Thuốc ONDA là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc ONDA (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Ondansetron
Phân loại: Thuốc chống nôn, đối kháng thụ thể 5-HT3.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A04AA01.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: ONDA
Hãng sản xuất : Vianex S.A.- Nhà máy A
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Dung dịch tiêm 2mg/ml . Hộp 1 ống 4ml
Viên nén 4mg, 8mg
Thuốc tham khảo:
| ONDA 8mg/4ml | ||
| Mỗi ống tiêm 4ml có chứa: | ||
| Ondansetron | …………………………. | 8 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| ONDA 8mg TABLET | ||
| Mỗi viên nén có chứa: | ||
| Ondansetron | …………………………. | 8 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Người lớn:
Dung dịch tiêm ondansetron được chỉ định trong phòng buồn nôn và nôn do hóa trị và xạ trị gây độc tế bào. Dung dịch tiêm ondansetron cũng được chỉ định phòng và điều trị buồn nôn và nôn sau phẫu thuật.
Trẻ em:
Phòng buồn nôn và nôn do hóa trị liệu đối với bệnh nhân từ 6 tháng tuổi trở lên và phòng và điều trị buồn nôn và nôn sau phẫu thuật đối với bệnh nhân từ 1 tháng tuổi trở lên.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Tiêm tĩnh mạch hay tiêm bắp
Liều dùng:
Buồn nôn và nôn do hóa trị và xạ trị:
Người lớn:
Khả năng gây nôn trong điều trị ung thư khác nhau tùy theo liều dùng và sự phối hợp điều trị trong hóa trị và xạ trị.
Ondansetron có thể dùng uống, tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch và đặt trực tràng, vì thế cho phép linh hoạt trong cách dùng và liều lượng.
Liều ondansetron tiêm từ 8-32 mg/ngày và được cụ thể hóa như sau:
Nôn nhẹ do hóa trị và xạ trị:
Đối với những bệnh nhân nôn nhẹ do hóa trị hoặc xạ trị, có thể dùng ondansetron uống (viên hoặc sirô) hay đặt trực tràng hay tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
Liều khuyến cáo dùng tiêm là 8 mg tiêm tĩnh mạch chậm hay tiêm bắp ngay trước khi điều trị. Để phòng nôn muộn hoặc kéo dài sau 24 giờ đầu, nên tiếp tục uống 8 mg mỗi 12 giờ cho tới 5 ngày hoặc đặt trực tràng 1 viên 16 mg/ngày cho tới 5 ngày.
Nôn nhiều do hóa trị liệu:
Đối với những bệnh nhân nôn nhiều do điều trị hóa trị liệu, thí dụ cisplatin liều cao, có thể dùng ondansetron tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
Một liều đơn 8 mg tiêm tĩnh mạch chậm ngay trước khi hóa trị, tiếp theo thêm 2 liều tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 8 mg cách nhau từ 2 đến 4 giờ, hoặc truyền tĩnh mạch liên tục 1 mg/giờ cho tới 24 giờ. Có thể chọn tiêm truyền 32 mg trong thời gian không dưới 15 phút. Liều ondansetron cao hơn 8 mg và lên đến 32 mg chỉ dùng tiêm tĩnh mạch, pha loãng trong 50-100 ml dung dịch Natri clorid hay dịch truyền tương hợp khác (xem hướng dẫn sử dụng) và truyền trong ít nhất 15 phút.
Phác đồ điều trị được lựa chọn theo mức độ gây nôn của thuốc hóa trị liệu.
Hiệu quả của ondansetron trong hóa trị liệu gây nôn nhiều có thể cao hơn khi tiêm tĩnh mạch một liều đơn 20 mg dexamethason natri phosphat trước khi hóa trị.
Để phòng nôn muộn hoặc kéo dài sau 24 giờ đầu, nên tiếp tục uống 8 mg mỗi 12 giờ cho tới 5 ngày hoặc đặt trực tràng 1 viên 16 mg/ngày cho tới 5 ngày.
Trẻ em
Buồn nôn và nôn do hóa trí liệu ở trẻ từ 6 tháng tuôi trở lên và thiếu niên Liều dùng có thể được tính theo diện tích bề mặt cơ thể (BSA) hoặc trọng lượng (xem bảng dưới đây). Liều theo trọng lượng đưa đến tổng liều hàng ngày cao hơn so với liều theo BSA.
Nên pha loãng thuốc tiêm ondansetron trong dextrose 5% hoặc natri clorid 0,9% hay dịch truyền tương hợp khác và tiêm truyền tĩnh mạch không dưới 15 phút.
Chưa thấy có dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát về việc sử dụng ondansetron phòng buồn nôn và nôn muộn hoặc kéo dài do hóa trị liệu ở trẻ em. Cũng chưa thấy có dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát về việc sử dụng
Trẻ em:
ondansetron trong dự phòng buồn nôn và nôn do xạ trị ở trẻ em.
Tính theo liều BSA
Ngay trước khi hóa trị dùng một liều đơn Ondansetron 5 mg/m2 tiêm tĩnh mạch. Liều tiêm tĩnh mạch không được vượt quá 8 mg. Liều uống có thể bắt đầu 12 giờ sau và tiếp tục cho tới 5 ngày (bảng 1). Tổng liều dùng hàng ngày không được cao hơn liều người lớn 32 mg.
Bảng 1: Liều theo BSA trong hóa trị liều ở trẻ em từ 6 tháng trở lên và thiếu niên
| Diện tích bề mặt cơ thể | Ngày 1 (a,b) | Ngày 2-6(b) |
| < 0.6 m2 | 5 mg/m2 i.v. kết hợp sau 2mg sau 12 giờ | 2 mg sirô mỗi 12 giờ |
| ≥ 0.6 m2 | 5 mg/ m2i.v. kết hợp sirô hoặc viên nén 4 mg sau 12 giờ | 4 mg sirô hoặc viên nén mỗi 12 giờ |
| ≥ 1.2 m2 | 8 mg i.v. kết hợp sirô hoặc viên nén 8 mg sau 12 giờ | 8 mg sirô hoặc viên nén mỗi 12giờ |
a: Liều tiêm tĩnh mạch không quá 8 mg.
b: Tăng liều một ngày không vượt quá liều người lớn 32 mg.
Liều lượng tính theo thể trọng
Liều lượng tính theo thể trọng sẽ dẫn đến tổng liều lượng hàng ngày cao hơn liều lượng tính theo BSA.
Một liều đơn tiêm tĩnh mạch 0,15 mg/kg ondansetron dùng ngay trước khi hóa trị, liều tiêm tĩnh mạch không được vượt quá 8 mg.
Thêm hai liều tiêm tĩnh mạch cách nhau 4 giờ. Tổng liều dùng hàng ngày không được vượt quá liều người lớn 32 mg. Liều uống có thể bắt đầu 12 giờ sau và tiếp tục cho tới 5 ngày.
Bảng 2: Liều theo trong lương trong hóa trị liều ở trẻ em > 6 tháng và thiếu niên.
| Khối lượng | Ngày 1 (a,b) | Ngày 2-6 (b) |
| ≤ 10 kg | Tối đa 3 liều 0,15 mg/kg mỗi 4 giờ | Sirô 2 mg mỗi 12 giờ |
| > 10 kg | Tối đa 3 liều 0,15 mg/kg mỗi 4 giờ | Sirô hoặc viên nén 4 mg mỗi 12 giờ |
a: Liều tiêm tĩnh mạch không quá 8 mg.
b: Tổng liều một ngày không vượt quá liều người lớn 32 mg.
Người cao tuổi:
Ondansetron đáp ứng tốt ở bệnh nhân trên 65 tuổi và không cần thiết thay đổi liều, số lần sử dụng và đường dùng.
Buồn nôn và nôn sau phẫu thuật
Người lớn
Phòng buồn nôn hoặc nôn sau phẫu thuật: Có thể dùng Ondansetron uống (viên hoặc sirô) hoặc tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
Có thể chọn tiêm tĩnh mạch chậm hay tiêm bắp một liều đơn 4 mg trong khi gây mê.
Để điều trị buồn nôn và nôn xuất hiện sau phẫu thuật, tiêm tĩnh mạch chậm hoặc tiêm bắp một liều đơn 4 mg.
Trẻ em
Buồn nôn và nôn sau phẫu thuật ở trẻ em từ 1 tháng tuổi trở lên và thiếu niên
Phòng buồn nôn và nôn sau phẫu thuật ở bệnh nhi được gây mê, tiêm tĩnh mạch chậm một liều đơn 0,1 mg/kg (không dưới 30 giây) đến tối đa 4 mg trước hoặc sau khi gây mê.
Điều trị buồn nôn và nôn sau phẫu thuật ở bệnh nhi được gây mê, tiêm tĩnh mạch chậm một liều đơn 0,1 mg/kg (không dưới 30 giây) đến tối đa 4 mg.
Chưa thấy có nghiên cứu nào về việc dùng Ondansetron uống để phòng hoặc điều trị buồn nôn hoặc nôn sau phẫu thuật. Khuyến cáo nên tiêm truyền tĩnh mạch chậm (không dưới 15 phút).
Người cao tuổi
Kinh nghiệm sử dụng Ondansetron trong việc phòng và điều trị buồn nôn và nôn sau phẫu thuật ở người già còn hạn chế, tuy nhiên ondansetron đáp ứng tốt ở bệnh nhân trên 65tuổi được hóa trị liệu.
Bệnh nhân suy thận
Không cần điều chỉnh liều hàng ngày, số lần dùng thuốc hoặc đường dùng.
Bệnh nhân suy gan
Độ thanh thải của Ondansetron giảm đáng kể và nửa đời trong huyết tương kéo dài đáng kể ở bệnh nhân suy chức năng gan vừa hoặc nặng.
Ở những bệnh nhân này không được dùng quá tổng liều hàng ngày 8 mg tiêm tĩnh mạch hoặc uống.
Bệnh nhân chuyển hóa spartein/debrisoquin kém
Nửa đời thải trừ của Ondansetron không thay đổi ở những bệnh nhân chuyển hóa spartein và debrisoquin kém. Do vậy, ở những bệnh nhân này liều lặp lại sẽ cho cùng nồng độ thuốc trong máu như nhóm bệnh nhân khác. Không cần thay đổi liều hàng ngày và số lần dùng.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Dùng đồng thời apomorphin và ondansetron do có báo cáo cho thấy gây hạ huyết áp sâu và mất ý thức.
4.4 Thận trọng:
Phản ứng quá mẫn đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã biết có quá mẫn với các chất đối kháng thụ thể 5HT3 chọn lọc khác.
Điều trị triệu chứng khi gặp phải phản ứng phụ trên hệ hô hấp và những bệnh nhân này cần phải được theo dõi đặc biệt vì đó có thể là dấu hiệu của phản ứng quá mẫn.
Hiếm gặp thay đổi ECG thoáng qua bao gồm kéo dài khoảng QT. Sau thời gian lưu hành thuốc, đã có báo cáo các cơn nhịp nhanh thất đa dạng ở bệnh nhân dùng Ondansetron. Nên sử dụng Ondansetron cẩn thận ở bệnh nhân có nguy cơ hay có kéo dài QTc. Những trường hợp này gồm những bệnh nhân bị rối loạn điện giải, hội chứng QT kéo dài bẩm sinh hoặc bệnh nhân đang dùng đồng thời thuốc gây kéo dài khoảng QT.
Vì Ondansetron làm tăng thời gian đi qua ruột già, nên bệnh nhân có dấu hiệu tắc ruột bán cấp phải được theo dõi sau khi dùng thuốc.
Bệnh nhân phẫu thuật bệnh lý amiđan và VA, khi dùng Ondansetron phòng buồn nôn và nôn có thể dấu trạng thái xuất huyết ẩn.
Bệnh nhi
Bệnh nhi dùng Ondansetron khi đang hóa trị với thuốc gây độc gan phải được theo dõi chặt chẽ chức năng gan đã suy yếu.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Trong thử nghiệm tâm thần vận động người ta thấy Ondansetron không làm suy giảm khả năng thực hiện các thao tác cũng như gây an thần. Do vậy thuốc không có tác động gây hại đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B1
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Chưa có đánh giá việc sử dụng thuốc an toàn trong lúc mang thai.
Mặc dù, dựa vào đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật cho thấy thuốc không tác động gây hại trực tiếp hay gián tiếp đối với sự phát triển của bào thai, thai kỳ và sự phát triển trong và sau khi sinh.
Tuy vậy, do nghiên cứu trên động vật không phải luôn luôn suy đoán được đáp ứng trên người nên không chỉ định dùng thuốc ONDA trong thời gian mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Các thử nghiệm đã cho thấy ondansetron đi qua sữa động vật nưôi con bú. Do đó khuyến cáo không dùng thuốc ONDA cho người mẹ đang cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các tác dụng không mong muốn sau được liệt kê dưới đây theo hệ cơ quan và xuất độ.
Xuất độ được xác định như sau: rất phổ biến (>1/10), phổ biến (>1/100 đến <1/10), không phổ biến (>1/1000 đến <1/100), hiếm (>1/10000 đến <1/1000) và rất hiếm (<1/10000).
Các trường hợp rất phổ biến, phổ biến và không phổ biến thường được tính toán từ các dữ liệu nghiên cứu trên lâm sàng. Xuất độ khi dùng giả dược cũng được xem xét. Các trường hợp hiếm và rất hiếm thường được tỉnh toán tổng hợp từ các báo cáo tự nguyện sau khi thuốc được lưu hành.
Các xuất độ sau được tính toán ở liều khuyến cáo thông thường theo chỉ định và dạng bảo chế của ondansetron.
Rối loạn hệ miễn dịch
Hiếm: phản ứng quá mẫn tức thời, đôi khi nghiêm trọng, bao gồm cả sốc phản vệ
Rối loạn hệ thần kinh
Rất phổ biến: đau đầu
không phổ biến: co giật, rối loạn vận động (bao gồm các phản ứng ngoại tháp như co cứng, loạn vận nhãn và loạn vận động)1
Hiếm: chóng mặt khi tiêm tĩnh mạch nhanh
Rất hiếm: trầm cảm
Rối loạn mất
Hiếm: rối loạn thị giác thoáng qua (nhìn mờ), chủ yếu khi sử dụng qua đường tiêm tĩnh mạch
Rất hiếm: mù thoáng qua, chủ yếu xảy ra khi sử dụng qua đường tĩnh mạch2
Rối loạn ở tim
Rất không phổ biến: loạn nhịp, đau ngực không hoặc có kèm theo giảm đoạn ST, chậm nhịp tim
Hiếm: kéo dài khoảng QT (kể cả xoắn đỉnh)
Rối loạn ở mạch
Phổ biến: cảm giác nóng hoặc đỏ
không phổ biến: tụt huyết áp
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
không phổ biến: nấc cụt
Rối loạn tiêu hóa
Phổ biến: táo bón
Các rối loạn ở gan
không phổ biến: tăng men gan không triệu chứng trong xét nghiệm chức năng gan3
Rối loạn tồng quát và tại vị trí tiêm
Thưòng xảy ra: phản ứng tại chỗ tại nơi tiêm
Ghi chú
(1). Các rối loạn được quan sát không có dữ liệu rõ ràng khoảng thời gian triệu chứng trên lâm sàng gặp phải kéo dài bao lâu.
(2). Đa số các trường hợp bị mù sẽ trở lại trạng thái bình thường trong vòng 20 phút. Hầu hết các bệnh nhân này dùng hóa trị liệu cisplatin. Một số trường hợp mù thoáng qua được báo cáo có nguồn gốc từ võ não.
(3). Các trưởng hợp thường quan sát thấy với bệnh nhân dùng cisplatin.
Bệnh nhi
Các phản ứng không mong muốn ở trẻ em và thiếu niên là tương tự như ở người lớn
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Không có bằng chứng Ondansetroh gây ra hoặc ức chế sự chuyển hóa của những thuốc khác thường dùng kết hợp với Ondansetron. Các nghiên cứu chuyên biệt cho thấy không có tương tác khi dùng đồng thời với rượu, temazepam, furosemid, alfentanil, tramadol, morphin, lignocain, thiopental hoặc propofol.
Ondansetron được chuyển hóa nhờ hệ enzym cytochrom P450 ở gan: CYP3A4, CYP2D6 và CYP1A2. Do tính đa dạng của các enzym chuyển hóa ondansetron, việc ức chế hoặc, giảm hoạt tính của một enzym (thí dụ khiếm khuyết gen CYP2D6) thường được bù trừ bởi những enzym khác và dẫn đến ít hoặc thay đổi không đáng kể độ thanh thải toàn phần của Ondansetron hoặc yêu cầu về liều lượng.
Phenytoin, carbamazepin và rifampicin
Bệnh nhân điều trị với thuốc gây cảm ứng CYP3A4 mạnh (thí du: phenytoin, carbamazepin và rifampicin), độ thanh thải của Ondansetron dùng uống tăng và nồng độ ondansetron trong máu giảm.
Tramadol
Dữ liệu từ các nghiên cứu nhỏ cho thấy Ondansetron có thể làm giảm hiệu quả giảm đau của tramadol.
Dùng Ondansetron với thuốc kéo dài khoảng QT làm tăng thêm khoảng QT. Dùng kết hợp Ondansetron với thuốc gây độc tim (như anthracyclin) có thể làm tăng nguy cơ loạn nhịp.
4.9 Quá liều và xử trí:
Kinh nghiệm quá liều ondansetron còn hạn chế. Trong hầu hết các trường hợp xảy ra, triệu chứng xuất hiện tương tự như các triệu chứng được báo cáo ở bệnh nhân sử dụng theo liều khuyến cáo bao gồm rối loạn thị giác, táo bón nặng, tụt huyết áp và con vận mạch phế vị kèm theo nghẽn nhĩ-thất độ 2 thoáng qua.
Hai bệnh nhân tiêm tính mạch liều 84 mg và 145 mg chỉ bị tác dụng không mong muốn nhẹ, không yêu cầu điều trị khẩn cấp.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu, do đó, trong các trường hợp nghi ngờ quá liều, nên điều trị triệu chứng và hỗ trợ.
Trong trường hợp quá liều ondansetron dùng thuốc gây nôn ipecac có thể không đáp ứng do tác dụng chống nôn của chính ondansetron
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Ondansetron là một chất đối kháng thụ thể 5HT3 mạnh, có tính chọn lọc cao. Cơ chế tác dụng chính xác của thuốc trong việc kiểm soát buồn nôn và nôn chưa được biết rõ. Hóa trị liệu và xạ trị có thể gây giải phóng 5HT ở ruột non và gây phản xạ nôn bằng cách hoạt hóa dây thần kinh phế vị qua thụ thể 5HT3.
Ondansetron có tác dụng ức chế sự kích phát phản xạ này.
Hoạt hóa dây thần kinh phế vị cũng có thể gây giải phóng 5HT trong vùng postrema ở trên sàn não thất IV và làm thúc đẩy nôn qua cơ chế trung tâm. Như vậy, tác dụng của ondansetron trong điều trị buồn nôn và nôn do hóa trị liệu và xạ trị có thể do đối kháng các thụ thể 5HT3 trên dây thần kinh ở cả ngoại vi và hệ thần kinh trung ương. Các cơ chế chống buồn nôn và nôn sau phẫu thuật chưa được biết rõ, nhưng có lẽ cũng theo cơ chế chống buồn nôn và nôn do nhiễm độc tế bào.
Người ta vẫn chưa xác định được vai trò của Ondansetron trong nôn do opiat.
Ondansetron không làm thay đổi nồng độ prolactin trong huyết tương.
Cơ chế tác dụng:
Ondansetron là chất đối kháng chọn lọc thụ thể 5-HT3 (thụ thể serotonin nhóm 3), có tác dụng chống nôn. Thuốc có tác dụng cả ở ngoại vi, trên đầu mút thần kinh phế vị và cả ở trung tâm, trong vùng kích thích thụ thể hóa học.
5.2. Dược động học:
Sau khi uống, ondansetron được hấp thu nhanh chóng với nồng độ đỉnh trong huyết tương là 26,2 ng/ml ở nam và 42,72 ng/ml ở nữ, đạt được tương ứng khoảng 2 và 1,7 giờ sau một liều đơn 8 mg và có sinh khả dụng tuyệt đối, sau khi uống khoảng 56%.
Sau khi uống một liều đơn 24 mg, nồng độ đỉnh trong huyết tương là 125,8 ng/ml ở nam và 194,4 ng/ml ở nữ tương ứng sau khoảng 1,9 và 1,6 giờ.
Sinh khả dụng trung bình ở người nam khỏe mạnh sau khi uống liều đơn dạng viên 8 mg là khoảng 55 đến 60%.
Sau khi uống ondansetron, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp nửa đời thải trừ tương đương ở khoảng 3 giờ và thể tích phân bố ổn định khoảng 140 lít. Tiêm truyền tĩnh mạch 4 mg ondansetron sẽ cho nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 65 ng/ml trong 5 phút. Tác dụng toàn thân sau khi tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 4 mg ondansetron tương tự nhau
Sau khi đặt trực tràng nồng độ ondansetron được phát hiện trong huyết tương 15 đến 60 phút sau. Nồng độ tăng dạng tuyến tính, cho tới khi đạt được nồng độ đỉnh 20-30 ng/ml sau 6 giờ. Sau đó nồng độ giảm nhưng ở tốc độ chậm hơn dùng uống do sự hấp thu liên tục của ondansetron. Nửa đời thải trừ sau khi đặt trực tràng được xác định bởi tốc độ hấp thu ondansetron, không bởi độ thanh thải và khoảng 6 giờ.
Nửa đời ở nữ tăng nhẹ, không có ý nghĩa về mặt lâm sàng, so với nam. Sinh khả dụng tuyệt đối của ondansetron đối với dạng thuốc đặt trực tràng khoảng 60% và không bị ảnh hưởng bởi giới tính.
Ondansetron gắn kết protein huyết tương khoảng 70 đến 76%.
Thuốc được loại khỏi hệ tuần hoàn phần lớn qua chuyển hóa do các enzym tại gan. Dưới 5% bài tiết dưới dạng không đổi trong nước tiểu. Thiếu hụt enzym CYP2D6 (debrisoquine polymorphism) không ảnh hưởng đến dược động học của ondansetron. Các đặc tính dược động học của thuốc không thay đổi ở liều lập lại.
Giới tính
Sự phân bố của ondansetron khác nhau giữa hai giới, ở nữ có tỷ lệ và khoảng thời gian hấp thu cao hơn sau khi uống và độ thanh thải và thể tích phân bố giảm (đã điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể)
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Trẻ em và thiếu niên (từ 1 tháng đến 17 tuổi)
Ở bệnh nhi sau phẫu thuật từ 1 đến 4 tháng tuổi (n=19), độ thanh thải theo trọng lượng là khoảng 30% thấp hơn ở bệnh nhi từ 5 đến 24 tháng (n=22) nhưng tương đương bệnh nhi từ 3 đến 12 tuổi. Nửa đời ở bệnh nhân từ 1 đến 4 tháng trung bình là 6, 7 giờ so với 2,9 giờ đối với bệnh nhân từ 5 đến 24 tháng và 3 đến 12 tuổi. Sự khác biệt về các thông số dược động học trong nhóm bệnh nhi 1 đến 4 tháng có thể giải thích một phần bởi tỷ lệ nước trong toàn cơ thể của trẻ sơ sinh cao hơn và thể tích phân bố cao hơn đối với các thuốc tan trong nước như ondansetron.
Ở bệnh nhi sau phẫu thuật có gây mê toàn thân từ 3 đến 12 tháng tuổi, giá trị tuyệt đối cho cả độ thanh thải và thể thể tích phân bố giảm so với độ thanh thải và thể tích phân bố ở người lớn. Cả hai thông số này tăng tuyến tính theo trọng lượng và khoảng 12 tuổi giá trị này tiến tới giá trị độ thanh thải và thể tích phân bố của thanh niên. Khi độ thanh thải và thể tích phân bố trở lại bình thường theo trọng lượng cơ thể, giá trị của các thông số này tương tự nhau giữa các nhóm tuổi. Việc sử dụng liều lượng theo thể trọng sẽ bù trừ cho những thay đổi liên quan đến tuổi và có hiệu quả bình thường hóa tác dụng toàn thân ở bệnh nhi.
Người ta thực hiện phân tích dược động học theo các nhóm trên 428 bệnh nhân (ung thư, phẫu thuật và người tình nguyện khỏe mạnh) từ 1 tháng đến 44 tuổi sau khi tiêm tĩnh mạch ondansetron. Theo phân tích này, tác dụng toàn thân (AUC) sau khi uống hoặc IV ở trẻ em và thiếu niên tương tự như ở người lớn, ngoại trừ trẻ từ 1 đến 4 tháng tuổi. Thể tích phân bố liên quan đến tuổi và ở người lớn thấp hơn ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Độ thanh thải liên quan thể trọng nhưng không liên quan đến tuổi ngoại trừ trẻ sơ sinh từ 1 đến 4 tháng tuổi. Do vậy khó có thế kết luận độ thanh thải liên quan đến tuổi ở trẻ từ 1 đến 4 tháng tuổi có giảm hơn không hoặc vì đơn giản khuynh hướng thay đổi này do ít bệnh nhân tham gia nghiên cứu ở nhóm tuổi này. Vì bệnh nhi dưới 6 tháng chỉ dùng một liều đơn để điều trị buồn nôn và nôn sau phẫu thuật nên độ thanh thải giảm không liên quan về mặt lâm sàng.
Người cao tuổi
Các nghiên cứu ở người cao tuổi tình nguyện khỏe mạnh đã cho thấy có tăng nhẹ, nhưng không có ý nghĩa về mặt lâm sàng, sinh khả dụng đường uống của thuốc (65%) và nửa đời là 5 giờ.
Suy thận
Bệnh nhân suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin > 15 đến 60 ml/phút), cả độ thanh thải và thể tích phân bố đều giảm, dẫn đến tăng nhẹ nửa đời (5,4 giờ) nhưng không có ý nghĩa về mặt lâm sàng.
Một nghiên cứu ở các bệnh nhân suy thận nặng đã qua thẩm tách máu thường xuyên (nghiên cứu giữa các lần thẩm tách) cho thấy dược động học không thay đổi.
Suy gan
Bệnh nhân suy gan nặng, độ thanh thải toàn thân giảm đáng kể, với nửa đời kéo dài (15 – 32 giờ) và sinh khả dụng đường uống tiến tới 100% do chuyển hóa trước khi đi vào tuần hoàn giảm.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
6.2. Tương kỵ :
Dung dịch tiêm Ondansetron không được sử dụng trong cùng ống tiêm hoặc truyền với bất cứ thuốc nào khác.
Dung dịch tiêm Ondansetron chỉ được trộn lẫn với các dịch truyền theo khuyến cáo
Dung dịch tiêm Ondansetron khong được sử dụng trong cùng ống tiêm hoặc truyền với bất cứ thuốc nào khác.
Dung dịch tiêm Ondansetron chỉ được trộn lẫn với các dịch truyền theo khuyến cáo
Dung dịch Ringer
Kali clorid 0,3% và natri clorid 0,9%
Kali clorid 0,3% và glucose 5%
Các nghiên cứu về tính tương hợp đối với Ondansetron đã được thực hiện trên túi tiêm truyền polyvinylclorid và bộ dây truyền. Thuốc cũng ổn định khi dùng túi tiêm truyền polyethylen hoặc chai thủy tinh loại I.
Dung dịch ondansetron trong dung dịch natri clorid 0,9% hoặc glucose 5% ổn định trong ống tiêm polypropylen.
Dung dịch tiêm ondansetron bền vững khi trộn lẫn với các dịch truyền tương hợp trong ống tiêm polypropylen.
Lưu ý: Sản phẩm phải được duy trì trong điều kiện vô trùng thích hợp khi kéo dài thời gian bảo quản.
Tương hợp với thuốc khác
Ondansetron có thể được dùng tiêm truyền tĩnh mạch ở tốc độ 1 mg/giờ từ túi tiêm truyền hoặc bơm truyền. Các thuốc sau có thể dùng đồng thời với ondansetron qua bộ truyền loại chữ Y với nồng độ ondansetron từ 16 đến 160 mcg/ml (ví du: Tương ứng 8 mg/500 ml và 8 mg/50 ml)
Cisplatin
Nồng độ lên đến 0,48 mg/ml (ví dụ: 240 mg/ 500 ml) dùng trên 1 đến 8 giờ.
5-fluorouracil
Nồng độ lên đến 0,8 mg/ml (vi du: 2,4 g/ 3L hoặc 400 mg/500 ml) dùng ở tốc độ ít nhất 20 ml/giờ (500 ml mỗi 24 giờ). Nồng độ 5- fiuorouracil cao hơn có thể làm kết tủa ondansetron. Dịch truyền 5-fluorouracil có chứa 0,045% magiê clorid ngoài các tá dược khác đã cho thầy có tương hợp.
Carboplatin
Nồng độ từ 0,18 mg/ml đến 9,9 mg/ml (ví dụ: 90 mg/500 ml đến 990 mg/100 ml) được dùng trên 10 phút đến 1 giờ.
Etoposite
Nồng độ từ 0,14 mg/ml đến 0,25 mg/ml (ví dụ: 72 mg/500 ml đến 250 mg/1 I) được dùng trên 30 phút đến 1 giờ.
Ceftazidim
Liều từ 250 mg đến 2000 mg pha loãng trong nước cất pha tiêm theo khuyến cáo của nhà sản xuất (ví du: 2,5 ml cho 250 mg và 10 ml cho 2 g ceftazidim) dùng tiêm tĩnh mạch trên khoảng 5 phút.
Cyclophosphamid
Liều từ 100mg đến 1 g pha loãng trong nước pha tiêm với 10 g/5 ml cyclophosphamid, theo khuyến cáo của nhà sản tiêm tĩnh mạch khoảng 5 phút.
Doxorubicin
Liều từ 10 mg đến 100 mg pha loãng trong nước pha tiêm với 10 mg/5 ml doxorubicin, theo khuyén cáo của nhà sản xuất, tiêm tĩnh mạch khoảng 5 phút.
Dexamethason
Dexamethason natri phosphat 20 mg dùng tiêm tĩnh mạch chậm trên 2-5 phút qua một bộ tiêm truyền chữ Y kết hợp với 8 shoặc 32 mg ondansetron pha loãng trong 50-100 ml dịch truyền tương hợp trên khoảng 15 phút.
Tương hợp giữa ondansetron và dexamethason natri phosphat đã được chứng minh qua việc dùng hai thuốc này trong cùng bộ truyền ở nồng độ 32 mcg-2,5 mg/ml dexamethason natri phosphat và 8 mcg – 1 mg/ml ondansetron.
6.3. Bảo quản:
Bao quản ở nhiệt độ không qua 30°C
trong bao bì gốc để tránh ánh sáng
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM