Pertuzumab

Thuốc Pertuzumab là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Pertuzumab (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Pertuzumab

Phân loại: Thuốc chống ung thư. Kháng thể đơn dòng

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01XC13.

Brand name: Perjeta

Generic : Pertuzumab

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc pha truyền 30mg/ml . Lọ 14ml (420mg)

Thuốc tham khảo:

PERJETA 420mg
Mỗi 14ml dung dịch đậm đặc có chứa:
Pertuzumab …………………………. 420 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Ung thư vú di căn: Pertuzumab được chỉ định điều trị kết hợp với Herceptin và docetaxel cho bệnh nhân ung thư vú di căn hoặc ung thư vú tái phát tại chỗ không thể phẫu thuật được, có HER2 dương tính, chưa được điều trị với liệu pháp kháng HER2 hoặc hóa trị liệu đối với ung thư di căn.

Điều trị tân bổ trợ ung thư vú: Pertuzumab phối hợp với Herceptin và hóa trị để điều trị tân bổ trợ cho những bệnh nhân ung thư vú có HER2 dương tính, tiến triển tại chỗ, viêm hoặc ung thư vú giai đoạn sớm (hoặc đường kính khối u > 2cm, hoặc có hạch dương tính) như là một phần trong phác đồ điều trị hoàn chỉnh cho bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm (xem phần Liều lượng và Cách dùng và Thử nghiệm lâm sàng).

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Hướng dẫn pha thuốc

Thuốc Pertuzumab chỉ được dùng liều đơn qua đường truyền tĩnh mạch.

Pertuzumab không có chất bảo quản kháng khuẩn. Do đó phải đảm bảo sự vô khuẩn của dung dịch pha truyền, và phải do nhân viên y tế chuẩn bị.

Thuốc Pertuzumab phải do nhân viên y tế chuẩn bị, sử dụng kỹ thuật tiệt trùng.

14 ml dung dịch cô đặc thuốc Pertuzumab nên được lấy từ lọ và pha loãng trong túi PVC hoặc polyolefin không PVC chứa 250 ml dịch truyền NaCl 0,9%. Không lấy nước muối ra khỏi túi dịch truyền.

Với liều ban đầu, cần dùng 2 lọ và sau khi pha loãng, nồng độ pertuzumab trong dung dịch là 3,0 mg/ml, với liều tiếp theo, cần dùng 1 lọ, và sau khi pha loãng, nồng độ pertuzumab trong dung dịch là 1,6 mg/ml.

Không được dùng dung dịch Dextrose (5%) (xem phần Tương kỵ).

Trộn bằng cách xoay ngược túi thuốc nhẹ nhàng để tránh tạo bọt.

Các thuốc dùng đường tiêm truyền phải được kiểm tra bằng mắt các cặn lắng và sự mất màu sắc trước khi dùng. Thuốc phải được dùng liền sau khi chuẩn bị (xem phần Bảo quản).

Liều dùng:

Bệnh nhân điều trị với Pertuzumab cần phải có khối u HER2 dương tính, được định nghĩa là có điểm 3+ theo IHC hoặc là tỷ lệ >2,0 theo ISH được đánh giá bằng một thử nghiệm đã được kiểm định.

Để đảm bảo kết quả chính xác và có tính lặp lại, các xét nghiệm cần được thực hiện trong phòng xét nghiệm chuyên khoa, nơi có thể đảm bảo sự xác thực của các quy trình xét nghiệm.

Để được hướng dẫn đầy đủ về việc thực hiện xét nghiệm và diễn giải xin vui lòng tham khảo tờ thông tin về xét nghiệm HER2 đã được kiểm định.

Nếu muốn chuyển qua một sản phẩm thuốc sinh học khác, cần sự đồng ý của bác sĩ điều trị.

Để tránh sai sót khi sử dụng thuốc, cần kiểm tra nhãn thuốc để bảo đảm thuốc được chuẩn bị và sử dụng đúng là Pertuzumab.

Pertuzumab phải được dùng dưới sự giám sát của bác sĩ có kinh nghiệm điều trị bệnh nhân ung thư.

Pertuzumab phải được pha loãng bởi nhân viên y tế và được tiêm truyền tĩnh mạch. Không được tiêm hoặc bơm tĩnh mạch.

Liều lượng Pertuzumab khi phối hợp với Herceptin và docetaxel

Liều khởi đầu của Pertuzumab được khuyến cáo là 840 mg tiêm truyền tĩnh mạch trong 60 phút, tiếp theo 3 tuần sau đó là liều 420 mg được tiêm truyền từ 30 đến 60 phút.

Khi sử dụng chung với Pertuzumab, Herceptin được khuyến nghị là nên truyền tĩnh mạch với liều khởi đầu là 8 mg/kg trong vòng 90 phút theo lịch trình mỗi 3 tuần, tiếp theo mỗi 3 tuần sau đó với liều 6 mg/kg trong vòng từ 30 đến 90 phút.

Khi sử dụng chung với Pertuzumab, khuyến nghị liều khởi đầu của docetaxel là 75 mg/m2. Có thể tăng liều lên đến 100 mg/m2 nếu liều khởi đầu được dung nạp tốt.

Các thuốc nên được dùng tuần tự. Pertuzumab và Herceptin có thể cho theo bất kỳ thứ tự nào. Khi bệnh nhân dùng docetaxel, thì liều docetaxel phải được dùng sau Pertuzumab và Herceptin. Cần theo dõi bệnh nhân 30-60 phút sau mỗi lần truyền Pertuzumab và trước khi bắt đầu bất cứ việc tiêm truyền nào tiếp theo với Herceptin hoặc docetaxel (xem phần Cảnh báo).

Điều trị tân bổ trợ ung thư vú

Pertuzumab, Herceptin và docetaxel nên được dùng như trên như một phần của một trong các phác đồ sau:

3 chu kì sau phác đồ FEC

4 chu kì trước phác đồ FEC

6 chu kì với carboplatin (không nên tăng liều docetaxel trên 75 mg/m2).

Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân nên được điều trị bổ trợ bằng Herceptin cho đủ 1 năm.

Chưa có đủ bằng chứng khuyến cáo dùng đồng thời một loại anthracycline với Pertuzumab.

Tính an toàn của Pertuzumab như một phần trong phác đồ điều trị có doxorubicin chưa được xác lập.

Thời gian điều trị:

Ung thư vú di căn: Khuyến cáo bệnh nhân nên điều trị với Pertuzumab đến khi nào bệnh tiến triển hoặc bị độc tính không thể kiểm soát được.

Điều trị tân bổ trợ ung thư vú:

Khuyến cáo bệnh nhân nên điều trị với Pertuzumab từ 3 đến 6 chu kì phụ thuộc vào phác đồ điều trị được chọn lựa (xem phần Thử nghiệm lâm sàng).

Tính an toàn của việc dùng Pertuzumab hơn 6 chu kỳ cho điều trị tân bổ trợ ung thư vú chưa được xác lập.

Hoãn hoặc bỏ liều: Nếu thời gian giữa 2 lần truyền dưới 6 tuần, liều Pertuzumab 420 mg nên được cho càng sớm càng tốt. Đừng chờ đến lần truyền dự kiến tiếp theo. Nếu thời gian giữa 2 lần truyền là 6 tuần hoặc hơn, nên dùng lại liều Pertuzumab 840 mg khởi đầu truyền tĩnh mạch trong vòng 60 phút, sau đó liều 420 mg mỗi 3 tuần truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút.

Điều chỉnh liều:

Nên ngưng Pertuzumab nếu ngưng điều trị Herceptin.

Nếu ngưng docetaxel, vẫn có thể tiếp tục điều trị với Pertuzumab và Herceptin đến khi nào bệnh tiến triển hoặc độc tính không thể xử trí được.

Không khuyến nghị giảm liều đối với Pertuzumab.

Đối với Herceptin khuyến nghị không nên giảm liều, xin xem thông tin ghi toa Herceptin.

Đối với chỉnh liều docetaxel và các hóa chất khác, xin xem thông tin ghi toa của các thuốc liên quan.

Phản ứng liên quan đến tiêm truyền: Giảm tốc độ truyền hoặc ngưng truyền Pertuzumab nếu bệnh nhân có phản ứng liên quan đến tiêm truyền.

Phản ứng quá mẫn/sốc phản vệ: Nên ngưng tức thì tiêm truyền nếu bệnh nhân bị phản ứng quá mẫn nghiêm trọng (xem phần Cảnh báo).

Rối loạn chức năng thất trái:

Tạm ngưng Pertuzumab và Herceptin trong ít nhất 3 tuần đối với bất cứ trường hợp nào dưới đây:

Khi phân suất tống máu thất trái (LVEF) giảm xuống dưới 40%

Khi phân suất tống máu thất trái (LVEF) là 40-45% kết hợp với giảm ≥ 10% điểm so với mức trước khi điều trị.

Pertuzumab và Herceptin có thể dùng lại nếu LVEF phục hồi lại đến > 45% hoặc 40-45% kết hợp với giảm < 10% điểm dưới mức trước khi điều trị.

Nếu sau khi lặp lại sự đánh giá trong khoảng 3 tuần, LVEF không được cải thiện, hoặc giảm thêm, nên ngưng Pertuzumab và Herceptin, trừ khi đánh giá lợi ích vượt hơn nguy cơ đối với bệnh nhân (xem phần Cảnh báo).

Giới hạn sử dụng liên quan đến an toàn

Tính an toàn của việc dùng Pertuzumab trong liệu trình có doxorubicin chưa được xác lập.

Tính an toàn của việc dùng Pertuzumab hơn 6 chu kỳ ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn đầu chưa được xác lập.

Hướng dẫn về liều lượng đặc biệt

Người cao tuổi: Không ghi nhận khác biệt về tính an toàn và hiệu quả của Pertuzumab giữa bệnh nhân người lớn ≥65 tuổi và <65 tuổi. Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi.

Trẻ em: Tính an toàn và hiệu quả của Pertuzumab ở trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác lập.

Suy giảm chức năng thận: Không cần chỉnh liều Pertuzumab ở bệnh nhân có suy thận nhẹ và vừa. Không có khuyến cáo nào về liều lượng cho bệnh nhân suy thận nặng vì chưa có đủ dữ liệu dược động học (xem phần Dược động học ở những dân số đặc biệt).

Suy chức năng gan: Tính an toàn và hiệu quả của Pertuzumab không được nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định Pertuzumab ở bệnh nhân đã biết có tình trạng quá mẫn với pertuzumab hoặc bất cứ tá dược nào của thuốc.

4.4 Thận trọng:

Tổng quát: Nhằm cải thiện việc truy xuất nguồn gốc của sản phẩm thuốc sinh học, tên thương mại của thuốc sử dụng phải được ghi rõ trong hồ sơ của bệnh nhân.

Suy giảm chức năng thất trái

Đã có báo cáo thuốc ức chế hoạt động HER2 làm suy giảm phân suất tống máu thất trái, kể cả Pertuzumab. Trong nghiên cứu then chốt Phase III CLEOPATRA, ở các bệnh nhân ung thư vú di căn, Pertuzumab kết hợp với Herceptin và docetaxel không có liên quan đến sự tăng tỷ lệ rối loạn chức năng tâm thu thất trái có triệu chứng (LVD [suy tim sung huyết]) hoặc giảm phân suất tống máu thất trái (LVEF) so với giả dược khi kết hợp với Herceptin và docetaxel (xem phần Tác dụng ngoại ý). Tuy nhiên, bệnh nhân đã điều trị trước đó bằng anthracycline hoặc xạ trị trước đó ở vùng ngực có thể có nguy cơ giảm LVEF cao hơn.

Ở các bệnh nhân điều trị tân bổ trợ (NEOSPHERE), tần suất bệnh nhân có LVD ở nhóm điều trị bằng Pertuzumab cao hơn nhóm điều trị bằng Herceptin và docetaxel. Ở những bệnh nhân điều trị bằng Pertuzumab phối hợp với Herceptin và docetaxel, đã quan sát thấy có sự tăng tỷ lệ bệnh nhân bị giảm LVEF, tuy nhiên LVEF đã hồi phục ≥ 50% ở tất cả các bệnh nhân.

Pertuzumab chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân: có LVEF ≤ 50% trước khi điều trị, ở người có tiền sử bị suy tim sung huyết trước đó; suy giảm LVEF đến < 50% trong thời gian điều trị trước đó với liệu pháp hỗ trợ bằng Herceptin; có tình trạng có thể đưa đến suy giảm chức năng thất trái như cao huyết áp không kiểm soát được, nhồi máu cơ tim gần đây, loạn nhịp thất nặng cần điều trị hoặc có những liều cộng dồn anthracycline trước đó đến > 360 mg/m2 doxorubicin hoặc tương đương.

Đánh giá LVEF trước khi khởi đầu điều trị với Pertuzumab và với khoảng cách thời gian đều đặn (ví dụ mỗi 3 tháng ở những bệnh nhân điều trị ung thư vú di căn và mỗi 6 tuần ở những bệnh nhân điều trị tân bổ trợ) trong thời gian điều trị để đảm bảo LVEF ở trong các giới hạn bình thường. Nếu LVEF < 40% hoặc 40-45% kèm theo giảm ≥ 10% điểm dưới mức trước khi điều trị, phải tạm ngưng Pertuzumab và Herceptin và đánh giá lại LVEF trong vòng 3 tuần. Nếu LVEF không cải thiện, hoặc giảm thêm sau đó, nên ngưng Pertuzumab và Herceptin, trừ khi lợi ích cho bệnh nhân nhiều hơn nguy cơ (xem phần Liều lượng và Cách dùng).

Độc tính trên phôi thai: Pertuzumab có thể gây nguy hiểm cho thai nhi khi được sử dụng cho phụ nữ mang thai. Điều trị khỉ cái đuôi dài đang mang thai với pertuzumab gây ra thiểu ối, chậm phát triển thận của thai nhi, và gây chết thai. Nếu dùng Pertuzumab trong thời kỳ mang thai, hoặc nếu bệnh nhân có thai trong khi đang dùng thuốc hoặc trong vòng 7 tháng sau liều cuối cùng của Pertuzumab kết hợp với trastuzumab, bệnh nhân cần được thông báo về những nguy hiểm có khả năng xày ra trên thai nhi [xem mục Sử dụng trên các đối tượng đặc biệt]. Cần xác nhận tình trạng mang thai trước khi bắt đầu điều trị với Pertuzumab. Tư vấn cho bệnh nhân về nguy cơ chết phôi-thai, dị tật bẩm sinh và sự cần thiết của việc tránh thai trong và sau khi điều trị. Tư vấn cho bệnh nhân cần liên lạc ngay lập tức với cán bộ y tế nếu nghi ngờ đang mang thai. Nếu bệnh nhân dùng Pertuzumab trong thời kỳ mang thai, hoặc nếu bệnh nhân có thai trong khi đang dùng thuốc hoặc trong vòng 7 tháng sau liều cuối cùng của Pertuzumab kết hợp với trastuzumab, cần ngay lập tức báo cáo với F. Hoffmann-La Roche Ltd., văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh theo số điện thoại +84 9 77 17 42 42 hoặc +84 9 72 82 93 55, Fax: +84 8 38 21 62 76. Khuyến khích những phụ nữ điều trị Pertuzumab kết hợp trastuzumab khi đang mang thai hoặc trong vòng 7 tháng trước khi thụ thai tham gia vào Mother Pregnancy Registry bằng cách liên hệ qua số điện thoại +84 9 77 17 42 42 hoặc +84 9 72 82 93 55 (xem thông tin tư vấn bệnh nhân). Theo dõi thiếu ối ở bệnh nhân mang thai khi đang điều trị với Pertuzumab. Nếu thiếu ối xảy ra, thực hiện các xét nghiệm trên thai phù hợp với tuổi thai và các tiêu chuẩn cộng đồng về chăm sóc. Hiệu quả của việc truyền dịch tĩnh mạch trong việc xử trí tình trạng thiếu ối do dùng Pertuzumab không rõ.

Phản ứng liên quan đến truyền dịch và phản ứng quá mẫn/ phản ứng phản vệ: Tiêm truyền Pertuzumab có liên quan đến phản ứng do tiêm truyền (xem phần Tác dụng ngoại ý). Trong nghiên cứu 1, phản ứng do tiêm truyền được định nghĩa là bất kỳ phản ứng nào trong số phản ứng quá mẫn, phản ứng phản vệ, phản ứng truyền cấp tính, hoặc hội chứng giải phóng cytokine xảy ra trong một lần truyền hoặc trong cùng một ngày. Liều khởi đầu của Pertuzumab đã được đưa ra một ngày trước khi dùng trastuzumab và docetaxel để cho phép đánh giá các phản ứng liên quan đến Pertuzumab. Vào ngày đầu tiên, khi chỉ Pertuzumab được dùng, tần suất chung của phản ứng do tiêm truyền là 13,0% ở nhóm điều trị với Pertuzumab và 9,8% ở nhóm dùng placebo. Có ít hơn 1% ở độ 3 hay 4. Các phản ứng liên quan đến tiêm truyền thường gặp nhất (≥ 1,0%) là sốt, ớn lạnh, mệt mỏi, nhức đầu, suy nhược, quá mẫn, và ói mửa. Trong liệu trình thứ hai khi tất cả các loại thuốc được tiêm vào cùng một ngày, các phản ứng liên quan đến tiêm truyền thường gặp nhất trong nhóm điều trị với Pertuzumab (≥ 1,0%) là mệt mỏi, rối loạn vị giác, mẫn cảm, đau cơ, và ói mửa. Trong nghiên cứu 2 và 3, Pertuzumab được tiêm vào cùng một ngày với các loại thuốc khác. Các phản ứng do tiêm truyền cũng phù hợp với những kết quả quan sát được trong nghiên cứu 1, với đa số phản ứng được ghi nhận là độ 1-2 theo Các tiêu chuẩn chung cho các phản ứng bất lợi của Viện Ung thư Quốc gia (NCI – CTCAE v3.0). Sau khi tiêm truyền lần đầu Pertuzumab, nên theo dõi sát bệnh nhân trong vòng 60 phút, và trong vòng 30 phút sau những lần tiêm truyền Pertuzumab tiếp theo. Nếu có phản ứng đáng kể do tiêm truyền xảy ra thì giảm tốc độ truyền hoặc ngưng lại và điều trị nội khoa thích hợp. Bệnh nhân cần được đánh giá lại và theo dõi sát đến khi nào tất cả triệu chứng biến mất. Cần xem xét việc ngưng truyền thuốc vĩnh viễn ở bệnh nhân bị phản ứng do tiêm truyền nặng. Việc đánh giá lâm sàng này phải dựa trên mức độ nặng của phản ứng xảy ra trước đó và đáp ứng đối với điều trị phản ứng bất lợi (xem phần Liều lượng và Cách dùng).

Phản ứng quá mẫn/sốc phản vệ:

Trong nghiên cứu 1, tần suất chung của phản ứng quá mẫn/sốc phản vệ là 10,8% ở nhóm bệnh nhân điều trị bởi Pertuzumab và 9,1% ở nhóm dùng placebo. Tỉ lệ các phản ứng quá mẫn/sốc phản vệ độ 3, 4 là 2,0% ở nhóm được điều trị bởi Pertuzumab và 2,5% ở nhóm dùng placebo theo NCI – CTCAE v3.0. Kết quả ghi nhận có 4 bệnh nhân trong nhóm được điều trị bởi Pertuzumab và 2 bệnh nhân ở nhóm dùng placebo có sốc phản vệ. Trong nghiên cứu 2 và 3, các phản ứng quá mẫn/sốc phản vệ phù hợp với kết quả quan sát được trong nghiên cứu 1. Trong nghiên cứu 2, hai bệnh nhân điều trị với Pertuzumab và docetaxel bị sốc phản vệ. Trong nghiên cứu 3, tần suất chung của phản ứng quá mẫn/sốc phản vệ cao nhất trong nhóm điều trị bởi Pertuzumab kết hợp TCH (13,2%), trong đó 2,6% là NCI-CTCAE (phiên bản 3) độ 3-4.

Bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ để nhận diện các phản ứng quá mẫn. Phản ứng quá mẫn nghiêm trọng, bao gồm sốc phản vệ đã được quan sát thấy ở các thử nghiêm lâm sàng có điều trị bằng Pertuzumab (xem phần Tác dụng ngoại ý). Các thuốc điều trị những phản ứng như vậy, cũng như các thiết bị cấp cứu, cần được có sẵn để dùng ngay lập tức. Chống chỉ định dùng Pertuzumab với ở những bệnh nhân phản ứng quá mẫn với pertuzumab hoặc bất kì thành phần nào của thuốc đã được ghi nhận (xem phần Chống chỉ định).

Xét nghiệm HER2

Phát hiện HER2 biểu hiện quá mức là cần thiết để lựa chọn bệnh nhân thích hợp điều trị với Pertuzumab vì đây là những đối tượng duy nhất được nghiên cứu và được chứng minh có lợi ích [xem Chỉ định và sử dụng (1) và các nghiên cứu lâm sàng]. Bệnh nhân ung thư vú cần phải có bằng chứng HER2 biểu hiện quá mức được định nghĩa là có điểm 3+ theo IHC hoặc là tỷ lệ khuếch đại FISH ≥ 2.0 trong các nghiên cứu lâm sàng (FISH: Phương pháp xác định trình trạng HER2 bằng kỹ thuật lai tại chỗ gắn huỳnh quang). Chỉ có các dữ liệu hạn chế đối với bệnh nhân ung thư vú dương tính với FISH, nhưng không có protein biểu hiện quá mức trên IHC.

Đánh giá về tình trạng HER2 nên được thực hiện tại các phòng thí nghiệm bằng các xét nghiệm công nghệ cao đã được FDA chấp thuận. Việc thực hiện khảo nghiệm không đúng cách, bao gồm sử dụng mô được cố định chưa tối ưu, việc không sử dụng thuốc thử đặc biệt, độ lệch kết quả từ các hướng dẫn xét nghiệm cụ thể, và không có các kiểm tra thích hợp để chuẩn hóa xét nghiệm, có thể dẫn đến kết quả không đáng tin cậy.

Sử dụng ở trẻ em: Tính an toàn và hiệu quả của Pertuzumab ở trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác lập.

Suy chức năng thận: (xem phần Hướng dẫn đặc biệt về liều lượng, Dược động học ở những dân số đặc biệt).

Suy chức năng gan: Tính an toàn và hiệu quả của Pertuzumab chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân suy gan.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có nghiên cứu nào về tác dụng của thuốc trên khả năng lái xe và vận hành máy móc được thực hiện.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Không nên sử dụng Pertuzumab ở phụ nữ có thai trừ khi lợi ích tiềm tàng cho mẹ vượt hơn nguy cơ có thể xảy ra cho bào thai. Phụ nữ trong tuổi có thể mang thai và bạn tình của những nam bệnh nhân, có khả năng có thai nên sử dụng biện pháp tránh thai hữu hiệu khi được điều trị với Pertuzumab và trong vòng 6 tháng sau liều cuối cùng Pertuzumab.

Không có nghiên cứu nào về Pertuzumab trên phụ nữ có thai. Khi tiêm Pertuzumab ở khỉ cynomolgus trong thời gian tượng hình thai thấy gây thiểu ối, làm chậm phát triển thận và gây tử vong cho bào thai (xem phần Tính sinh quái thai).

Chuyển dạ và sinh đẻ: Việc sử dụng an toàn Pertuzumab trong thời gian chuyển dạ và sinh đẻ chưa được thiết lập.

Thời kỳ cho con bú:

Vì lý do IgG người được tiết qua sữa mẹ và khả năng hấp thu, gây hại cho trẻ nhũ nhi không được biết, nên cần quyết định ngưng cho bú, hoặc cần xem xét tầm quan trọng của thuốc đối với mẹ và thời gian bán hủy của pertuzumab (xem phần Thải trừ ).

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Mức độ xảy ra các tác dụng không mong muốn được phân loại như sau: rất thường gặp (≥1/10), thường gặp (từ ≥1/100 đến <1/10), ít gặp (từ ≥1/1000 đến <1/100), hiếm (từ ≥1/10.000 để <1/1000), rất hiếm (từ <1/10.000).

Bảng: Tóm tắt các phản ứng bất lợi xảy ra khi điều trị với Pertuzumab ở các bệnh nhân di căn và điều trị tân bổ trợ
Phản ứng bất lợi (MedDRA) Hệ thống cơ quan Pertuzumab + Herceptin + hóa trịAA n = 980AAA (100%)
Tần suất %
Loại tần suất
Tất cả mức độ % Độ 3-4%
Rối loạn huyết học và hệ bạch huyết
Giảm bạch cầu đa nhân trung tính 45,2 41,2 Rất thường gặp
Thiếu máu 17,1 3,1 Rất thường gặp
Giảm bạch cầu 14,2 9,7 Rất thường gặp
Sốt giảm bạch cầu* 10,7 10,4 Rất thường gặp
Rối loạn tim mạch
Rối loạn chức năng thất trái** 4,5 0,8 Thường gặp
Suy tim sung huyết** 0,3 0,2 ít gặp
Rối loạn về mắt
Tăng tiết nước mắt 9 Thường gặp
Rối loạn dạ dày – ruột
Tiêu chảy 58,9 6,6 Rất thường gặp
Buồn nõn 39,5 0,7 Rất thường gặp
Nôn 23,4 1,3 Rất thường gặp
Viêm dạ dày 15,2 0,2 Rất thường gặp
Táo bón 12,3 Rất thường gặp
Rối loạn toàn thân và tinh trạng tại vị trí tiêm
Mệt mỏi 31,5 1,4 Rất thường gặp
Viêm niêm mạc 21,5 0,9 Rất thường gặp
Suy nhược 18,6 1,7 Rất thường gặp
Sốt 15,6 0,5 Rất thường gặp
Phù ngoại vi 12,4 0,2 Rất thường gặp
Rối loạn hệ thống miễn dịch
Quá mẫn với thuốc 5,2 0,9 Thường gặp
Quá mẫn 3,1 0,4 Thường gặp
Nhiễm khuẩn và nhiễm kỷ sinh trùng
Nhiễm khuẩn đường hô hấp trẽn 11,7 0,3 Rất thường gặp
Viêm mũi hầu 10,8 Rất thường gặp
Viêm quanh móng 3,8 Thường gặp
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Giảm thèm ăn 19,6 0,7 Rất thường gặp
Rối loạn cơ – xương, mõ liên kết
Đau cơ 18,6 0,6 Rất thường gặp
Đau khớp 13,2 0,1 Rất thường gặp
Rối loạn hệ thần kinh
Đau đầu 19,3 0,7 Rất thường gặp
Rối loạn vị giác 14,1 Rất thường gặp
Bệnh lý thần kinh ngoại vi 11,6 1,1 Rất thường gặp
Chóng mặt 9,9 0,4 Thường gặp
Bệnh lý thần kinh cảm giác ngoại vi 8,9 0,3 Thường gặp
Rối loạn tâm thần
Mất ngủ 12,2 Rất thường gặp
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
Khó thở 9,8 0,7 Thường gặp
Tràn dịch màng phổi 2,2 0,1 Thường gặp
Rối loạn về da và mô dưới da
Rụng tóc 51 Rất thường gặp
Phát ban 27,1 0,6 Rất thường gặp
Rối loạn về móng 13,5 0,5 Rất thường gặp
Ngứa 9,2 Thường gặp
Khô da 7,7 Thường gặp

A Bảng 4 trình bày dữ liệu từ giai đoạn điều trị tổng thể trong nghiên cứu CLEOPATRA (dữ liệu lấy tại thời điểm ngày 11/02/014, số chu kỳ điều trị trung bình của Pertuzumab là 24); và từ thời gian điều trị tân bổ trợ trong nghiên cứu NEOSPHERE (số chu kỳ điều trị trung bình của Pertuzumab là 4, trẽn tất cả các nhóm điều trị) và nghiên cứu TRYPHAENA(số chu kỳ điều trị trung bình của Pertuzumab là 3 trong nhóm FEC / Ptz + T + D và 6 trong nhóm Ptz + T + FEC / Ptz + T + D và Ptz + TCH).

AA Trong nghiên cứu NEOSPHERE, 108 bệnh nhân điều trị với Pertuzumab + Herceptin mà không kết hợp với docetaxel và 94 bệnh nhân điều trị với Pertuzumab + docetaxel mà không kết hợp với Herceptin.

AAA Trong nghiên cứu CLEOPATRA, trang tổng số 980 bệnh nhân điều trị với Parjeta, 45 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên điều trị với giả dược không có tiền sử dùng Pertuzumab, đã chuyển sang dùng Pertuzumab.

* Bảng này trình bày một phản ứng bất lợi đã được báo cáo có liên quan với hậu quả gây tử vong.

** Tỷ lệ rối loạn chức năng thất trái và suy tim sung huyết phản ánh các phản ứng bất lợi được báo cáo trong các nghiên cứu riêng biệt.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Một nghiên cứu phụ trên 37 bệnh nhân của nghiên cứu then chốt CLEOPATRA, cho thấy không có bằng chứng về tương tác giữa Pertuzumab và Herceptin và giữa Pertuzumab và docetaxel. Ngoài ra không có bằng chứng tương tác lâm sàng nào, liên quan đến dược động học của Pertuzumab khi sử dụng chung với docetaxel hoặc Herceptin dựa trên phân tích dược động học dân số. Điều này đã được chứng minh bằng các dữ liệu dược động học trong nghiên cứu NEOSPHERE.

Bốn nghiên cứu được thực hiện để đánh giá tác dụng của Pertuzumab trên dược động học khi dùng chung với các chất độc tế bào khác, docetaxel, gemcitabine, erlotinib và capecitabine. Không có bằng chứng nào về tương tác dược động học giữa Pertuzumab và các thuốc đó. Dược động học của Pertuzumab trong các nghiên cứu này cũng tương tự như kết quả trong các nghiên cứu đơn trị liệu.

4.9 Quá liều và xử trí:

Không có kinh nghiệm về quá liều trong các thử nghiệm lâm sàng trên người. Các liều đơn cao hơn 25 mg/kg (1727 mg) chưa từng được thử nghiệm.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Pertuzumab là một kháng thể đơn dòng tái tổ hợp nhân tạo, đặc biệt nhắm mục tiêu vào miền làm giảm chất ngoại bào (miền phụ II) của protein thụ thể 2 yếu tố tăng trưởng biểu bì của con người, bao gồm cả HER HER3 và HER4

Cơ chế tác dụng:

Pertuzumab là một kháng thể đơn dòng tái tổ hợp nhân hóa gắn chuyên biệt vào vùng ngoại bào tham gia nhị trùng hóa (phân vùng II) của protein thụ thể yếu tố tăng trưởng thượng bì người (HER2), từ đó ngăn chặn sự bắt cặp dị hợp tử phụ thuộc ligand của HER2 với các HER khác cùng họ, bao gồm EGFR, HER3 và HER4. Kết quả là Pertuzumab ức chế sự phát tín hiệu nội bào của ligand thông qua hai con đường tín hiệu chính, men mitogen activated protein (MAP) kinase và phosphoinositide 3 kinase (PI3K). Việc ức chế hai con đường tín hiệu này lần lượt làm ngừng sự tăng trưởng tế bào và gây chết tế bào theo chương trình. Ngoài ra, Pertuzumab còn kích thích sự gây độc tế bào phụ thuộc kháng thể (ADCC).

Trong khi sử dụng Pertuzumab đơn lẻ gây ức chế sự tăng sinh tế bào khối u người, thì việc kết hợp Pertuzumab và Herceptin làm gia tăng đáng kể hoạt tính kháng khối u trong các mô hình ghép ngoại lai biểu hiện quá mức HER2.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu: Pertuzumab được sử dụng qua đường truyền tĩnh mạch. Không thực hiện nghiên cứu với các đường dùng khác.

Phân phối: Xuyên suốt qua tất cả thử nghiệm lâm sàng, thể tích phân phối ở khoang trung tâm (Vc) và ngoại vi (Vp) trên bệnh nhân tiêu biểu lần lượt là 3,11 L và 2,46 L.

Chuyển hóa: Chuyển hóa của pertuzumab không được nghiên cứu trực tiếp. Các kháng thể được thải trừ chủ yếu bằng dị hóa.

Thải trừ: Trung vị độ thanh thải (CL) của pertuzumab là 0,235 L/ngày và trung vị thời gian bán thải là 18 ngày.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Glacial acetic acid , L-Histidine, Sucrose, Polysorbate 20, Water for injections

6.2. Tương kỵ :

Không thấy có tương kỵ nào giữa Pertuzumab và polyvinylchloride, polyethylene hoặc túi polyolefin không PVC.

Không nên dùng dung dịch dextrose (5%) để pha loãng Pertuzumab bởi vì tính chất hóa lý của thuốc không ổn định trong những dung dịch này (dung dịch pertuzumab pha loãng trong các túi D5W truyền tĩnh mạch không duy trì được pH ổn định sau khi bảo quản ở nhiệt độ phòng (27-33°C) 24 giờ tiếp theo là bảo quản ở nhiệt độ tủ lạnh trong 24 giờ [2-8°C]). Không nên trộn hoặc pha Pertuzumab với các thuốc khác.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản lọ thuốc trong tủ lạnh ở nhiệt độ 2°C-8°C.

Giữ lọ thuốc trong vỏ hộp để tránh ánh sáng.

Không để đông lạnh. không lắc lọ thuốc.

Hạn dùng của dung dịch truyền chứa thuốc

Thuốc Pertuzumab không chứa chất bảo quản kháng khuẩn; do đó cần thận trọng để đảm bảo tính vô khuẩn của dung dịch đã pha.

Dung dịch truyền Pertuzumab được pha loãng trong túi polyvinylchloride (PVC) hoặc polyolefin không PVC chứa dung dịch truyền NaCl 0.9% theo tiêu chuẩn Dược điển Mỹ (USP), có thể bảo quản đến 24 giờ ở nhiệt độ 2°C-8°C (36°F-46°F) trước khi sử dụng. Pertuzumab được pha loãng ổn định trong 24 giờ (ở nhiệt độ tới 30°C). Tuy nhiên bởi vì Pertuzumab pha loãng không có chất bảo quản, nên dung dịch pha loãng nên được bảo quản lạnh (2°C-8°C).

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM