1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Irbesartan
Phân loại: Thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II. Thuốc chống tăng huyết áp
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): C09CA04.
Biệt dược gốc: Aprovel
Biệt dược: Riosart
Hãng sản xuất : Ranbaxy Laboratories Ltd. – Ấn Độ
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén: 150 mg, 300 mg.
Thuốc tham khảo:
| RIOSART 150 | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Irbesartan | …………………………. | 150 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Viên nén Irbesartan được chỉ định trong trường hợp:
Điều trị tăng huyết áp tiên phát.
Điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân bị bệnh thận và đái tháo đường type 2, irbesartan dugc str dụng như là thành phần của phác đồ thuốc trị tăng huyết áp.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Viên nén Irbesartan có hai hàm lượng là 150 mg và 300 mg. Các viên nén này không thể cung cấp cho tất cả các phác đồ đã được phê duyệt của Irbesartan; vì vậy nên sử dụng các dạng bào chế và hàm lượng đã được phê duyệt khác của irbesartan trong các trường hợp này.
Viên nén Irbesartan có thể được dùng với các thuốc trị tăng huyết áp khác kèm hoặc không kèm thức ăn.
Liều dùng:
Liều lượng khuyến cáo thông thường khi bắt đầu và duy trì đối với Viên nén Irbesartan là 150 mg ngày 1 lần, kèm hoặc không kèm thức ăn. Viên nén Irbesartan liều dùng 150 mg ngày 1 lần thông thường kiểm soát huyết áp trong 24 giờ tốt hơn là liều 75 mg. Tuy nhiên, khởi đầu trị liệu với liều 75 mg có thể được cân nhắc, đặc biệt ở các bệnh nhân được thẩm phân máu và bệnh nhân trên 75 tuổi.
Ở những bệnh nhân không kiểm soát được với liều 150mg một lần mỗi ngày, có thể tăng liều Irbesartan lên 300mg, hoặc có thể dùng thêm các thuốc hạ áp khác. Đặc biệt, thêm thuốc lợi tiểu như hydrochlorothiazide đã được chứng minh là có tác dụng bổ sung với Irbesartan..
Ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 bị tăng huyết áp: Nên khởi đầu điều trị với Irbesartan 150 mg ngày một lần và điều chỉnh liều đến 300 mg ngày một lần như là liều duy trì trong điều trị bệnh thận.
Biểu hiện lợi ích trên thận của irbesartan ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 được dựa trên những nghiên cứu dùng irbesartan, ngoài những thuốc trị tăng huyết áp khác, khi cần, để đạt đến huyết áp mục tiêu
Liều dùng khởi đầu thấp hơn của Irbesartan được khuyến cáo ở bệnh nhân mắt thể tích nội mạch hoặc mất muối (ví dụ bệnh nhân được điều trị mạnh với thuốc lợi tiểu hoặc khi thẩm phân máu)
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với hoạt chất, hoặc với bất cứ tá dược nào trong sản phẩm thuốc.
3 tháng thứ hai và thứ ba thai kỳ.
4.4 Thận trọng:
Tỉ lệ mắc và tử vong ở Thai nhi/Trẻ sơ sinh
Các thuốc tác động trực tiếp trên hệ renin-angiotensin có thể gây bệnh tật và tử vong ở thai nhi và trẻ sơ sinh khi được dùng cho phụ nữ có thai. Hàng loạt trường hợp đã được báo cáo trong y văn thế giới ở bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyén angiotensin. Khi phát hiện có thai, ngay lập tức dừng sử dụng irbesartan.
Việc sử dụng các thuốc tác động trực tiếp trên hệ renin-angiotensin trong 3 tháng thứ hai và thứ ba thai kỳ có liên quan đến tổn thương thai nhi và trẻ sơ sinh, gồm cả tụt huyết áp, giảm sản xương sọ ở trẻ sơ sinh, khó tiểu, suy chức năng thận có thể hồi phục hoặc không thể hồi phục và tử vong.
Thiểu ối cũng đã được báo cáo, có thể là do giảm chức năng thận thai nhỉ; thiểu ối trong trường hợp này có liên quan đến co cứng chỉ ở thai nhĩ, biến dạng sọ và mặt, và giảm sản phát triển phối. Sinh non, chậm phát triển trong tử cung, còn ống động mạch cũng đã được báo cáo, mặc dù nó không rõ là các biến cố này có phải là do phơi nhiễm với thuốc hay không.
Các tác dụng phụ này dường như không phải là do phơi nhiễm thuốc trong tử cung mà sự phơi nhiễm thuốc này bị giới hạn trong 3 tháng đầu của thai kỳ.
Các bà mẹ có phôi và thai nhi phơi nhiễm với thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II chỉ trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ cũng nên được thông báo. Tuy nhiên, khi bệnh nhân có thai, bác sĩ nên buộc bệnh nhân dừng sử dụng Irbesartan càng sớm càng tốt.
Hiếm khi (có thể ít hơn 1 lần trong một nghìn thai kỳ), không thay thế bằng thuốc tác động trên hệ renin-angiotensin được phát hiện. Trong các trường hợp hiếm có này; các bà mẹ nên được báo cho biết về các môi nguy hại có khả năng xảy ra với thai nhi, và nên siêu âm định kỳ để đánh giá môi trường trong dịch ối.
Nếu quan sát thấy có thiểu ối, dừng sử dụng irbesartan trừ khi cân nhắc việc cứu sống người mẹ. Test co cơ gắng sức Contraction stress testing (CST), một test không gắng sức a non-stress test (NST), hoặc dữ liệu sinh lý học (biophysical profiling- BPP) co thể thích đáng phụ thuộc vào tuần thai.
Bệnh nhân và bác sĩ nên được biết điều này, tuy nhiên, thiểu ối có thể không xuất hiện cho đến sau khi thai nhi bị chấn thương không hồi phục kéo dài.
Trẻ em có tiền sử phơi nhiễm trong tử cung in utero với một chất đối kháng thụ thể angiotensin II nên được giám sát chặt về tụt huyết áp, thiểu niệu, và tăng kali huyết. Nếu xảy ra thiểu niệu, chú ý hỗ trợ huyết áp và tưới máu thận. Hoán đôi máu hoặc thẩm phân có thể cân thiệt như là phương tiện để đảo nghịch tụt huyết áp và/hoặc thay thể cho chức năng thận bị rối loạn.
Khi chuột cống có thai được điều trị với irbesartan từ ngày 0 đến ngày 20 thai kỳ (các liều uống 50 180, và 650 mg/kg/ngày), tăng tỉ lệ bị hang chậu thận, tích dịch niệu quản và/hoặc không có nhú thận được quan sát ở thai nhi ở các liều dùng > 50 mg/kg/ngày (khoảng tương đương liều dùng khuyến cáo tối đa cho người [MRHD], 300 mg/ngày, dựa vào diện tích bề mặt cơ thể). Phù dưới da đã được quan sát ở thai nhi dùng các liều > 180 mg/kg/ngày (khoảng bốn lần MRHD dựa vào diện tích bề mặt cơ thể). Vì các dị tật này không được quan sát ở chuột cống phơi nhiễm với irbesartan (các liều uống 50, 150, và 450 mg/kg/ngày) bị hạn chế ở thai kỳ các ngày 6-15, dường như chúng phản ánh tác động của thuốc trên thai kỳ muộn. Ở thỏ có thai, các liều uống 30 mg Irbesartan/kg/ngày có liên quan đến tỉ lệ tử vong động vật mẹ và sây thai. Các con cái sống sót dùng liều này (khoang 1,5 lan MRHD dựa vào thể tích bề mặt cơ thể) tăng nhẹ về hư thai sớm và giảm tương ứng về thai nhi sống sót. Irbesartan qua nhau thai ở chuột công và thỏ.
Hoạt tính phóng xạ thể hiện ở thai chuột cống và thỏ trong thai kỳ muộn và trong sữa chuột cống sau khi dùng liều uống irbesartan được đánh dấu phóng xạ.
Thận trọng chung
Ở bệnh nhân có trương lực mạch và chức năng thận phụ thuộc phần lớn vào hoạt tính của hệ renin angiotensin-aldosterone (như bệnh nhân bị suy tim sung, huyết nặng hoặc đang bị bệnh thận, gồm hẹp động mạch thận), điều trị với thuốc ức chế men chuyển angiotensin hoặc thuốc đối kháng thụ thể angiotensin – II mà tác động hệ này có liên quan đến tụt huyết áp cấp, nitơ huyết, thiểu niệu, hoặc suy thận cấp hiếm có. Cũng như bất kỳ thuốc trị tăng huyết áp, giảm huyết áp quá mức ở bệnh nhân thiếu máu tim hoặc bệnh thiếu máu tim mạch có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quy. Vì quan sát được ở các thuốc ức chế men chuyển angiotensin, irbesartan và các thuốc đối kháng angiotensin khác dường như ít hiệu quả hơn về làm giảm huyết áp ở bệnh nhân da đen so với bệnh nhân có màu da khác, có thể là do sự phổ biến của tình trạng renin thấp ở đối tượng da đen tăng huyết áp.
Tụt huyết áp ở bệnh nhân mất nước hoặc mất muối
Giảm huyết áp quá mức hiếm khi được quan sát (<0,1%) ở bệnh nhân tăng huyết áp không có biến chứng. Khởi đầu trị liệu điều trị tăng huyết áp có thể gây tụt huyết áp triệu chứng ở bệnh nhân mất nước hoặc mất muối, như ở bệnh nhân được điều trị tích cực với thuốc lợi tiểu hoặc ở bệnh nhân thẩm phân. Sự mất nước này nên được điều chỉnh trước khi dùng irbesartan, hoặc dùng liều khởi đầu thấp.
Nếu xảy ra tụt huyết áp , nên đặt bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, và nếu cần, truyền tĩnh mạch muối sinh lý. Đáp ứng tụt huyết áp thoáng qua không phải là một chống chỉ định đối với điều trị thêm nữa, thường có thể tiếp tục điều trị mà không có khó khăn nào một khi huyết áp được ổn định.
Tăng huyết áp mạch thận:
Tăng nguy cơ tụt huyết áp nặng và suy thận khi bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch trên một thận chức năng được điều trị với các thuốc tác động trên hệ Renin-Angiotensin-Aldosterone. Không ghi nhận nguy cơ này khi dùng irbesartan, nhưng có thể tiên đoán tác dụng tương tự như vậy xảy ra khi dùng thuốc đối vận thụ thể angiotensin II.
Suy chức năng thận và ghép thận
Khi sử dụng irbesartan cho bệnh nhân bị suy chức năng thận, giám sát định kỳ về nồng độ huyết thanh của kali và creatinine. Không có kinh nghiệm liên quan đên việc sử dụng irbesartan cho bệnh nhân gần đây có ghép thận.
Bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường tuýp 2 và bệnh thận:
Trong một phân tích được tiến hành trong nghiên cứu ở bệnh nhân có bệnh thận tiến triển, tác động của irbesartan cả trên tai biến thận và tim mạch không thống nhất trong tất cả các phân nhóm. Đặc biệt, chúng xuất hiện ít hơn ở phụ nữ và người không phải da trắng.
Tăng kali huyết:
Cũng giống như các thuốc tác động lên hệ Renin-Angiotensin-Aldosterone khác, tăng kali huyết có thể xảy ra trong quá trình điều trị với Irbesartan, đặc biệt là khi có suy thận, protein niệu rõ rệt do bệnh thận do đái tháo đường, và/hoặc suy tim. Giám sát chặt kali huyệt thanh ở bệnh nhân có nguy cơ.
Lithium: Không khuyến cáo dùng kết hợp lithium và irbesartan.
Hẹp vận động mạch chủ và van 2 lá, bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn:
Cũng giống như các thuốc giãn mạch khác, đặc biệt thận trọng khi chỉ định cho các bệnh nhân bị hẹp động mạch chủ, hoặc hẹp van 2 lá hoặc bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn.
Tăng Aldosterone nguyên phát:
Bệnh nhân bị tăng Aldosterone nguyên phát nói chung, không đáp ứng với các thuốc tụt áp hoạt động thông qua ức chế hệ Renin-Angiotensin-Aldosterone. Vì vậy, không khuyến cáo dùng irbesartan.
Thai kỳ:
Các thuốc đối kháng thụ thể Angiotensin II (AIIRAs) không nên khởi đầu điều trị trong thai kỳ. Trừ khi cần thiết tiếp tục trị liệu với AIIRA, bệnh nhân có kế hoạch có thai nên thay thế điều trị tăng huyết áp mà đã có dữ liệu an toàn khi sử dụng trong thai kỳ. Khi phát hiện có thai, ngay lập tức dừng điều trị với AIIRAs, nên bắt đầu trị liệu thay thế.
Bệnh nhi:
Irbesartan đã được nghiên cứu ở các đôi tượng bệnh nhi tuôi từ 6 đến 16 tuổi nhưng hiện tại không có dữ liệu để ủng hộ việc mở rộng sử dụng ở trẻ em cho đến khi có dữ liệu sâu hơn.
Lactose:
Thuốc này có chứa lactose. Bệnh nhân có vấn dé hiểm gặp về bất dung nạp galactose, thiếu men Lapp lactase hoặc bất dung nạp glucose-galactose không nên sử dụng thuốc này.
Trẻ em
Irbesartan trong một nghiên cứu với liều dùng lên đến 4,5mg/kg/ngày, ngày 1 lần, dường như không làm giảm huyết áp hiệu quả ở bệnh nhi từ 6 đến 16 tuổi.
Irbesartan chưa được nghiên cứu ở bệnh nhi dưới 6 tuổi.
Irbesartan không được khuyến cáo sử dụng cho trẻ em và thanh thiếu niên vì thiếu dữ liệu tính an toàn và hiệu quả.
Người cao tuổi:
Trong số 4925 người dùng irbesartan trong các nghiên cứu lâm sàng có kiểm chứng về tăng huyết áp , 911 (18,5%) là 65 tuổi trở lên, trong khi 150 (3,0%) là 75 tuổi trở lên. Không có sự khác biệt tổng thể về tính hiệu quả hoặc an toàn quan sát được giữa những người này và người trẻ hơn, nhưng sự nhạy cảm hơn của một số người lớn tuổi hơn không thể được loại trừ.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Không có các nghiên cứu tác động trên khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Dựa vào các đặc tính dược lực học, dường như irbesartan không tác động trên khả năng này. Khi lái xe hoặc vận hành máy móc, đề ý đến tác động choáng váng có thê xảy ra trong khi điều trị.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Sử dụng thuốc đối kháng thụ thể Angiotensin II (AIIRAs) không được khuyến cáo trong 3 tháng thứ nhất của thai kỳ. Chống chỉ định sử dụng AIIRAs trong 3 tháng thứ hai và thứ ba của thai kỳ.
Chứng cứ dịch tễ học liên quan đến nguy cơ quái thai sau khi phơi nhiễm với thuốc ức chế ACE trong 3 tháng thứ nhất của thai kỳ chưa được kết luận cuối cùng: tuy nhiên tăng nguy cơ nhỏ không thể được loại trừ. Trong khi không có dữ liệu dịch tễ học có kiểm chứng trên nguy cơ với thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II (AIIRAs), các nguy cơ tương tự có thể tồn tại đối với nhóm thuốc này.
Trừ khi trị liệu tiếp tục với AIIRAs được xem là cần thiết, bệnh nhân có kế hoạch có thai nên thay đổi điều trị với thuốc trị tăng huyết áp khác mà đã có dữ liệu tính an toàn cho việc sử dụng trong thai kỳ. Khi chẩn đoán có thai, ngay lập tức dừng điều trị với AIIRAs và khi thích hợp nên bắt đầu trị liệu thay thế.
Phơi nhiễm với AIIRAs trong 3 tháng thứ hai và thứ ba thai kỳ được biết là gây độc cho thai nhi (chức năng thận giảm, thiêu ôi, chậm cốt hóa xương sọ) và ngộ độc sơ sinh (suy chức năng thận, tụt Huyết áp, tăng kali huyết).
Nếu phơi nhiễm với AIIRAs xảy ra từ 3 tháng thứ hai của thai kỳ, khuyến cáo siêu âm kiểm tra chức năng thận và xương sọ.
Trẻ có mẹ dùng AIIRAs nên được giám sát chặt về tụt huyết áp.
Thời kỳ cho con bú:
Vì không có thông tin thích hợp liên quan đến việc sử dụng irbesartan trong khi cho con bú, không khuyến cáo sử dụng irbesartan và nên điều trị thay thế có dữ liệu an toàn đã được thiết lập, đặc biệt khi nuôi con bằng sữa mẹ hoặc ở trẻ sinh non.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Trong các thử nghiệm dùng thuốc vờ đối chứng ở bệnh nhân tăng huyết áp, tỉ lệ toàn thể về các tác dụng phụ không khác nhau giữa nhóm dùng irbesartan (56,2%) và nhóm dùng thuốc vờ (56,5%).
Dừng nghiên cứu do bất kỳ tác dụng phụ trên lâm sàng hoặc cận lâm sàng ít xảy ra hơn ở bệnh nhân được điều trị với irbesarta (3,3%) hơn so với nhóm giả dược (4,5%), và suất độ này không liên quan đến liều (trong giới hạn liều được khuyến cáo), giới tính, tuổi, chủng tộc hay thời gian điều trị.
Ở bệnh nhân tăng huyết ap bị đái tháo đường bị albumin niệu vị lượng và chức năng thận bình thường, choáng váng ở tư thế thắng đứng và tụt huyếtáp ở tư thế thăng đứng đã được báo cáo ở 0,5% bệnh nhân (hiếm thây) nhưng vượt xa thuốc vờ.
Danh sách sau đây trình bày phản ứng phụ của thuốc đã được báo cáo trong các thử nghiệm dùng thuốc vờ đối chứng trong đó 1.965 bệnh nhân tăng huyết áp dùng irbesartan. Các thuật ngữ được đánh dấu với một ngôi sao (*) là phản ứng phụ được báo cáo bổ sung ở > 2% bệnh nhân tăng huyết áp đái tháo đường kèm suy chức năng thận mãn tính và protein niệu rõ rệt và vượt xa thuốc vờ.
Tần suất các tác dụng phụ liệt kê dưới đây được xác định như sau: rất phổ biến (1/10); phổ biến (1/100, <1/10); không phổ biến (≥1/1.000, <1/100); hiếm (≥1/10.000, <1/1.000); rất hiếm (<1/10.000). Trong mỗi nhóm tần số, tác dụng không mong muốn được trình bày theo mức độ trầm trọng giảm dần.
Ngoài ra, phản ứng phụ được báo cáo từ kinh nghiệm hậu marketing cũng được liệt kê. Các phản ứng phụ này được lấy từ các báo cáo tự phát.
Rối loạn hệ miễn dịch:
Không biết tỉ lệ mắc: phản ửng quả mẫn như phù mạch, phát ban, mề đay
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng:
Không biết tỉ lệ mắc: tăng kali huyết
Rối loạn hệ thần kinh:
Phổ biến: Choáng váng, choáng váng tư thế thăng đứng*
Không biết tỉ lệ mắc: Chóng mặt, nhức đầu
Rối loạn tai và tai trong:
Không biệt tỉ lệ: ù tai
Rối loạn tim:
Không phổ biến:: Nhịp tim nhanh
Rối loạn mạch.
Phổ biến: Tut huyét áp tư thế thẳng đứng*
Không phổ biến:: Đỏ bừng da
Rối loạn hô hấp, tuyến ức và trung thất:
Không phổ biến:: Ho
Rối loạn dạ dày ruột:
Phổ biến: Buồn nôn/ói mửa
Không phổ biến: Tiêu chảy, khó tiêu nóng
Rối loạn gan mật:
Không phổ biến:: Vàng da
Không biết tỉ lệ mắc: Viêm gan, chức năng gan bất thường
Rối loạn da và mô dưới da:
Không biết: viêm mạch máu nhỏ chủ yếu ảnh hưởng đến da (leukocytoclastic vasculitis)
Rối loạn cơ xương và mô liên kết:
Phổ biến: Đau cơ xương*
Rối loạn thận và niệu:
Không biết: Suy chức năng thận gồm các trường hợp suy chức năng thận ở bệnh nhân có nguy cơ
Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú:
Không phổ biến: Rối loạn tình dục
Rối loạn toàn thân và tình trạng nơi dùng thuốc:
Phổ biến: Mệt mỏi
Không phổ biến: Đau ngực
Các nghiên cứu
Rất phổ biến
Tăng Kali máu thường xảy ra ở bệnh nhân đáo tháo đường được điều trị với Irbesartan hơn so với dùng giả dược. Ở bệnh nhân đái tháo đường bị tăng huyết áp với Albumin niệu vi thể và chức năng thận bình thường, tăng kali máu (> 5,5 mEq/L) xảy ra trong 29,4% ở nhóm dùng irbesartan 300 mg và 22% ở nhóm giả dược. Ở bệnh nhân đái tháo đường bị tăng huyết áp với suy thận mạn, đạm niệu đại thể; tăng kali máu (> 5,5 mEq/L) xảy ra trong 46,3% ở nhóm dùng irbesartan 300 mg và 26,3% ở nhóm thuốc vờ.
Phổ biến
Tăng creatinine kinase huyết tương đáng kể được quan sát xảy ra phổ biến (1,7) trong số người được điều trị với irbesartan. Không có ai trong số này tăng có liên quan rõ rệt đến các biến cố trên cơ xương trên lâm sàng.
Trong 1,7% bệnh nhân tăng huyết áp kèm bệnh thận do đái tháo đường tiến triển được điều trị với Irbesartan, tăng hemoglobin*, không đáng kê trên lâm sàng, đã được quan sát
Hơn nữa, các tai biến quan trọng có khả năng xảy ra sau đây xảy ra ít hơn 1% trong số 1965 bệnh nhân và ít nhất 5 bệnh nhân (0,3%) dùng irbesartan trong các nghiên cứu lâm sàng, và các tai biến này ít xảy ra hơn, các tai biến đáng kể trên lâm sàng (được liệt kê theo hệ cơ quan trong cơ thể). Không thể xác định các tai biễn này có liên quan đến nguyên nhân với irbesartan hay không:
Toàn thân: sốt, ớn lạnh, phù mặt, phù chi trên
Tim mạch: đỏ bừng da, tăng huyết áp, tiếng tim, nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, loan nhip tim/rối loạn dẫn truyền, ngừng tim-hô hấp, suy tim, cơn tăng huyết áp
Da liễu: ngứa, viêm da, vết bầm máu, ban đỏ ở mặt, mề đay
Nội tiết/Chuyển hóa/Mất cân bằng điện giải: Rối loạn tình dục, thay đổi về tình dục, gút
Dạ dày ruột: táo bón, thương tôn ở miệng, viêm dạ dày ruột, đầy hơi, căng bụng
Cơ xương/Mô liên kết: sưng tứ chi, chuột rút cơ, viêm khớp, đau cơ, đau cơ xương ngực, cứng khớp, viêm hoạt dịch, yếu cơ
Hệ thần kinh: rỗi loạn giấc ngủ, tê, buồn ngủ, rối loạn cảm xúc, trầm cảm, dị cảm, rung, cơn nhồi máu thoáng qua, tai biến mạch máu não
Thận/Niệu sinh dục: nước tiều bất thường, rối loạn tuyến tiền liệt
Hô hấp:chảy máu cam, viêm tiểu phế quản, sung huyết, tắc nghẽn hô hấp, thở khò khè
Cảm giác đặc biệt: rối loạn thị lực , bất thường thính giác, nhiễm trùng tai, đau tai, viêm kết mạc, rối loạn khác ở mắt, bất thường mí mắt, bất thường tai.
Các tác dụng phụ khác được báo cáo với irbesartan là: đau bụng, lo âu/bồn chồn, phù, cúm, viêm họng, viêm mũi, bất thường xoang, nhiễm trùng đường niệu và ngất.
Kinh nghiệm hậu marketing
Kinh nghiệm hậu marketing sau đây được báo cáo nhưng rất hiếm xảy ra: mề đay; phù mạch (gồm sưng mặt, sưng môi, sưng họng và/hoặc sưng lưỡi); các xét nghiệm chức năng gan tăng; vàng da và viêm gan. Tăng kali huyết được báo cáo nhưng hiếm xảy ra. Các trường hợp hiếm xảy ra về tiêu cơ vân đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng thuốc chẹn thụ thể angiotensin II
Bệnh nhi: trong một thử nghiệm ngẫu nhiên bao gồm 318 trẻ em và thiếu niên từ 6 – 16 tuổi bị tăng huyết áp, những tác dụng phụ không mong muốn sau đây đã xảy ra trong thời gian theo dõi mù đôi suốt ba tuần: đau đầu (7, 9%), ha huyét 4ap (2,2%), chong mat (1,9%), ho (0,9%). Trong giai doan theo dõi mở rộng kéo dải 26 tuần, những bất thường cận lâm sàng xảy ra nhiều nhất là tăng creatinine (6,5%), tăng trị số CK ở 2% bệnh nhi.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Các ADR ít xảy ra, thường nhẹ không cần xử trí gì đặc biệt. Nếu bắt đầu dùng thuốc nên chú ý điều trị giảm thể tích máu nếu có.
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Thuốc lợi tiểu và các thuốc hạ huyết áp khác:
Các thuốc hạ huyết áp khác có thể làm tăng tác dụng hạ huyết áp của Irbesartan. Tuy nhiên, Irbesartan đã được sử dụng một cách an toàn với các thuốc hạ huyết áp khác, như các beta-blockers, các thuốc chẹn kênh canxi tác dụng kéo dài, và các thuốc lợi tiểu thiazide. Điều trị trước với các thuốc lợi tiểu liều cao có thể dẫn đến giảm thể tích và có nguy cơ hạ huyết áp khi bắt đầu điều trị với Irbesartan.
Bổ sung kali và thuốc lợi tiểu giữ kali:
Dựa trên kinh nghiệm sử dụng các thuốc có tác động đến hệ renin-angiotensin, sử dụng đồng thời các thuốc lợi tiểu giữ kali, các thuốc bổ sung kali, các chất thay thế muối có chứa kali hoặc các thuốc khác có thể làm tăng nồng độ kali huyết thanh (như heparin) có thể dẫn đến tăng kali huyết thanh và, do đó, không khuyến cáo.
Lithium:
Tăng nồng độ lithium huyết thanh và độc tính có thể hồi phục đã được báo cáo khi dùng đồng thời lithium với thuốc ức chế men chuyển angiotensin. Các tác động tương tự đã được báo cáo nhưng hiếm khi xảy ra với irbesartan cho đến nay. Vì vậy, khong khuyến cáo phối hợp này, nếu phối hợp này chứng minh là cần thiết ; giám sát chặt nồng độ huyết thanh của lithium
Các thuốc kháng viêm Non-steroids
Khi dùng các thuốc đối kháng angiotensin II được sử dụng đồng thời với các thuốc kháng viêm không steroids (tức là các thuốc ức chế chọn lọc COX-2 , acetylsalicylic acid (>3g/ngày) và NSAIDs không chọn lọc), có thể làm giảm hiệu quả hạ huyết áp.
Cũng như các thuốc ức chế men chuyển, sử dụng đồng thời các thuốc đối kháng angiotensin II và NSAIDs có thể dẫn đến tăng nguy cơ trầm trọng hơn chức năng thận, có thể bao gồm cả suy thận cấp, và tăng kali huyết thanh, đặc biệt là ở những bệnh nhân có chức năng thận kém từ trước. Sự kết hợp này cần được sử dụng một cách thận trọng, đặc biệt là ở người cao tuổi. Bệnh nhân nên được cung cấp nước đầy đủ và cần theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị phối hợp, và sau đó giám sát định kỳ.
Thông tin bổ sung về các tương tác của Irbesartan:
Trong các nghiên cứu lâm sàng, dược động học của Irbesartan không bị ảnh hưởng bởi hydrochlorothiazide. Irbesartan được chuyển hóa chủ yếu do CYP2C9 và một mức độ thấp hơn bởi glucuronidation. Không có tương tác dược động học hoặc dược lực học có ý nghĩa đã được quan sát khi sử dụng đồng thời Irbesartan với warfarin, một thuốc được chuyển hóa bởi CYP2C9. Những ảnh hưởng của tác nhân gây ra CYP2C9 như rifampicin trên dược động học của Irbesartan chưa được đánh giá. Dược động học của digoxin không bị thay đổi khi sử dụng đồng thời với Irbesartan.
4.9 Quá liều và xử trí:
Kinh nghiệm ở người trưởng thành phơi nhiễm các liều lên đến 900 mg/ngay trong 8 tuần cho thấy không có độc tính. Các biểu hiện có khả năng xảy ra nhất của quá liều thuốc là tụt huyết áp và nhịp tim nhanh; nhịp tim chậm cũng có thể xảy ra khi quá liều. Không có thông tín chuyên biệt về điều trị quá liều irbesartan. Giám sát chặt bệnh nhân, và điều trị triệu chứng và hỗ trợ. Các giải pháp được đề nghị gồm gây nôn và/hoặc rửa dạ dày, Than hoạt có thể có ích trong việc điều trị quá liều. Irbesartan không được loại khỏi cơ thể bằng bằng thẩm phân máu.
Trong việc kiểm soát quá liều, cân nhắc khả năng tương tác giữa nhiều thuốc, tương tác thuốc-thuốc, và động học thuốc bất thường của bệnh nhân. Xác định nồng độ huyết thanh của irbesartan thường không được dùng rộng rãi và các xác định này, trong bất cứ trường hợp nào, không biết vai trò trong việc kiểm soát quá liều irbesartan.
Các nghiên cứu độc tính cấp tính với irbesartan dùng đường uống ở chuột nhắt và chuột cống cho thấy liều gây chết cấp tính là hơn quá 2000 mg/kg, lần lượt khoảng 25- và 50 lần liều đùng khuyến cáo tối đa cho người (300 mg) dựa trên mg/m2.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Cơ chế tác dụng
Angiotensin II là một chất gây co mạch được hình thành từ angiotensin I trong một phản ứng được xúc tác bởi men chuyển angiotensin (angiotensin-converting enzyme [ACE, kininase II].
Angiotensin II là một chất chính gây tác động trên hệ renin–angiotensin (renin-angiotensin system [RAS]) và cũng gây kích thích tổng hợp aldosterone và bài tiết bởi vỏ thượng thận, gây co thắt tim, tái hấp thu natri tại thận, hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, và phát triển tễ bào cơ trơn. Irbesartan chẹn tác dụng co mạch và tác động bài tiết aldosterone của angiotensin II bằng cách gắn kết có chọn lọc vào thụ thể AT1 angiotensin II. Cũng có một thụ thể AT1 ở nhiều mô, nhưng nó không tham gia vào cân bằng nội môi tim mạch.
Irbesartan là một chất đối kháng cạnh tranh có chọn lọc của các thụ thể AT; với ái lực rất cao (hơn 8500 lần) trên thụ thể AT1 so với thụ thể AT1 và không có hoạt tính đồng vận.
Sự chẹn thụ thể AT1 loại bỏ feedback âm tính của angiotensin II trên sự tiết renin, nhưng kết quả là hoạt tính renin huyết tương tăng và tuần hoàn angiotensin II không thắng nổi tác động của irbesartan trên huyết áp.
Irbesartan không ức chế ACE hoặc renin hoặc gây ảnh hưởng các thụ thể hormone khác hoặc các kênh ion được biết là tham gia vào điều hòa huyết áp tim mạch và cân bằng noi moi natri. Vì irbesartan không ức chế ACE, nó không ảnh hưởng đến sự đáp ứng với bradykinin; không biết điều này có tương quan trên lâm sàng hay không.
Cơ chế tác dụng:
Irbesartan là chất đối kháng thụ thể typ I của angiotensin II. Irbesartan có tác dụng tương tự losartan, nhưng không phải là tiền dược chất như losartan, nên tác dụng dược lý không phụ thuộc vào sự thủy phân ở gan. Irbesartan phong bế hoạt động sinh lý của angiotensin II là chất được tạo nên từ angiotensin I trong phản ứng xúc tác bởi men chuyển angiotensin (ACE kininase II). Angiotensin II là chất co mạch chính của hệ renin- angiotensin và cũng kích thích vỏ thượng thận tổng hợp và tiết aldosteron. Khi aldosteron được giải phóng, natri và nước sẽ được tái hấp thu, cuối cùng là tăng huyết áp. Irbesartan phong bế tác dụng co mạch và bài tiết aldosteron của angiotensin II nhờ gắn chọn lọc vào thụ thể ATj của angiotensin II với ái lực mạnh gấp 8500 lần so với gắn vào thụ thể AT2. Thụ thể AT2 cũng có mặt ở nhiều mô, nhưng không có vai trò trong điều hòa tim mạch.
5.2. Dược động học:
Hấp thu
Irbesartan là một hoạt chất dùng đường uống không cần phải chuyển dạng sinh học thành dạng có hoạt tính. Hấp thu đường uống của irbesartan nhanh và hoàn toàn với sinh khả dụng tuyệt đối trung bình là 60-80%. Sau khi uống irbesartan, nồng độ đỉnh trong huyết tương của irbesartan đạt được ở 1,5-2 giờ sau khi dùng thuốc. Thức ăn không ảnh hưởng sinh khả dụng của irbesartan. Irbesartan có dược động học tuyến tính theo khoảng liều dùng. Thời gian bán thải giai đoạn cuối của irbesartan trung bình là 11-15 giờ. Nồng độ ở tình trạng ổn định đạt được trong vòng 3 ngày. Sự tích lũy của irbesartan bị hạn chế (< 20%) quan sát được trong huyết tương theo liều lặp lại ngày 1 lần.
Phân bố
Irbesartan gắn kết với protein huyết thanh là 90% (chủ yếu là albumin và α1-acid glycoprotein) voi su gắn kết không đáng kể với các thành phần tế bào của máu. Thể tích phân bố trung bình là 53-93 lít.
Độ thanh thải thận và huyết tương toàn phần lần lượt trong khoảng 157-176 và 3,0-3,5 mL/phút. Với liều lặp lại, irbesartan tích lũy với mức độ không tương quan trên lâm sàng. Các nghiên cứu ở động vật cho thấy irbesartan được đánh dấu phóng xạ qua hàng rào máu não và nhau thai yếu. Irbesartan được bài tiết vào sữa ở chuột cống đang cho con bú
Chuyển hóa và đào thải
Irbesartan được chuyển hóa thông qua phức glucuronide và sự oxy hóa. Sau khi uống hoặc tiêm tĩnh mạch irbesartan được đánh dấu phóng xạ 14C, hơn 80% hoạt tính phóng xạ tuần hoàn trong huyết tương có thể là do irbesartan ở dạng không đổi. Chất chuyển hóa tuần hoàn chủ yếu là phức glucuronide irbesartan không có hoạt tính (khoảng 6%). Các chất chuyển hóa oxy hóa còn lại không bổ sung đáng kế vào hoạt tính dược lý học của irbesartan.
Irbesartan và các chất chuyển hóa của nó được bài tiết bởi thận và mật. Sau khi uống hoặc tiêm tĩnh mạch irbesartan được đánh dấu phóng xạ 14C, khoảng 20% hoạt tính phóng xạ được hồi phục trong nước tiểu và phần còn lại có trong phân, ở dạng irbesartan hoặc irbesartan glucuronide.
Các nghiên cứu in vitro về sự oxy hóa irbesartan bởi isoenzyme cytochrome P450 cho thấy irbesartan được oxy hóa chủ yếu bởi 2C9; chuyển hóa bởi 3A4 là không đáng kể. Irbesartan cũng không được chuyển hóa, về thực chất cũng không gây cảm ứng hay ức chế isoenzymes có liên quan đến chuyển hóa thuốc (1A1, 1A2, 2A6, 2B6, 2D6, 2E1). Không có sự cảm ứng hoặc ức chế 3A4.
Dược động học ở các đối tượng đặc biệt
Giới tính
Không có sự khác biệt về dược động học liên quan đến giới tính được quan sát ở người cao tuổi khỏe mạnh (tuổi từ 65-80) hoặc ở người trẻ khỏe mạnh (tuổi từ 18-40). Trong các nghiên cứu ở bệnh nhân tăng huyết áp, không có sự khác biệt về thời gian bán thải hoặc sự tích lãy thuốc liên quan đến giới tính, nhưng dường như nồng độ huyết tương của irbesartan cao hơn ở nữ (11-44%). Không cần thiết phải chỉnh liều theo giới tính.
Người cao tuổi
Ở người cao tuổi (tuổi từ 65-80), thời gian bán thải irbesartan không bị thay đổi đáng kể, nhưng giá trị AUC và Cmax là cao hơn khoảng 20-50% so với các giá trị này ở người trẻ tuổi (tuổi từ 18-40).
Không cần thiết chỉnh liều chơ người cao tuổi.
Chủng tộc
Ở người da đen khỏe mạnh, giá trị irbesartan AUC cao hơn khoảng 25% so với người da trắng; không có sự khác biệt về giá trị Cmax.
Suy chức năng thận
Dược động học của irbesartan không bị thay đổi ở bệnh nhân bị suy chức năng thận hoặc ở bệnh nhân đang thẩm phân máu. Irbesartan không bị loại khỏi cơ thể bằng thẩm phân máu. Không cần thiết chỉnh liều ở bệnh nhân suy chức năng thận nhẹ đến nặng trừ khi bệnh nhân bị suy chức năng thận kèm mất nước.
Suy chức năng gan
Dược động học của irbesartan sau khi uống liều lặp lại không bị ảnh hưởng đáng kể ở bệnh nhân xơ gan nhẹ đến trung bình. Không cần thiệt chỉnh liều ở các bệnh nhân này.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM