau khi điều trị.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa rõ vincristin có được tiết vào sữa mẹ hay không. Phải ngừng cho con bú trong quá trình điều trị bằng vincristin sulphat.
Khả năng sinh sản:
Điều trị bằng vincristin có thể gây giảm khả năng sinh sản không hồi phục. Khả năng hồi phục sinh sản tùy thuộc vào tuổi của bệnh nhân và liều sử dụng.
Tình trạng vô tính đã được ghi nhận ở nam giới điều trị bằng liệu pháp phối hợp hóa trị liệu sử dụng vincristin và prednison cùng với cyclophosphamid hoặc meclorethamin và procarbasin. Hiện tượng mất kinh đã được ghi nhận ở phụ nữ được điều trị bằng liệu pháp hóa trị liệu sử dụng vincristin nhung với tần suất thấp hơn.
Cần trao đổi với bệnh nhân và kế hoạch sinh con trong tương lai và thảo luận với bệnh nhân nam về việc bảo quản tinh trùng.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Rất hay gặp (≥ 1/10)
Hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10)
Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100)
Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000)
Rất hiếm gặp (< 1/10.000), chưa rõ tần suất (chưa thể ước lượng tần suất từ dữ liệu hiện có).
Trong mỗi nhóm tần suất, các tác dụng không mong muốn được liệt kê theo thứ tự giảm dần mức độ nghiêm trọng.
Độc tính quan trọng nhất của vincristin liên quan đến hệ thần kinh trung ương. Nhìn chung, các tác dụng phụ đều có thể hồi phục và phụ thuộc vào liều dùng. Các tác dụng phụ hay gặp nhất là độc tính trên thần kinh và rụng tóc; tác dụng phụ khó chịu nhất liên quan đến thần kinh cơ.
Khối u lành tính, ác tính và chưa rõ (kế cả u nang và polyp): Vincristin có thể gây ra tình trạng ác tính thứ phát. Bệnh nhân đã được điều trị bằng vincristin phối hợp với các thuốc gây độc tế bào khác có đặc tính sinh ung thư gặp phải các tình trạng ác tính thứ phát.
Rối loạn máu và hệ bach huyết:
Hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10)
Tăng tiểu cầu tạm thời
Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100)
Ức chế tủy xương nặng, thiểu máu, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu.
Rối loạn hệ miễn dịch:
Hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10)
Thể gặp và co thắt phế quản cấp, có thể nghiêm trọng và đe dọa tính mạng. Các triệu chứng này có thể được ghi nhận sau khi sử dụng các alcaloid từ dừa cạn (vinca alcaloid) như vincristin, đặc biệt là khi sử dụng đồng thời với mitomycin. Triệu chứng có thể xuất hiện vài phút đến nhiều giờ sau khi sử dụng vinca alcaloid hoặc tới 2 tuần sau khi dùng mitomycin,
Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000)
Các phản ứng dị ứng như phản vệ, phát ban hoặc phù, có thể liên quan đến việc sử dụng vincristin đã được ghi nhận ở bệnh nhân điều trị bằng vincristin như một phần của liệu pháp hóa trị liệu phối hợp nhiều thuốc.
Rối loạn hệ thần kinh:
Độc tính với thần kinh là tác dụng phụ quan trọng nhất của vincristin, phụ thuộc liều dùng và tuéi tác. Do độc tính của thuốc trên thần kinh, táo bón và tắc ruột có thể xuất hiện (xem “Rối loạn hệ tiêu hóa”).
Hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10)
Tác dụng phụ hay gặpnhất trên thần kinh là bệnh thần kinh ngoại vi (thần kinh vận động cảm giác hỗn hợp), xảy ra ở gần như tất cả các bệnh nhân. Thông thường, các tác dụng phụ trên thân kinh cơ xuất hiện theo trình tự. Ban đầu chỉ là rối loạn cảm giác và dị cảm. Khi tiếp tục điều trị, đau thần kinh (trong đó có đau ham và tỉnh hoàn) và các khó khăn vận động khác có thể xuất hiện. Mất phản xa gan sau, liệt bàn chân, yếu cơ, mất điều hòa và liệt đã được ghi nhận khi ngừng dùng thuốc. Ảnh hưởng đến thần kinh sọ, trong đó có liệt nhẹ và/hoặc tê liệt các cơ được điều khiển bởi thần kinh sọ có thể xuất hiện mà không kèm theo yếu cơ ở bất kì vị trí nào khác.
Liệt thần kinh sọ và yếu cơ ở thanh quản có thể gây khản giong và liệt dây thanh âm, trong đó có liệt dây thanh âm hai bên gây nguy hiểm tính mạng. Tình trạng yếu cơ ở các cơ vận nhãn ngoài có thể gây sa mí mắt cũng như bệnh thần kinh thị và bệnh thần kinh ngoài mắt. Mù thoáng qua đã được ghi nhận. Vincristin cũng có thể gây độc thần kinh tự trị và hệ thần kinh trung ương với tần suất thấp hơn bệnh thần kinh ngoại vi. Song thị và teo gai thị cũng đã được ghi nhận.
Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100)
Co giật, thường kèm theo tăng huyết áp đã được ghi nhận ở một vài bệnh nhân sử dụng vincristin sulphat. Một vài trường hợp co giật, sau đó là hôn mê đã được báo cáo ở trẻ em. Vincristin gây nhiễm độc thần kinh tự trị và thần kinh trung ương, mặc dù tần suất thấp hơn bệnh nhân thần kinh ngoại vi. Các ảnh hưởng trên thần kinh trung ương như thay đổi trạng thái nhận thức và tâm thần như trầm cảm, kích động, khó ngủ, lú lẫn, loạn thần và ảo giác.
Rối loạn tai và mê lộ:
Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100)
Điếc
Rối loạn tim:
Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100)
Bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tìm.
Các rỗi loạn mạch vành và nhồi máu cơ tim đã được ghi nhận ở bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp hóa trị liệu phối hợp có sử dung vincristin và bệnh nhân đã được xạ trị trung thất trước đó.
Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000)
Tang huyết áp và hạ huyết áp.
Rối loạn hô hấp, vùng ngực và trung thất:
Co thất phế quản nặng và khó thở đã được ghi nhận khi sử dụng các vinca alcaloid, một số trường hợp dùng phối hợp với mitomycin C.
Rối loạn tiêu hóa:
Hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10)
Buồn nôn, nôn, táo bón,„ đau bụng. Táo bón có thểxuất hiện do kết quả của ảnh hưởng lên phần trên của ruột khi trực tràng rỗng. Đau quặn bụng có thể xuất hiện sau đó.
Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100)
Giảm cảm giác ngon miệng, sụt cân, chán ăn, tiêu chảy, liệt tắc ruột. Liệt tắc ruột đặc biệt dễ gặp phải ở trẻ em.
Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000)
Viêm niêm mạc miệng, hoại tử và/hoặc thủng ruột.
Rất hiếm gặp (< 110.000), chưa rõ tần suất (chưa thể ước lượng tan suất từ dữ liệu hiện có)
Viêm tụy
Rối loạn gan mật:
Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000)
Bệnh tắc tĩnh mạch gan, đặc biệt là ở trẻ em.
Rối loạn da và mô mềm
Rất hay gặp (≥ 1/10)
Rụng tóc (có thể hồi phục khi ngừng sử dụng vincristin)
Rồi loạn thận và tiết niệu:
Ở bệnh nhân cao tuổi, phải ngừng sử đụng các thuốc gây khó tiêu ở những ngày đầu tiên sau khi bắt đầu điều trị bằng vincristin.
Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100)
Đa niệu, bí tiểu, khó tiểu do mắt trương lực bàng quang, tăng acid uric trong máu, bệnh thận do acid uric.
Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000)
Hội chứng SIADH (hội chứng tiết hormon chống bài niệu không thích hợp). Hội chứng này có thể liên quan đến độc tính với thần kinh của vincristin, có thể là do tác dụng trực tiếp lên vùng dưới đồi.
Những bệnh nhân này có thể gặp phải tình trạng giảm natri máu cùng với tăng đào thải natri niệu mà không kèm theo dấu hiệu rối loạn thận hoặc thượng thận, hạ huyết áp, mất nước, tăng urê máu hoặc phù. Có thể cải thiện tình trạng hạ natri máu và mất natri qua đường thận bằng cách hạn chế tiêu thụ nước.
Rất hiếm gặp (< 1/10.000), chưa rõ tần suất (chưa thể ước lượng tần suất từ dữ liệu hiện có)
Són tiểu
Rỗi loạn hệ sinh sản và tuyến vú:
Giảm sinh sản không hồi phục sau khi điều trị bằng vincristin hay gặp hơn ở nam giới so với ở nữ giới.
Hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10)
Tình trạng vô tinh đã được ghi nhận ở nam giới điều trị bằng liệu pháp hóa trị liệu phối hợp vincristin và prednison cùng với cyclophosphamid hoặc meclorethamin và procarbazin.
Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100)
Mất kinh.
Rối loạn toàn thân và phản ứng tại vị trí sử dụng.
Hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10)
Kích ứng vị trí tiêm truyền.
Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100)
Sốt, viêm tĩnh mạch, đau, viêm tế bào và hoại tử. Các triệu chứng này có thể xuất hiện sau kích ứng thành mạch hoặc sau khi thoát mạch trong quá trình dùng thuốc.
Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000)
Đau đầu
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Tác dụng có hại của vincristin phụ thuộc vào liều dùng ngây lúc đó và tổng liều tích lũy. Độc trên thần kinh là tai biến thường gặp nhất và là yếu tố làm hạn chế liều dùng. Bệnh thần kinh ngoại vi là chủ yếu. Nhưng nếu có dị cảm ở ngón chân ngón tay, thường rất hay xảy ra, thì cũng không nên ngừng thuốc mà nên giảm liều. Những triệu chứng nặng hơn như mất nhạy cảm, giảm cơ lực, mất phản xạ sâu và “bàn chân rũ” là các biểu hiện cần giảm liều. Một thử nghiệm thực tế là khuyên người bệnh đứng hoặc đi trên gót chân. Nếu người bệnh làm được thì có thể dùng liều tiếp theo.
Táo bón và liệt ruột thường gặp và thường kèm theo co cứng bụng. Nên dùng các chất làm mềm phân, thuốc nhuận tràng và thụt tháo. Vincristin có thể gây bệnh thận do acid uric nếu u bị tiêu quá nhiều. Khi xảy ra, cần kiềm hóa nước tiểu, kiểm soát tình trạng tăng acid uric huyết và phải dùng thuốc ức chế tổng hợp acid uric như alopurinol.
Độc tính trên thần kinh có liên quan đến liều dùng. Cần hết sức chú ý tính liều vincristin, vì quá liều có thể có hậu quả rất nghiêm trọng thậm chí tử vong. Người bệnh phải được thông báo về tác dụng độc trên thần kinh nếu dùng vincristin cho người bệnh đã có bệnh thần kinh từ trước hoặc dùng phối hợp với các thuốc khác độc trên thần kinh. Hầu hết người bệnh vẫn tồn tại triệu chứng thần kinh nhẹ ở ngón tay, ngón chân vài tháng sau khi ngừng điều trị.
Trường hợp vincristin gây tiết hormon chống bài niệu, cần hạn chế dùng dịch.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Các tương tác thường gặp với tất cả các thuốc gây độc tế bào: Do nguy cơ huyết khối tăng lên trong các bệnh ung bướu, các thuốc chống đông được sử dụng thường xuyên. Do có sự dao động lớn ở cùng một bệnh nhân về khả năng đông máu trong khi mắc bệnh và do khả năng xảy ra tương tác giữa các thuốc chống đông dùng theo đường uống và các thuốc chống ung thư nên nếu quyết định điều trị cho bệnh nhân đang dùng các thuốc chống đông dùng theo đường uống, cần tăng tần suất giám sát chỉ số INR (tỉ số chuẩn hóa quốc tế).
Các thuốc ức chế isoenzvm cvtocrom P450 và P-glycoprotein: Các alcaloid từ dừa cạn (chi Vinea) được chuyển hóa bởi cytocrom P450 3A4 (CYP3A4) và là cơ chất của P–glycoprotein. Do đó, tình trạng tăng nồng độ vincristin trong huyết tương có thể xảy ra khi các thuốc ức chế CYP3A4 và Pglycoprotein như ritonavir, nelfinavir, ketoconazol, itraconazol, erythromycin, cyclosporin, nifedipin và nefazodon được sử dụng đồng thời. Dùng đồng thời itraconazol và vincristin có liên quan đến việc đẻ non và/hoặc tăng mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ trên thần kinh cơ, có thể là do ức chế chuyển hóa vincristin.
Phenytoin và fesphenytoin: Đã có báo cáo cho thấy sử dụng đồng thời phenytoin và liệu pháp phối hợp các thuốc chống ung thư trong đó có vincristin làm giảm nông độ phenytoin trong máu và tăng nguy cơ xảy ra co giật. Không khuyến cáo phối hợp các thuốc này. Nếu buộc phải dùng đồng thời các thuốc này, việc hiệu chỉnh liều cần dựa trên kết quả đánh giá nồng độ thuốc trong máu.
Các thuốc ức chế tế bào khác: Có thể xảy ra tương tác dược lực học với các thuốc ức chế tế bào khác: tăng tác dụng điều trị và độc tính. Sử dụng đồng thời vincristin và các thuốc ức chế tủy xương khác như doxorubicin (đặc biệt là phối hợp với prednison) có thể làm tăng tác dụng ức chế tủy xương.
Asparaginase/isoniazid và các thuốc gây độc thân kinh khác: Cần lưu ý đến nguy cơ mắc bệnh thần kinh ngoại vi nghiêm trọng và kéo dải khi sử dụng các thuốc gây độc thần kinh (như isoniazid và Lasparaginase, cyclosporin A) cho bệnh nhân đã được điều trị bằng vincristin. Ở những bệnh nhân này, cần thận trọng khi sử dụng các thuốc đã được biết là gây độc với thần kinh và liên tục giám sát chức năng thần kinh của bệnh nhân.
Vaccin/virus đã chết: Do hệ thông miễn dịch bình thường có thể bị ức chế khi điều trị bằng vincristin, quá trình hình thành kháng thể đo đáp ứng với vacin trong cơ thể giảm xuống. Khoảng cách giữa thời điểm ngừng sử dụng các thuấc gây ức chế miễn dịch và thời điểm hồi phục khả năng đáp ứng của cơ thể với vacin tùy thuộc vào mức độ tác dụng và loại thuếc ức chế miễn địch, các bệnh mặc kèm và nhiều yếu tổ khác, ước lượng từ 3 tháng đến 1 năm.
Vacin/virus còn sống: Do hệ thống miễn dịch bình thường có thể bị ức chế do điều trị bằng vincristin, sử dụng vaccin chứa virus còn sống có thể làm tăng tái tạo virus, tăng tác dụng phụ của vaccin và/hoặc quá trình hình thành kháng thể do đáp ứng với vacin trong cơ thể giảm xuống. Cần đặc biệt thận trọng và chỉ nên sử đụng vacin cho những bệnh nhân này sau khi đã đánh giá cẩn thận tình trạng huyết học của bệnh nhân và được sự chấp thuận của bác sĩ điều trị. Khoảng cách giữa thời điểm ngừng sử dụng các thuốc gây ức chế miễn dịch và thời điểm hồi phục khả năng đáp ứng của cơ thể với vaccin tùy thuộc vào mức độ tác dụng và loại thuốc ức chế miễn dịch, các bệnh mắc kèm và nhiều yếu tố khác, ước lượng từ 3 tháng đến l năm.
Bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu tái phát không nên sử dụng vacin chứa virus còn sống cho tới ít nhất 3 tháng sau đợt hóa trị liệu cuối cùng.
Digoxin: Mức độ hấp thu digoxin có thể giảm xuống ở bệnh nhân điều trị bằng hóa trị liệu. Do vậy, tác dụng điều trị của digoxin có thể giảm xuống ở những bệnh nhân này. Cần thận trọng khi dùng phối hợp các thuốc này và hiệu chỉnh liều digoxin.
Mitomycin C: Có thể gây ra các phan ứng cấp ở phồi.
Xạ trị: Xạ trị có thể làm tăng độc tính của vincristin trên thần kinh ngoại vi.
Ciclosporin, tacrolimus: Có thể xây ra tình trạng ức chế miễn dịch quá mức kèm theo nguy cơ tăng sinh lympho.
Các thuốc khác: Trong quá trình sử‘dung đồng thời vincristin và các yếu tố kích thích tạo cụm bạch cầu hạt (G-CSF, GM-CSF), bệnh thần kinh không điển hình kèm theo cảm giác đau nhức hoặc bỏng rát ở các chi đã được ghi nhận với tần suất cao hon.
Ở bệnh nhân mang khối u Wilm, tình trạng nhiễm độc gan nặng đã được ghi nhận khi dùng phối hợp vincristin và dactinomycin.
Khi phối hợp với bleomycin, vincristin có thể gây hội chứng Raynaud phụ thuộc liều dùng.
4.9 Quá liều và xử trí:
Quá liều vincristin gây ra các tác dụng không mong muốn kể trên với mức độ nghiêm trọng tăng lên. Ở trẻ em dưới 13 tuổi, dùng liều cao gặp 10 lần liều đề nghị gây tử vong. Trong nhóm bệnh nhân này, các triệu chứng nghiêm trọng có thể xuất hiện khi dùng các mức liều 3-4 mg/m2. Người trưởng thành có thể gặp phai các triệu chứng nghiêm trọng sau khi sử dụng liều đơn 3 mg/m2 hoặc cao hơn. Chưa có thuốc giải độc vincristin sulphat.
Biện pháp xử trí bao gồm điều trị triệu chứng và hỗ trợ. Khi xảy ra quá liều, cần giám sát kĩ bệnh nhân. Có thể xem xét áp dụng các biện pháp sau:
Cần giám sát cẩn thận nồng độ điện giải trong huyết thanh và cân bằng dịch trong cơ thể. Khi các dấu hiệu tiết ADH không thích hợp xuất hiện, cần hạn chế tiêu thụ nước.
Sử dụng một thuốc chống co giật để dự phòng cơn động kinh
Giám sát chức năng tim mạch
Giám sát máu, sau đó đưa ra biện pháp xử trí dựa vào tình trạng ức chế tủy xương
Sử dụng các thuốc thụt tháo để tránh tắc ruột
Có thể dùng folinat. Chế độ liều đề nghị là 100 mg tiêm tĩnh mạch sau mỗi 3 giờ trong 24 giờ đầu, sau đó cách 6 giờ một lần trong ít nhất 48 giờ.
Do chỉ có một lượng rất nhỏ vincristin được loại khỏi tuần hoàn thông qua lọc máu, thẩm phân máu trong trường hợp quá liều có thể không có hiệu quả.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Phân loại dược lý: thuốc chống ung thư – nhóm vinca alcaloid
Mã ATC: L01C A02.
Vincristin sulphat là dạng muối của vincristin, một alcaloid chiết xuất từ cây dừa cạn, họ finca rosea Linn.
Vinca alcaloid là các chất gây độc thoi vô sắc kinh điển do gắn kết với protein tubulin của vi ống và ức chế các tế bào ở kì giữa của quá trình phân bào bằng cách ngăn chặn phản ứng trùng hợp tubulin và hình thành các vi ống, cũng như giải trùng hợp các vi ống đã có.
Các vinca alcaloid có thể tác dụng vào quá trình trên theo một số con đường:
Bằng cách liên kết với một vị trí đặc hiệu của tubulin và hình thành phức hợp tubulin-alcaloid;
Bằng cách liên kết với một vị trí có ái lực cao của tubulin, gắn kết với các vi ống và ức chế sự kết hợp của tubulin vào vi ống đã có;
Bằng cách gắn kết với một vị trí có ái lực yếu trên thành vi ống, gây tách các sợi nguyên thủy của vi Ống.
Vincristin cũng ảnh hưởng đến các hệ thống khác của tế bào như quá trình tổng hợp ARN và ADN, AMP vòng, sinh tổng hợp lipid và ATPase vận chuyển Ca2+ phụ thuộc calmodulin.
Cơ chế tác dụng:
Cơ chế tác dụng còn chưa biết thật chi tiết, nhưng vincristin là chất ức chế mạnh tế bào. Thuốc liên kết đặc hiệu với tubulin là protein ống vi thể, phong bế sự tạo thành các thoi phân bào cần thiết cho sự phân chia tế bào. Do đó vincristin có tính đặc hiệu cao trên chu kỳ tế bào và ức chế sự phân chia tế bào ở gian kỳ (metaphase). Ớ nồng độ cao, thuốc diệt được tế bào, còn ở nồng độ thấp, làm ngừng phân chia tế bào. Do thuốc có tính đặc hiệu với kỳ giữa của sự phân chia tế bào, nên độc lực với tế bào thay đổi theo thời gian tiếp xúc với thuốc. Nhờ có nửa đời thải trừ dài và độ lưu giữ thuốc cao trong tế bào, nên không cần thiết phải truyền kéo dài.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Phân bố: Sau khi tiêm truyền tĩnh mạch, vincristin được phân bố nhanh ra khỏi huyết thanh. Trong vòng 15-30 phút, trên 90% liều sử dụng được phân bố từ huyết thanh vào mô và các tế bào máu khác. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định là 8,4 + 3,2 L/kg.
20 phút sau khi tiêm truyền tĩnh mạch, trên 50% lượng vincristin liên kết với các thành phần của máu, đặc biệt là tiểu cầu, là loại tế bào có hàm lượng tubulin cao. Lượng thuốc thấm vào dịch não tủy sau khi tiêm bolus tĩnh mạch rất nhỏ nhưng có thể gây ra các tác dụng phụ trên hệ thần kinh trung ương.
Chuyển hóa: Vincristin bị chuyển hóa mạnh, chủ yếu ở gan bởi các hệ enzym cytocrom P450, trong đó có CYP3A4.
Thải trừ: Phân tích huyết tương cho thấy qua trình đào thải vincristin sau khi truyền. tĩnh mạch nhanh diễn ra theo 3 pha. Các trị số thời gian bán thải ban đầu, trung bình và pha cuối lần lượt là 5 phút, 2,3 giờ và 85 giờ (trong khoảng 19-155 giờ). Thanh thải thuốc ra khỏi huyết tương chậm và do đó, cần tối thiểu 1 tuần giữa các đợt điều trị để tránh độc tính tích lũy.
Gan là cơ quan bài tiết quan trọng nhất, khoảng 80% liều sử dụng được đào thải qua phân và 10- 20% qua nước tiểu.
Bệnh nhân rối loạn chức năng gan: Ở bệnh nhân rối loạn chức năng gan, quá trình chuyên hóa và do đó thải trừ vincristin có thể giảm xuống, gây tăng nguy cơ độc tính. Nên hiệu chỉnh liều vincristin nếu cần (xem các mục Liều lượng và cách dùng và Những cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).
Trẻ em: Ở trẻ em, có sự dao động lớn giữa các bệnh nhân và trong từng bệnh nhân về các thông số dược động học của vincristin như độ thanh thải, thể tích phân bố và thời gian bán thải. Độ thanh thải huyết tương ở trẻ em thường cao hơn so với ở người lớn hoặc trẻ sơ sinh, nhưng không chắc thanh thải vincristin giảm xuông khi trẻ lớn lên.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Manitol, acid sulphuric 5%, natri hydroxid 0,2%, nước pha tiêm.
6.2. Tương kỵ :
Do chưa tiến hành nghiên cứu về tương kỵ, không được trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản trong tủ lạnh ở 2-8°C. Giữ lọ thuôc trong hộp gốc để tránh ánh sáng.
6.4. Thông tin khác :
Những lưu ý đặc biệt về tiêu hủy và các xử lý khác:
Kiểm tra trước khi sử dụng: Chỉ được sử dụng dung dịch trong, không lẫn tiểu phân. Không được sử dụng thuốc khi bao bì không còn nguyên vẹn.
Xử lý và tiêu hủy: Dung dịch tiêm của các thuốc gây độc tế bào phải được pha chế bởi nhân viên đã được đào tạo chuyên môn quen thuộc với các thuốc đã dùng, tiến hành trong điều kiện đảm bảo an toàn với môi trường và đặc biệt là bảo vệ người pha chế. Nhân viên đang mang thai không được làm việc với vincristin.
Cần tránh tiếp xúc với thuốc. Phải pha chế dung dịch trong một khu vực đặc biệt cắm hút thuốc hay ăn uống. Trong quá trình pha chế, cần áp dụng các kĩ thuật vôkhuẩn nghiêm ngặt; phải sử dụng các biện pháp bảo hộ như găng tay, khẩu trạng, kính và quần áo bảo hộ. Khuyến cáo sử dụng bàn pha chế LAF với dòng khí đứng. Cần đeo găng tay trong quá trình pha chế. Với các chất thải, cần lưu ý đến đặc điểm của loại thuốc chống ung thư.
Nếu dung dịch tiếp xúc với da, niêm mạc hoặc mắt, cần rửa ngay với nhiều nước.
Cần tránh để xảy ra tình trạng thoát mạch. Nếu bị thoát mạch, phải ngừng tiêm ngây lập tức và phần thuốc còn lại phải tiêm vào một tĩnh mạch khác. Tiêm dưới da dung dịch hyaluronidase 250 IU/mL (1 mL) xung quanh vùng tôn thương và chườm nóng vừa tại vị trí thoát mạch có thể giúp phân tán thuốc và giảm bớt khó chịu cũng như hạn chế tối thiểu tình trạng viêm tế bào. Tại cơ sở sử dụng vincristin sulphat, cần chuẩn bị sẵn bộ xử lý thoát mạch thuốc ức chế tế bào.
Cần thận trọng khi xử lý các chất bài tiết và nôn.
Cần xử lý bao bì vỡ tương tự như các chất thải. Các chất thải cần được tiêu hủy bằng cách đốt trong thiết bị chắc chắn và ghi nhãn thích hợp.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM