Bupivacaine Aguettant 100mg/20ml

Bupivacaine – Rx Bupivacaine Aguettant

Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Rx Bupivacaine Aguettant

Bupivacaine Aguettant là dung dịch tiêm vô khuẩn gây tê tủy sống có chứa thành phần chính là Bupivacaine nồng độ 100 mg/20ml. Bupivacaine Aguettant do công ty Delpharm Tours (Pháp) sản xuất và do Laboratoire Aguettant đăng ký. Thuốc được sử dụng để gây tê tủy sống trước một số loại phẫu thuật hoặc điều trị đau cấp cho người lớn, trẻ sơ sinh và trẻ em trên 1 tuổi. Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Rx Bupivacaine Aguettant (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…):

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Bupivacaine (Bupivacain hydrochlorid)

Phân loại: Thuốc gây mê gây tê > Thuốc gây tê > Thuốc tê tại chỗ.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine).

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01BB01.

Biệt dược gốc: Hiện chưa có thuốc đăng ký biệt dược gốc tại Việt Nam.

Biệt dược: Rx Bupivacaine Aguettant

Hãng sản xuất : Delpharm Tours.

Hãng đăng kí: Laboratoire Aguettant S.A.S.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm 100mg/20ml (Tương đương 5mg/ml).

Lọ 20 mL chứa 105,54 mg bupivacain hydrochlorid monohydrat

Hình ảnh tham khảo:

RX BUPIVACAINE AGUETTANT 100MG/20ML
Mỗi lọ 20 ml dung dịch tiêm có chứa:
Bupivacaine …………………………. 100 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Bupivacaine Aguettant 100mg/20ml

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

3.1. Bupivacaine Aguettant là thuốc gì?

Bupivacaine Aguettant là dung dịch tiêm vô khuẩn gây tê tủy sống có chứa thành phần chính là Bupivacaine nồng độ 100 mg/20ml. Bupivacaine Aguettant do công ty Delpharm Tours (Pháp) sản xuất và do Laboratoire Aguettant đăng ký. Thuốc được sử dụng để gây tê tủy sống trước một số loại phẫu thuật hoặc điều trị đau cấp cho người lớn, trẻ sơ sinh và trẻ em trên 1 tuổi.

3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:

Sự khác biệt giữa Bupivacaine thông thường/đẳng trọng và Bupivacaine heavy (ưu trọng) là gì?

Bupivacaine thông thường còn được gọi là Bupivacain đẳng trọng (tương đương tỷ trọng với dịch não tủy), Bupivacaine ưu trọng được làm tăng tỷ trọng bằng cách thêm glucose (80 mg/mL) vào Bupivacain hydroclorid thông thường 5mg/ml. Sự khác biệt giữa hai dạng này được cho là ảnh hưởng đến khả năng khuếch tán và phân bố của chúng sau khi tiêm vào dịch não tủy, Bupivacain ưu trọng dung nạp tốt hơn và có xu hướng chìm xuống trong dịch não tủy thì loại đẳng trọng có xu hướng nổi lên trên, tuy vậy hiệu quả vẫn chưa được kết luận rõ ràng. Xem thêm phân tích tại bài viết: Theo dòng thời sự với bupivacaine

Bupivacaine có phải là chất giảm đau gây nghiện như morphin không?

Morphine là thuốc giảm đau gây nghiện nhóm opioid được dùng để giảm đau. Trong khi đó Bupivacaine và Lidocaine cùng nhóm là thuốc gây tê tại chỗ, được dùng để giảm đau bằng cách chặn tín hiệu đau ở các đầu dây thần kinh. So với Lidocain thì Bupivacaine khởi phát tác dụng ở mức “trung bình”, còn lidocaine khởi phát tác dụng “nhanh” .

Bupivacaine có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?

Bupivacaine CÓ nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam. Bupivacaine nằm trong nhóm thuốc gây tê gây mê và thường dùng đường tiêm, do đó người bệnh chỉ có thể được sử dụng thuốc này tại các cơ sở khám chữa bệnh theo tuyến bảo hiểm y tế.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Gây tê trong phẫu thuật cho người lớn và trẻ em trên 12 tuổi.

Điều trị đau cấp cho người lớn, trẻ sơ sinh và trẻ em trên 1 tuổi.

Gây tê tủy sống cho người lớn và trẻ em ở mọi lứa tuổi.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Các quy tắc sau đây được áp dụng cho cả phong bế thần kinh trung ương và thần kinh ngoại biên. Không có quy tắc nào có thể hoàn toàn loại bỏ được phản ứng bất lợi có thể xảy ra (đặc biệt là co giật hoặc tai biến tim); tuy vậy, chúng giúp làm giảm tần suất và độ nặng của phản ứng bất lợi.

Nên cẩn thận hút bơm tiêm trước và trong khi tiêm nhằm mục đích đề phòng tiêm vào mạch máu. Trước tiên, nên tiêm một liều tiêm thử từ 3-5 mL (1-2 mL ở trẻ em) bupivacain có adrenalin 1:200.000, nếu không có chống chỉ định. Có thể nhận biết việc vô ý tiêm vào mạch máu khi thấy tăng nhịp tim và hạ huyết áp tâm thu xảy ra trong vòng một phút sau khi tiêm, hoặc vô ý tiêm vào ống sống khi thấy các dấu hiệu của vô cảm tủy sống (yếu liệt hai chân, giảm cảm giác vùng mông trên một bệnh nhân tỉnh táo).

Sau đó, liều chính phải được tiêm chậm và chia ra tiêm từng 5 mL một trong khi theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân, và vẫn tiếp tục nói chuyện với bệnh nhân. Nếu xảy ra triệu chứng độc tính (xem mục “Quá liều”), phải ngừng tiêm ngay.

Khi sử dụng đồng thời hai kỹ thuật vô cảm (ví dụ phong bế dây thần kinh đùi và phong bế dây thần kinh tọa), cũng phải thận trọng như trên: phải chú ý đến tổng liều, dù đã được chia nhỏ.

Trong trường hợp dùng một hỗn hợp thuốc tê, phải lưu ý đến nguy cơ độc tính của tổng lượng thuốc đã dùng và phải áp dụng nghiêm ngặt quy tắc cộng độc tính của hỗn hợp.

Trường hợp đặc biệt vô cảm hệ thần kinh trung ương:

° Nên tiêm dung dịch có nhiệt độ khoảng 20°C, tiêm dung dịch có nhiệt độ thấp hơn có thể sẽ gây đau.

° Trong gây tê tủy sống, cần nhớ rằng phạm vi vô cảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm thể tích được tiêm và tư thế của bệnh nhân trước và trong khi tiêm. Vì nguy cơ tiềm ẩn gây phong bế tủy sống rộng quá mức, nên giảm liều ở người cao tuổi và ở cuối thai kỳ.

Không được dùng lại lọ thuốc đã mở.

Liều dùng:

Bupivacain chỉ nên được sử dụng bởi bác sĩ hoặc dưới sự giám sát của bác sĩ có kinh nghiệm về các kỹ thuật vô cảm cục bộ và vùng. Phải có sẵn thiết bị và thuốc men cần thiết để theo dõi và hỏi sức tích cực khẩn cấp (xem mục “Cảnh báo đặc biệt và Thận trọng khi dùng”). Phải chuẩn bị sẵn đường truyện tĩnh mạch cho bệnh nhân trước khi phong bế thần kinh ngoại biên hoặc trung ương hoặc tiêm thấm liều cao. Cần liên tục theo dõi điện tâm đồ.

Bupivacain hydrochloride có dạng bào chế kết hợp hoặc không kết hợp với adrenalin (1/200.000), nồng độ 2,5 mg/mL và 5 mg/mL. Dạng thuốc và nồng độ sử dụng thay đổi tùy theo chỉ định và mục đích sử dụng (gây tê phẫu thuật hoặc giảm đau đơn thuần), độ tuổi bệnh nhân và các bệnh ý kèm theo. Sử dụng dạng có kết hợp với adrenalin sẽ kéo dài thời gian tác dụng. Các dạng có nồng độ cao nhất thường gây phong bế vận động với cường độ ức chế mạnh.

Nên dùng thuốc gây tê với nồng độ thấp nhất và liều thấp nhất có tác dụng vô cảm hữu hiệu.

Người lớn

Liều lượng trong bảng dưới đây là liều khuyên dùng đối với người lớn trung bình, được định nghĩa là đàn ông trẻ sức khỏe tốt, cân nặng 70 kg. Bất luận sử dụng loại vô cảm nào, liều của mũi tiêm đầu tiên không được vượt quá 150 mg, riêng trường hợp gây tê tủy sống thì không được tiêm quá 20 mg.

Tiêm lặp lại: tiêm lặp lại nhiều liều bupivacain có thể làm tăng đáng kể nồng độ trong huyết tương do sự tích lũy thuốc. Vì vậy, nên tuân thủ các hướng dẫn sau đây:

– không tiêm mũi thứ hai trước ít nhất 1/3 thời gian bán thải của bupivacain, tức 45 phút.

– liều lượng tối đa của mũi thứ hai tương ứng với 1/3 liều tối đa ban đầu được phép sử dụng nếu tiêm lặp lại sau liều thứ nhát 45 phút hoặc bằng nửa liều ấy nếu tiêm lặp lại sau liều thứ nhất 90 phút.

– bắt đầu từ mũi tiêm thứ ba: tiêm 1/3 liều ban đầu nếu sau 1/2 thời gian bán hủy tức 75 phút hoặc tiêm nửa liều ban đầu sau thời gian bán hủy, tức 150 phút.

Trên người cao tuổi, nên xem xét giảm liều, đặc biệt là các liều lặp lại (xem mục “Liều dùng và cách dùng”).

Bảng 1: Liều dùng cho mũi tiêm đầu tiên ở người lớn và trẻ em trên 12 tuổi

. Dung dịch Liều thường dùng*- Liều tối da (mg) Thể tích (mL)
Gây tê từng lớp 2,5 mg/mL Vài mg đến 2 mg/kg Vài mL đến 50 mL
Phong bế thần kinh ngoại biên
Phong bế thần kinh liên sườn 5 mg/mL 10 -15 mỗi dây thần kinh

Tổng liều tối đa là 150

2 – 3 mỗi dây thần kinh
Phong bế đám rối thần kinh 2.5 mg/mL 62,5-150 25 -40
5 mg/mL 100-150 20-30
Phong bế thân thẩn kinh 2.5  mg/mL 12,5 – 50 mỗi dây thần kinh 5-20
5 mg/mL 25 – 100 mỗi dây thần kinh 5-20
Gây tê ngoài màng cứng, phẫu thuật lồng ngực 5 mg/mL 25-50 5-10
Gây tê ngoài màng cứng, vùng thắt lưng để phẫu thuật, kể cả mổ lấy thai 5 mg/mL 75-150 15-30
Truyền liên tục vào khoang ngoài màng cứng vùng thắt lưng để giảm đau (sau mổ, sản khoa, điều trị đau do ung thư …) 2,5 mg/mL 12,5-18,5/giờ

Liều tối đa/24h: 400 mg

5 – 7,5 /giờ
Gây tê vùng đuôi ngựa trong phẫu thuật 5 mg/mL 75-150 15-30
Gây tê tủy sống 5 mg/ml 5-20 1 – 4

* đã bao gồm liều thử

** 40 kg

Trẻ em từ 1 đến 12 tuổi

Trong nhi khoa, các kỹ thuật vô cảm vùng phải được sử dụng bởi các bác sĩ có kinh nghiệm và quen làm việc với bệnh nhi và các kỹ thuật này.

Các liều dùng trong bảng dưới đây là liều khuyến nghị cho các bệnh nhi vì có thể có sự thay đổi tùy theo cá thể. Ở những trẻ em nặng cân, thông thường cần giảm liều tuần tự tùy theo cân nặng lý tưởng. Nên tham khảo thêm các cẩm nang chuyên ngành để xác định các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kỹ thuật phong bế đặc hiệu và các yêu cầu đặc biệt riêng cho từng bệnh nhân. Phải dùng liều nhỏ nhất có hiệu quả để đạt được mức vô cảm mong muốn.

Bảng 2: Liều khuyến nghị cho trẻ em dưới 12 tuổi

. Nồng độ (mg/mL) Thể tích (mL/kg) Liều (mg/kg) Thời gian khởi phát (phút) Thời gian có hiệu quả (giờ)
1. Điều trị đau cấp (trong và sau phẫu thuật);
Tiêm ngoài màng cứng vùng đuôi ngựa 2,5 0,6-0,8 1,5-2 20-30 2-6
Tiêm ngoài màng cứng vùng thắt lưng 2,5 0,6-0,8 1,5-2 20-30 2-6
Tiêm ngoài màng cứng vùng ngựcb) 2,5 0,6-0,8 1,5-2 20-30 2-6
2. Phong bế vùng phẫu thuật (ví dụ phong bế các dây thần kinh nhỏ và tiêm thấm); 2.5 0,5-2,0
5 0,5-2,0
3 Phong bế các dây thần kinh ngoại biên (ví dụ chậu-bẹn-chậu- hạ vị) 2,5 0,5-2,0 a)
5 0,5-2,0 a)

* hoặc 40 kg;

a) Thời gian khởi phát và thời gian phong bế các dây thần kinh ngoại biên phụ thuộc vào loại phong bế và liều dùng.

b) Phong bế ngoài màng cứng vùng ngực phải được thực hiện bằng cách dùng những liều tăng dần cho đến khi đạt được mức độ vô cảm mong muốn

Ở trẻ em, liều dùng phải được tính theo thể trọng và tối đa 2 mg/kg.

Để tránh tiêm vào tĩnh mạch, lặp lại việc hút bơm tiêm trước và trong khi tiêm những liều chính. Phải tiêm từ từ và tăng liều dần, nhất là khi tiêm ngoài màng cứng vùng thắt lưng và vùng ngực, đồng thời quan sát liên tục và chặt chẽ các dấu hiệu sống của bệnh nhân.

Việc tiêm thấm quanh amidan được thực hiện cho trẻ lớn hơn 2 tuổi với bupivacain 2,5 mg/ml với liều dùng 7,5 – 12,5 mg cho mỗi amidal

Phong bế vùng chậu bẹn/chậu hạ vị thực hiện cho trẻ từ 1 tuổi trở lên với bupivacain 2.5 mg/mL với liều dùng 0,1-0,5 mL/kg tương đương với 0,25-1,25 mg/kg. Trẻ em từ 5 tuổi trở lên dùng bupivacain 5 mg/mL với liều 1,25-2 mg/kg.

Để phong bể dương vật, dùng bupivacain 5 mg/ml. với tổng liều từ 0,2 đến 0,5 mL/kg tương đương với 1-2,5 mg/kg.

Trẻ sơ sinh, trẻ nhũ nhi và trẻ em

So với người lớn, trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi có thể tích dịch não tủy khả lớn và cần dùng liều tính theo mỗi kg thể trọng cao hơn mới đạt được mức độ phong bế tủy sống tương tự ở người lớn.

Bảng 3: Liều khuyến nghị ở trẻ sơ sinh, trẻ nhũ nhi và trẻ em cho đường tiêm vào trong ống sống

Cân nặng (kg) Liều dùng (mg/kg)
<5 0,40 – 0,50 mg/kg
5 đến 15 0,30 – 0,40 mg/kg
15 đến 40 0,25 – 0,30 mg/kg

Sự dung nạp và hiệu quả của Bupivacaine Aguettant 5 mg/mL, dung dịch tiêm chưa được chứng minh ở trẻ em dưới 1 tuổi, trừ đường tiêm vào ống sống. Dữ liệu hiện có vẫn còn hạn chế.

Sự dung nạp và hiệu quả khi tiêm bolus gián đoạn hoặc truyền liên tục vào khoang ngoài màng cứng chưa được chứng minh. Dữ liệu hiện có vẫn còn hạn chế.

4.3. Chống chỉ định:

Tiền sử dị ứng với thuốc gây tê tại chỗ loại amid.

Vô cảm vùng bằng đường tĩnh mạch.

Phong bế thần kinh cạnh cổ tử cung trong sản khoa.

Các chống chỉ định chung của gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống.

Tiêm vào các mô viêm nhiễm.

Việc tiêm bupivacain adrenalin trong vùng động mạch cuối (phong bế dương vật, phong bế Oberst) có thể gây hoại tử mô do thiếu máu cục bộ.

Chú ý: Đây không phải là chống chỉ định đặc biệt đổi với trẻ em

4.4 Thận trọng:

Cần báo trước cho các vận động viên biết rằng thuốc này chứa hoạt chất có thể gây phản ứng dương tính khi xét nghiệm chống doping

Thận trọng chung

Phải có đường truyền tĩnh mạch trên bệnh nhân trước khi tiêm thuốc phong bế thần kinh ngoại biên hoặc trung ương hoặc tiêm thấm lớp với những liều lớn.

Phải đảm bảo không tiêm vào mạch máu.

Có thể thấy nồng độ độc trong máu sau khi sơ ý tiêm vào mạch máu, qua liều hoặc sự hấp thu nhanh ở vùng có nhiều mạch máu. Những nồng độ này có thể gây ra các phản ứng bất lợi nghiêm trọng, đặc biệt là các tai biến thần kinh và tim. Như tất cả các thuốc tê khác, có những qui tắc đối với việc sử dụng bupivacain, để giảm thiểu sự xuất hiện các nồng độ độc. Không có qui tắc nào trong số này có thể loại trừ hoàn toàn một biến có bất lợi có thể có; mặc dù vậy, chúng cho phép giảm tần suất và độ nặng của các biến cố bất lợi.

Hơn nữa, bupivacain chỉ nên sử dụng bởi hoặc dưới sự giảm sát của những bác sĩ có kinh nghiệm về kỹ thuật vô cảm cục bộ hoặc vô cảm vùng. Dụng cụ và thuốc men cần thiết cho các biện pháp theo dõi và hồi sức cấp cứu phải có sẵn để dùng ngay. Trang thiết bị hồi sức tích cực nhất thiết phải bao gồm thuốc chống co giật (thiopental, benzodiazepin), thuốc vận mạch, atropin, dụng cụ đặt nội khí quản và cung cấp ôxy cho bệnh nhân và máy phá rung. Sau cùng, cần có máy theo dõi tim mạch và cho phép theo dõi huyết áp liên tục.

Thận trọng liên quan đến phương pháp vô cảm

Gây tê tiêm thấm: khi vùng cần gây tê rộng hoặc có nhiều mạch máu, nên dùng dung dịch bupivacain có adrenalin, nêu không có chống chỉ định.

Trong gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống, bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn (bất kể nguyên nhân của giảm thể tích tuần hoàn) có thể bị hạ huyết áp đột ngột, trầm trọng và chậm nhịp tim độc lập với loại thuốc tê được dùng. Các trường hợp hạ huyết áp cần được điều trị với thuốc vận mạch và/hoặc bồi hoàn thể tích tuần hoàn.

Theo dõi sự xuất hiện tụ máu trong giai đoạn sau gây tê, sau khi phong bế thần kinh ngoại biên hoặc gây tê tiêm thấm trên bệnh nhân đang dùng thuốc kháng đông với mục đích điều trị hoặc dự phòng. Cũng với những lý do ấy, bệnh nhân đang điều trị với những thuốc có thể làm giảm kết tập tiểu cầu (aspirin, ticlopidin, v.v…), bệnh nhân bị giảm tiểu cầu nặng hoặc nói một cách tổng quát, bệnh nhân có các bất thường về cầm máu cần được theo dõi sát.

Một số phương pháp gây tê vùng đầu cổ cần thận trọng đặc biệt khi dùng.

Sơ ý tiêm vào mạch máu, ngay cả ở liều thấp, có thể gây độc tính não.

Tiêm sau nhãn cầu và quanh nhãn cầu: chọc thủng khoang dưới nhện có thể gây ra các phản ứng độc như thoáng mủ, trụy tim mạch, ngưng thở, hoặc co giật. Hơn nữa, kỹ thuật này có một nguy cơ nhẹ bị rối loạn vận nhãn kéo dài có thể dẫn đến tổn thương và/hoặc tác dụng độc tại chỗ trên cơ và dây thần kinh (xem mục “Tác dụng không mong muốn”).

Phong bế có thể lan rộng lên cổ trong trường hợp bệnh nhân được giữ ở tư thế Trendelenburg kéo dài quá lâu.

Thận trọng liên quan với độc tính tim của bupivacain

Phải tuân thủ chặt chẽ những hướng dẫn về cách dùng để đề phòng nguy cơ nồng độ quá cao trong huyết tương, vốn có thể gây loạn nhịp thất nặng: xoắn đỉnh, và nhịp nhanh thất có thể dẫn đến rung thất rồi vô tâm thu.

Bệnh nhân đang có các rối loạn dẫn truyền ở tâm thất, ví dụ phức bộ QRS giãn rộng, cần được chú ý theo dõi đặc biệt.

Nên thận trọng khi dùng bupivacain trên bệnh nhân có khoảng QT dài vì thuốc kéo dài thời kỳ trơ tuyệt đối.

Mặc dù ở liều được khuyến nghị, bupivacain không có bất kỳ ảnh hưởng nào trên sự dẫn truyền nhĩ-thất, nhưng vì nguy cơ chậm nhịp tim trong trường hợp vô ý quá liều, cần đặc biệt chú ý theo dõi ECG của bệnh nhân có blôc nhĩ-thất hoàn toàn nhưng không có máy tạo nhịp và đang được dùng bupivacain.

Với bupivacain và khác với đa số các loại thuốc tê khác, các dấu hiệu của độc tính tim có thể xảy ra cùng lúc với các dấu hiệu độc tính thần kinh, đặc biệt là ở trẻ em.

Các thận trọng khác trên một số nhóm bệnh nhân:

Suy gan: Vì bupivacain được chuyển hóa ở gan, cần giảm liều trên bệnh nhân suy gan nặng và phải theo dõi chặt liều tiêm lặp !ại, ví dụ khi gây tê ngoài màng cứng, trên những bệnh nhân này để đề phòng quá liều Cũng với lý do ấy, nên thận trọng khi dùng bupivacain khi có bất kỳ rối loạn nào (sốc, suy tim) hoặc khi dùng một điều trị đồng thời (thuốc chẹn bêta) ẩn chứa nguy cơ giảm lưu lượng máu ở gan.

Người cao tuổi: Do giảm thanh thải bupivacain ở người cao tuổi, cần thận trong trong trường hợp tiêm lặp lại để đề phòng độc tính cấp do tích lũy thuốc.

Thiếu ôxy và tăng kali-máu làm tăng nguy cơ độc tính tim của bupivacain và có thể cần phải chỉnh liều. Tình trạng nhiễm toan làm tăng tỉ lệ bupivacain không kết gắn và vì vậy có thể làm tăng độc tính thần kinh và tim. Tương tự, bệnh nhân suy thận nặng sẽ có nguy cơ tăng độc tính của bupivacain vì nhiễm toan do suy thận gây ra.

Thuốc này chứa 3,16 mg natri trong mỗi mL. Cần lưu ý điều này trên người đang dùng chế độ ăn kiêng muối

Trẻ em: Khi gây tê ngoài màng cứng cho trẻ em, phải dùng liều tăng dần tương ứng với độ tuổi và cân nặng, đặc biệt khi tiêm ngoài màng cứng vùng ngực vì có thể gây giảm huyết áp nặng và suy hô hấp. Chưa có tài liệu về việc sử dụng bupivacain để phong bế trong khớp cho trẻ từ 1 đến 12 tuổi. Chưa có tài liệu về việc sử dụng bupivacain để phong bế các dây thần kinh lớn cho trẻ từ 1 đến 12 tuổi.

Phong bế tủy sống thất bại

Thất bại phong bế tủy sống là tình trạng trường gặp với thuốc tê và có thể liên quan đến những vấn đề khi chọc dò tủy sống, những sai sót trong việc chuẩn bị và tiêm dung dịch thuốc tê, thuốc không lan tỏa thỏa đáng trong dịch não tủy, thuốc không có tác động trên mô thần kinh, và những khó khăn liên quan với việc quản lý bệnh nhân.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Thuốc có thể làm thay đổi khả năng phản xa ở người lái xe hay vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: A

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Không được phong bế thần kinh cạnh cổ tử cung trong gây tê sản khoa vì nguy cơ tăng trương lực tử cung ảnh hưởng đến thai (giảm ôxy).

Các nghiên cứu trên động vật không chứng minh bất kỳ tác dụng sinh quái thai nào nhưng cho thấy có độc tính trên thai. Trong thực hành lâm sàng, hiện không đủ dữ liệu để đánh giá một tác dụng gây dị dạng có thể có của bupivacain khi được dùng trong ba tháng đầu thai kỳ. Do đó, để phòng xa, tốt nhất là không dùng bupivacain trong ba tháng đầu thai kỳ.

Mặc dù vậy, cho đến nay, chưa có báo cáo nào về gây độc đặc biệt trên thai khi sử dụng bupivacain trong giai đoạn cuối thai kỳ hoặc khi chuyển dạ.

Thời kỳ cho con bú:

Như tất cả các thuốc gây tê khác, bupivacain được bài tiết trong sữa mẹ. Tuy nhiên, vì lượng thuốc được bài tiết trong sữa mẹ rất thấp, nên có thể cho con bú mẹ sau khi gây tê vùng.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các tác dụng không mong muốn liên quan với thuốc tê rất hiếm gặp khi không có quá liều, hấp thu toàn thân nhanh một cách bất thường hoặc sơ ý tiêm vào mạch máu; trong những trường hợp như vậy, tác dụng ngoại ý có thể rất nghiêm trọng, đặc biệt là về chức năng tim và thần kinh (xem mục Quá liều).

Khi không có nồng độ cao một cách bất thường trong huyết tương, tỉ lệ tác dụng không mong muốn của bupivacain tương tự như các thuốc tê khác thuộc loại amid có thời gian tác động dài.

Những tác dụng không mong muốn khi không quá liều gồm:

Rất hay gặp (> 1/10):

Rối loạn mạch máu: hạ huyết áp.

Rối loạn hệ tiêu hóa: buồn nôn.

Hay gặp(>1/100):

Rối loạn hệ thần kinh: nhức đầu do chọc dò tủy sống, dị cảm.

Rối loạn tai và mê đạo: chóng mặt.

Rối loạn tim: nhịp tim chậm, nhịp tim nhanh.

Rối loạn tiêu hóa: ói mửa.

Rối loạn thận và đường tiểu: bí tiểu

Rối loạn toàn thân và bất thường tại chỗ tiêm: tăng thân nhiệt.

Ít gặp (>1/1000):

Rối loạn hệ thần kinh: giảm cảm giác.

Hiếm gặp (> 1/10.000):

Rối loạn hệ miễn dịch: phản ứng dị ứng (sốc phản vệ).

Rối loạn mắt: lác mắt, song thị.

Những phản ứng bất lợi do cách dùng thuốc có thể khó phân biệt với các ảnh hưởng sinh lý của phong bế thần kinh (ví dụ giảm huyết áp, nhịp tim chậm khi vô cảm thần kinh trung ương), các biến cố do chọc kim trực tiếp (ví dụ tụ máu tủy sống) hoặc gián tiếp gây ra (ví dụ viêm màng não, áp-xe ngoài màng cứng) hoặc các biến cố do rò rỉ dịch não tủy (ví dụ nhức đầu do tư thế chọc dò).

Khi gây tê tủy sống, nhức đầu ở bệnh nhân trẻ thường gặp hơn, có thể phòng tránh bằng cách dùng kim tiêm số 25.

Ngoài ra, những biến chứng thần kinh sau đây có thể xảy ra sau khi gây tê ngoài màng cứng hoặc gây tê tủy sống. Những biến chứng này có thể phục hồi chậm hoặc không hồi phục:

– bệnh lý rễ thần kinh dai dẳng;

– bệnh lý thần kinh ngoại biên;

– liệt hai chi dưới;

– hội chứng đuôi ngựa bán phần hoặc toàn phần, với biểu hiện bí tiểu, đại tiện và tiểu tiện mất tự chủ, mất cảm giác đáy chậu và chức năng tình dục, mất cảm giác dai dẳng, dị cảm, yếu cơ, liệt chi dưới và mất kiểm soát cơ vòng. Những triệu chứng này có thể hồi phục chậm, không hoàn toàn hoặc không hồi phục.

– tụ máu dưới màng cứng trong sọ.

Dữ liệu về trẻ em

Đặc tính an toàn ở trẻ em tương tự như ở người lớn. Tuy nhiên, ở trẻ em, các dấu hiệu độc tính đầu tiên của gây tê tại chỗ có thể khó phát hiện khi sự phong bế được thực hiện cùng với an thần hoặc gây mê.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Xem hướng dẫn về liều lượng và cách xử trí quá liều. Cần chú ý triệu chứng của phản vệ và triệu chứng quá liều thuốc gây tê (Ngộ độc thuốc gây tê).

Cần xử trí kiên trì.

Dùng dung dịch lipid (intralipid).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Nên thận trọng khi dùng bupivacain trên bệnh nhân đang dùng thuốc chống loạn nhịp có hoạt tính gây tê như lidocain và aprindin, vì các tác dụng độc có tính chất cộng lực.

4.9 Quá liều và xử trí:

Tiêm một lượng lớn bupivacain vào dịch não tủy có thể gây phong bế lan rộng cỏ khả năng dẫn đến phong bế toàn bộ tủy sống.

Quá liều, sơ ý tiêm vào mạch máu, hấp thu thuốc nhanh bất thường hoặc tích lũy thuốc do thải trừ chậm có thể làm tăng nồng độ bupivacain trong huyết tương; gây ra các dấu hiệu độc tính cấp, có thể dẫn đến các tác dụng không mong muốn rất nghiêm trọng. Những phản ứng độc như thế liên quan đến hệ thần kinh trung ương và tim mạch.

Với thuốc tê nói chung, các dấu hiệu độc tính thần kinh xuất hiện trước các dấu hiệu độc tính tim, tuy nhiên, do tính chất độc tính tim đặc hiệu của bupivacain và do sự sử dụng phối hợp tương đối phổ biến giữa vô cảm cục bộ và an thần hoặc vô cảm toàn thân, đặc biệt là ở trẻ em. có thể quan sát thấy các dấu hiệu độc tính tim xảy ra cùng lúc (hoặc trước) các dấu hiệu độc tính thần kinh. Nồng độ bupivacain trong máu tĩnh mạch để có thể xảy ra những dấu hiệu đầu tiên của độc tính tim và thần kinh là 1,6 µg/mL.

Các tác dụng này như sau:

Độc tính hệ thần kinh trung ương:

Đây là một phản ứng phụ thuộc liều dùng, gồm các dấu hiệu và triệu chứng tăng độ nặng. Ban đầu, các triệu chứng được nhận thấy là bồn chồn, lo sợ, nói nhiều, ngáp, cảm giác say rượu, tê rần quanh miệng, tê lưỡi, ù tai và tăng cảm âm. Không được hiểu nhầm những dấu hiệu báo động này là hành vi loạn thần kinh chức năng. Rối loạn thị giác và giật cơ hoặc co cơ là những dấu hiệu nặng hơn có thể xảy ra trước khi co giật toàn thân. Tiếp đó, có thể xảy ra mất trí giác và các cơn động kinh co cứng – co giật kéo dài từ vài giây đến vài phút. Hạ ôxy-máu và tăng CO2 trong máu nhanh chóng xảy ra trong trường hợp động kinh do tăng hoạt động các cơ cũng như rối loạn hô hấp. Trong một số trường hợp nặng có thể xảy ra ngưng thở.

Độc tính tim mạch:

Bupivacain có độc tính đặc hiệu trên tim. Tăng nồng độ trong huyết tương có thể gây ra các rối loạn nhịp thất nặng như xoắn đỉnh, và nhịp nhanh thất dẫn đến rung thất và vô tâm thu vì sự phân ly điện học-cơ học.

Nồng độ cao trong huyết tương cũng có thể gây ra nhịp tim chậm và các rối loạn dẫn truyền nhĩ-thất nghiêm trọng: về mặt huyết động học, cũng có thể thấy giảm sức co bóp của tim kèm hạ huyết áp. Tất cả những rối loạn này có thể dẫn đến ngừng tim.

Điều trị

Cần thiết phải có ngay thuốc và dụng cụ sẵn dùng để xử trí cấp cứu tích cực.

Nếu các dấu hiệu độc tính cấp toàn thân xảy ra trong khi tiêm thuốc tê, phải ngừng tiêm ngay.

Phải dùng ngay ôxy tinh khiết qua mặt nạ để thông khí cho bệnh nhân; đôi khi biện pháp này tỏ ra đủ để chặn đứng động kinh co giật. Cũng cần bảo đảm sự thông thoáng đường thở của bệnh nhân.

Nếu không cắt được co giật trong vòng 15-20 giây, phải dùng thuốc chống co giật tiêm tĩnh mạch như thiopental (1-4 mg/kg) hoặc benzodiazepin (diazepam 0,1 mg/kg hoặc midazolam 0,05 mg/kg); nên tiêm succinylcholin để tạo thuận lợi cho việc đặt nội khí quản trong trường hợp co giật kháng trị.

Suy tuần hoàn được điều trị bằng một liều bolus adrenalin 5-10 g/kg, không nên vượt quá liều này để tránh nhịp nhanh thất hoặc rung thất. Các rối loạn nhịp thất được điều trị bằng cách khử rung.

Cần thực hiện các biện pháp cần thiết để xử trí nhiễm toan hô hấp và chuyển hóa, và chống giảm ôxy-máu để tránh các dầu hiệu độc tính diễn biến nặng hơn.

Nên theo dõi trong một thời gian dài vì sự liên kết rộng rãi của bupivacain ở các mô.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

THUỐC GÂY TÊ

(N01BB01: Hệ thần kinh trung ương)

Bupivacain là thuốc gây tê loại amid. Đặc tính gây tê của bupivacain:

Khởi phát gây tê chậm.

Thời gian tác dụng dài (kéo dài trong trường hợp sử dụng dạng thuốc phối hợp với adrenalin).

Đạt được tác dụng phong bế thần kinh cảm giác hầu như hoàn toàn với nồng độ 2,5 mg/mL, hoặc với nồng độ 5 mg/mL thuốc có tác dụng chủ yếu phong bế thần kinh cảm giác, kèm theo có ít nhiều tác dụng phong bế thần kinh vận động.

Trong gây tê tiêm thấm, thời gian mất cảm giác trung bình với một dung dịch không có adrenalin là 200 phút.

Trong gây tê ngoài màng cứng vùng thắt lưng, tác dụng gây tê bắt đầu được nhận thấy sau 5 phút, sau đó vùng mất cảm giác lan rộng tối đa trong vòng 20 phút và thời gian mất cảm giác dao động từ 200 phút (dung dịch 2,5 mg/mL) đến 300 phút (dung dịch 5 mg/mL).

Trong phong bế dây thần kinh ngoại biên, thời gian khởi phát mất cảm giác là 15-20 phút. Thời gian kéo dài tác dụng gây tê thay đổi khá nhiều, tùy theo cấu trúc, có thể dao động từ 6 đến 24 giờ trong gây tê một vài đám rối thần kinh.

Cơ chế tác dụng:

Cũng như các thuốc gây tê lidocaine, bupivacaine gây ức chế có hồi phục dẫn truyền xung động dọc theo sợi thần kinh bằng cách ngăn cản dòng ion natri đi vào qua màng tế bào thần kinh. (Các xung được gọi là điện thế hoạt động, phụ thuộc rất nhiều vào quá trình khử cực màng do dòng ion natri đi vào tế bào thần kinh thông qua các kênh natri). Bupivacaine đi qua màng tế bào thần kinh và phát huy tác dụng gây tê thông qua việc phong tỏa các kênh natri này. Khi ion natri không đi qua được kênh, bupivacaine sẽ ổn định màng ở trạng thái nghỉ và do đó ngăn ngừa sự dẫn truyền thần kinh.

Về mặt lâm sàng, thứ tự mất chức năng thần kinh như sau: (1) đau, (2) nhiệt độ, (3) xúc giác, (4) cảm giác vị trí cơ thể và (5) trương lực cơ xương.

Mặc dù đã được xác định rõ cơ chế chính của bupivacaine là thông qua việc chặn kênh natri, nhưng các tác dụng giảm đau bổ sung của bupivacaine còn được cho là do liên kết với thụ thể prostaglandin E2, phân nhóm EP1 (PGE2EP1), ức chế sản xuất prostaglandin, do đó làm giảm đau hạ sốt, giảm viêm.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu:

Sự hấp thu và khuếch tán bupivacain tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố:

kiểu tiêm,

đặc điểm của bệnh nhân,

nồng độ, tổng liều được tiêm,

đặc điểm lý-hóa của sản phẩm gây tê: độ hòa tan cao trong mỡ (ưu tiên liên kết với các mô chứa nhiều chất béo: tim, phổi, não); pKa 8,1; pH 7,4; 83% phần không liên kết được tìm thấy dưới dạng ion-hóa.

Phân bố:

Liên kết rất mạnh với protein huyết tương: khoảng 95% liều bupivacain liên kết với protein huyết tương (ưu tiên các alpha-1-glycoprotein).

Thời gian bán phân bố trong mô khoảng 30 phút và thể tích phân bố là 72 lít. Bupivacain đi qua nhau thai: tỷ số nồng độ thuốc trong máu thai nhi/ máu mẹ khoảng 1/3.

Thải trừ:

Bupivacain được chuyển hóa hầu như hoàn toàn ở gan, giáng hoá qua hệ mono-oxygenase phụ thuộc cytochrom P450.

Bupivacain được thải trừ chủ yếu dưới dạng chuyển hóa. Chất chuyển hóa chính là 2,6-pipecoloxylidin. Không có chất chuyển hóa nào của bupivacain có hoạt tính hoặc độc tính ở nồng độ được hấp thu vào huyết tương.

Khoảng 5-10% thuốc được thải trừ qua thận dưới dạng có hoạt tính. Thời gian bán thải biểu kiến khoảng 2,5 đến 3,5 giờ.

Nồng độ trong huyết tương

Trong gây tê ngoài màng cứng với tổng liều 150 mg bupivacain, nồng độ thuốc trong huyết tương đạt cực đại trong vòng 10 – 30 phút và lên đến khoảng 1 µg/mL.

Sau khi gây tê ngoài màng cứng trong sản khoa với liều từ 50 đến 100 mg bupivacain, nồng độ thuốc trong huyết tương người mẹ là 0,4 – 0,8 µg/mL.

Khi phong bế đám rối thần kinh cánh tay với 150 mg bupivacain, nòng độ thuốc trong huyết tương đạt cực đại trong vòng 15 – 20 phút và đạt khoảng 1,50 – 1,70 µg/mL.

Nồng độ trong huyết tương 1,6 µg/mL có thể làm xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của độc tính thần kinh và tim.

Dữ liệu trên trẻ em

Đặc tính dược động học của bupivacain ở trẻ em tương tự như ở người lớn.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: natri chlorid, natri hydroxyd, nước cất pha tiêm.

6.2. Tương kỵ :

Vì không có các nghiên cứu về tương kỵ, không nên trộn thuốc này với các thuốc khác.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C, trong bao bì nhà sản xuất.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Bupivacaine Aguettant do Cenexi SAS. sản xuất (2016).

Ngân hàng dữ liệu ngành Dược.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM