Thuốc Vemlidy là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Vemlidy (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Tenofovir alafenamide fumarate
Phân loại: Thuốc kháng virus.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J05AF13.
Biệt dược gốc: Vemlidy
Hãng sản xuất : Gilead Sciences Ireland UC
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén bao phim: Tenofovir alafenamide fumarate 28,04 mg, tương đương với tenofovir alafenamide 25 mg.
Thuốc tham khảo:
| VEMLIDY | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Tenofovir alafenamide | …………………………. | 25 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Vemlidy được chỉ định trong điều trị bệnh viêm gan B mạn tính ở người lớn và trẻ vị thành niên (từ 12 tuổi trở lên với trọng lượng cơ thể tối thiểu 35 kg) (xem phần Dược lý – Thuộc tính dược lực học).
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng theo đường uống. Nên dùng viên nén bao phim Vemlidy khi ăn.
Liều dùng:
Liệu pháp điều trị phải do bác sĩ có kinh nghiệm trong việc quản lý bệnh viêm gan B mạn tính chỉ định.
Người lớn và trẻ vị thành niên (từ 12 tuổi trở lên với trọng lượng cơ thể ít nhất 35 kg): một viên nén một lần mỗi ngày.
Ngừng điều trị
Có thể cân nhắc ngừng điều trị như sau (xem phần Cảnh báo và thận trọng):
Ở các bệnh nhân có HBeAg dương tính không mắc xơ gan, nên điều trị ít nhất 6-12 tháng sau khi xác nhận chuyển đổi HBe (mất HBeAg và mất HBV DNA do phát hiện kháng HBe) hoặc cho đến khi chuyển đổi HBs hoặc cho đến khi thuốc mất hiệu quả (xem phần Cảnh báo và thận trọng). Khuyến nghị nên tiến hành tái đánh giá thường xuyên sau khi ngừng điều trị để phát hiện tình trạng tái phát virus.
Ở các bệnh nhân có HBeAg âm tính không mắc xơ gan, nên điều trị ít nhất đến khi chuyển đổi HBs hoặc cho đến khi có bằng chứng cho thấy thuốc mất hiệu quả. Với thời gian điều trị kéo dài hơn 2 năm, khuyến nghị nên tiến hành tái đánh giá thường xuyên để xác nhận việc tiếp tục điều trị bằng liệu pháp đã chọn vẫn phù hợp với bệnh nhân.
Quên liều dùng
Nếu quên một liều dùng dưới 18 giờ kể từ thời điểm dùng thuốc bình thường, bệnh nhân nên dùng Vemlidy càng sớm càng tốt và sau đó tiếp tục dùng thuốc như bình thường. Nếu đã quá 18 giờ kể từ thời điểm dùng thuốc bình thường, bệnh nhân không nên dùng liều đã bỏ lỡ và chỉ cần tiếp tục dùng thuốc theo giờ uống thuốc bình thường.
Nếu bệnh nhân bị nôn mửa trong vòng 1 giờ sau khi dùng Vemlidy, bệnh nhân nên uống thêm một viên nén khác. Nếu bệnh nhân bị nôn mửa hơn 1 giờ sau khi dùng Vemlidy, bệnh nhân không cần uống thêm một viên nén khác.
Những đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều dùng Vemlidy cho bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên (xem phần Dược lý – Thuộc tính dược động học).
Suy thận
Không cần điều chỉnh liều dùng Vemlidy cho người lớn hoặc trẻ vị thành niên (từ 12 tuổi trở lên và trọng lượng cơ thể tối thiểu 35 kg) có độ thanh thải creatinine (CrCl) dự kiến ≥ 15 mL/phút hoặc ở bệnh nhân có CrCl < 15 mL/phút đang điều trị bằng thẩm tách máu.
Vào những ngày thẩm tách máu, bệnh nhân nên dùng Vemlidy sau khi hoàn thành điều trị bằng thẩm tách máu (xem phần Dược lý – Thuộc tính dược động học).
Không có khuyến cáo liều dùng cho các bệnh nhân có CrCl < 15 mL/phút không điều trị bằng thẩm tách máu (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Suy gan
Không cần điều chỉnh liều dùng Vemlidy cho bệnh nhân bị suy gan (xem phần Cảnh báo và thận trọng và Dược lý – Thuộc tính dược động học).
Nhóm bệnh nhân nhi
Chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả của Vemlidy ở trẻ em dưới 12 tuổi hoặc có cân nặng < 35 kg. Không có dữ liệu.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn cảm với các thành phần hoạt tính hoặc bất kỳ tá dược nào.
4.4 Thận trọng:
Lây nhiễm HBV
Bệnh nhân phải được thông báo rằng Vemlidy không ngăn ngừa nguy cơ lây nhiễm HBV sang người khác thông qua tiếp xúc tình dục hoặc truyền máu. Cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa phù hợp.
Bệnh nhân bị bệnh gan mất bù
Không có dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của Vemlidy ở bệnh nhân nhiễm HBV mắc bệnh gan mất bù và có điểm số Child Pugh Turcotte (CPT) > 9 (Loại C). Những bệnh nhân này có nguy cơ cao bị phản ứng phụ nghiêm trọng ở gan và thận. Do đó, phải theo dõi chặt chẽ các thông số về gan và thận trong nhóm bệnh nhân này (xem phần Dược lý – Thuộc tính dược động học).
Tăng viêm gan
Bùng phát trong khi điều trị
Tình trạng tăng viêm gan B mạn tính tự phát khá phổ biến và được đặc trưng bằng sự gia tăng tạm thời alanine aminotransferase (ALT) trong huyết thanh. Sau khi bắt đầu điều trị kháng virus, ALT trong huyết thanh có thể tăng ở một số bệnh nhân. Ở các bệnh nhân mắc bệnh gan còn bù, tình trạng tăng ALT trong huyết thanh thường không đi kèm với tăng nồng độ bilirubin trong huyết thanh hoặc bệnh suy gan mất bù. Bệnh nhân mắc xơ gan có nguy cơ cao bị suy gan mất bù do tăng viêm gan, do đó cần phải theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị.
Bùng phát sau khi ngừng điều trị
Đã có báo cáo về tình trạng tăng viêm gan cấp tính ở những bệnh nhân đã ngưng điều trị viêm gan B, thường là do tăng nồng độ HBV DNA trong huyết tương. Hầu hết các trường hợp đều tự hạn chế, nhưng tình trạng tăng viêm gan nghiêm trọng, bao gồm kết quả tử vong, có thể xảy ra sau khi ngưng điều trị viêm gan B. Cần phải theo dõi chức năng gan trong khoảng thời gian định kỳ lặp lại với cả theo dõi lâm sàng và theo dõi trong phòng thí nghiệm ít nhất 6 tháng sau khi ngưng điều trị viêm gan B. Nếu thích hợp, có thể khôi phục lại quá trình điều trị viêm gan B.
Ở những bệnh nhân bị bệnh gan tiến triển hoặc xơ gan, không nên ngưng điều trị bởi vì tình trạng tăng viêm gan sau điều trị có thể dẫn đến suy gan mất bù. Bùng phát viêm gan đặc biệt nghiêm trọng và đôi khi gây tử vong ở những bệnh nhân bị bệnh gan mất bù.
Suy thận
Bệnh nhân có độ thanh thải creatinine < 30 mL/phút
Liều dùng Vemlidy mỗi ngày một lần ở những bệnh nhân có CrCl ≥ 15 mL/phút nhưng < 30 mL/phút và ở những bệnh nhân có CrCl < 15 mL/phút đang điều trị bằng thẩm tách máu được căn cứ trên dữ liệu dược động học và mô hình hóa và mô phỏng rất hạn chế. Không có dữ liệu an toàn về việc sử dụng Vemlidy để điều trị bệnh nhân mắc HBV có CrCl < 30 mL/phút.
Không khuyến cáo sử dụng Vemlidy cho các bệnh nhân có CrCl < 15 mL/phút không điều trị bằng thẩm tách máu (xem phần Liều lượng và cách dùng).
Độc tính trên thận
Không thể loại trừ nguy cơ tiềm ẩn độc tính trên thận do tiếp xúc lâu dài với mức tenofovir thấp do dùng với tenofovir alafenamide (xem phần An toàn tiền lâm sàng).
Bệnh nhân đồng nhiễm HBV và viêm gan virus C hoặc D
Không có dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của Vemlidy ở bệnh nhân đồng nhiễm viêm gan virus C hoặc D. Cần tuân thủ hướng dẫn sử dụng đồng thời để điều trị viêm gan C (xem phần Tương tác).
Đồng nhiễm viêm gan B và HIV
Cần thực hiện xét nghiệm kháng thể HIV cho tất cả những bệnh nhân nhiễm HBV mà chưa rõ tình trạng nhiễm HIV-1 trước khi bắt đầu điều trị với Vemlidy. Ở những bệnh nhân đồng nhiễm HBV và HIV, cần sử dụng đồng thời Vemlidy với các thuốc kháng retrovirút khác để đảm bảo rằng bệnh nhân nhận được một phác đồ thích hợp để điều trị HIV (xem phần Tương tác).
Sử dụng đồng thời với các loại thuốc khác
Không nên sử dụng đồng thời Vemlidy với các sản phẩm có chứa tenofovir alafenamide, tenofovir disoproxil fumarate (thuốc tenofovir DF) hoặc adefovir dipivoxil.
Không khuyến nghị sử dụng đồng thời Vemlidy với một số loại thuốc chống co giật nhất định (ví dụ: carbamazepine, oxcarbazepine, phenobarbital và phenytoin), thuốc kháng vi khuẩn (ví dụ: rifampicin, rifabutin và rifapentine) hoặc thảo dược St. John’s wort, tất cả đều là chất gây cảm ứng P-glycoprotein (P-gp) và có thể làm giảm nồng độ tenofovir alafenamide trong huyết tương.
Việc sử dụng đồng thời Vemlidy với chất ức chế P-gp mạnh (ví dụ: itraconazole và ketoconazole) có thể làm tăng nồng độ tenofovir alafenamide trong huyết tương. Không khuyến nghị sử dụng đồng thời.
Không dung nạp lactose
Vemlidy chứa lactose monohydrat. Do đó, bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu hụt Lapp lactase, hoặc rối loạn hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Vemlidy không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng điều khiển và vận hành máy móc. Nên thông báo cho bệnh nhân biết rằng có tình trạng chóng mặt trong quá trình điều trị với Vemlidy..
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Không có hoặc có rất ít dữ liệu (dưới 300 trường hợp mang thai) sử dụng tenofovir alafenamide ở phụ nữ có thai. Tuy nhiên, một số lượng lớn các dữ liệu về phụ nữ có thai (hơn 1000 kết quả phơi nhiễm) cho thấy không có biểu hiện dị dạng hay độc tính trong bào thai/trẻ sơ sinh liên quan đến việc sử dụng tenofovir disoproxil fumarate.
Nghiên cứu trên động vật không cho thấy các ảnh hưởng bất lợi trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến độc tính đối với khả năng sinh sản (xem phần An toàn tiền lâm sàng).
Có thể cân nhắc sử dụng Vemlidy trong thai kỳ, nếu cần thiết.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa xác định được tenofovir alafenamide có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên động vật cho thấy tenofovir được bài tiết vào sữa. Không có thông tin đầy đủ về tác dụng của tenofovir ở trẻ mới sinh/trẻ nhỏ.
Không thể loại trừ nguy cơ đối với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ; do đó, không nên sử dụng Vemlidy khi đang cho con bú.
Khả năng sinh sản
Không có dữ liệu nghiên cứu ở người về ảnh hưởng của Vemlidy đối với khả năng sinh sản. Nghiên cứu ở động vật không cho thấy ảnh hưởng bất lợi của tenofovir alafenamide đối với khả năng sinh sản.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tóm tắt hồ sơ an toàn
Đánh giá các phản ứng phụ căn cứ trên dữ liệu an toàn từ phân tích được thực hiện thông qua phân tích đến Tuần 72 (thời gian phơi nhiễm trung bình 88 tuần), từ 2 nghiên cứu Giai đoạn 3, trong đó 866 bệnh nhân nhiễm HBV nhận tenofovir alafenamide 25 mg một lần/ngày. Các phản ứng phụ thường gặp nhất là nhức đầu (11%), buồn nôn (6%) và mệt mỏi (6%).
Bảng tóm tắt phản ứng phụ
Đã xác định được các phản ứng phụ sau đây của thuốc khi sử dụng tenofovir alafenamide cho bệnh nhân viêm gan B mạn tính (Bảng 5). Các phản ứng phụ được liệt kê dưới đây theo loại cơ quan trong cơ thể và tần suất xuất hiện. Tần suất được xác định như sau: rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), không thường gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000) hoặc rất hiếm gặp (< 1/10.000).
– xem Bảng 5.

Báo cáo phản ứng phụ nghi ngờ
Việc báo cáo phản ứng phụ nghi ngờ sau khi cấp phép thuốc là điều quan trọng. Việc này cho phép theo dõi liên tục sự cân bằng giữa lợi ích/rủi ro của dược phẩm. Các chuyên gia chăm sóc sức khỏe được yêu cầu báo cáo bất kỳ phản ứng phụ nghi ngờ nào thông qua hệ thống báo cáo quốc gia..
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Phải ngừng thuốc nếu có các biểu hiện của tổn thương gan, thận, nhiễm toan.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Nghiên cứu tương tác mới chỉ được thực hiện ở người lớn.
Không nên sử dụng đồng thời Vemlidy với các dược phẩm có chứa tenofovir disoproxil fumarate (thuốc tenofovir DF), tenofovir alafenamide hoặc adefovir dipivoxil.
Các dược phẩm có thể ảnh hưởng đến tenofovir alafenamide
Tenofovir alafenamide được truyền dẫn bằng P-gp và protein kháng ung thư vú (BCRP). Các loại dược phẩm là chất gây cảm ứng P-gp (ví dụ: rifampicin, rifabutin, carbamazepine, phenobarbital hoặc thảo dược St. John’s wort) có thể sẽ làm giảm nồng độ tenofovir alafenamide trong huyết tương, có thể dẫn đến mất tác dụng điều trị của Vemlidy. Không khuyến nghị sử dụng đồng thời các loại dược phẩm này với Vemlidy.
Việc sử dụng đồng thời Vemlidy với các loại dược phẩm gây ức chế P-gp và/hoặc BCRP có thể làm tăng nồng độ tenofovir alafenamide trong huyết tương. Không khuyến nghị sử dụng đồng thời Vemlidy với các chất ức chế Vemlidy mạnh.
Tenofovir alafenamide là chất nền của OATP1B1 và OATP1B3 trong thử nghiệm in vitro. Sự phân bố tenofovir alafenamide trong cơ thể có thể bị ảnh hưởng bởi hoạt tính của OATP1B1 và/hoặc OATP1B3.
Ảnh hưởng của tenofovir alafenamide với các dược phẩm khác
Tenofovir alafenamide không phải là chất ức chế CYP1A2, CYP2B6, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19 hoặc CYP2D6 trong thử nghiệm in vitro. Cũng không phải là chất ức chế CYP3A in vivo.
Tenofovir alafenamide không phải là chất ức chế uridine diphosphate glucuronosyltransferase (UGT) 1A1 ở người trong thử nghiệm in vitro. Chưa xác định được tenofovir alafenamide có phải là chất ức chế các enzym UGT khác hay không.
Thông tin về tương tác thuốc cho Vemlidy với các dược phẩm có thể dùng đồng thời được tóm tắt trong Bảng 4 dưới đây (tăng được thể hiện là “↑”, giảm là “↓”, không thay đổi là “↔”, hai lần mỗi ngày là “b.i.d”, liều đơn là “s.d.”, một lần mỗi ngày là “q.d.” và tiêm tĩnh mạch là “IV”). Các tương tác của thuốc được mô tả căn cứ vào các nghiên cứu được thực hiện với tenofovir alafenamide hoặc là các khả năng tương tác thuốc có thể xảy ra với Vemlidy.
– xem Bảng 4.




4.9 Quá liều và xử trí:
Nếu xảy ra quá liều, phải theo dõi bệnh nhân để phát hiện bằng chứng độc tính (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Điều trị quá liều Vemlidy gồm có các biện pháp hỗ trợ chung bao gồm theo dõi các dấu hiệu sự sống cũng như quan sát tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.
Tenofovir được loại bỏ đáng kể bởi quá trình thẩm tách máu với hệ số chiết suất khoảng 54%. Chưa xác định được liệu tenofovir có thể bị loại bỏ bởi thẩm tách màng bụng không.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Thuộc tính dược lực học
Nhóm dược học điều trị: Thuốc kháng virus sử dụng toàn thân, chất ức chế phiên mã ngược nucleoside và nucleotide; Mã ATC: J05AF13.
Cơ chế tác dụng
Tenofovir alafenamide là một tiền chất phosphonamidate của tenofovir (chất tương tự 2’-deoxyadenosine monophosphate). Tenofovir alafenamide xâm nhập tế bào gan nguyên phát bằng cách khuếch tán thụ động và bằng các chất dẫn truyền hấp thu gan OATP1B1 và OATP1B3. Tenofovir alafenamide chủ yếu được thủy phân tạo thành tenofovir bằng carboxylesterase 1 ở tế bào gan nguyên phát. Sau đó, tenofovir nội bào được phốt pho hóa thành chất chuyển hóa tenofovir diphosphate hoạt hóa dược lý. Tenofovir diphosphate ức chế quá trình tái tạo HBV thông qua việc kết hợp vào DNA virus bằng phiên mã ngược HBV, dẫn đến kết thúc chuỗi DNA.
Tenofovir có hoạt tính cụ thể đối với virus viêm gan B và virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV-1 và HIV-2). Tenofovir diphosphate là một chất ức chế yếu của DNA polymerase ở động vật có vú bao gồm DNA polymerase ty thể γ và không có bằng chứng về độc tính ty thể trong thử nghiệm in vitro dựa trên một số xét nghiệm bao gồm phân tích DNA ty thể.
Hoạt tính kháng virút
Hoạt tính kháng virus của tenofovir alafenamide được đánh giá trong các tế bào HepG2 so với một bảng phân lập lâm sàng HBV đại diện cho các kiểu gen A-H. Giá trị EC50 (nồng độ hiệu lực 50%) cho tenofovir alafenamide nằm trong phạm vi từ 34,7 đến 134,4 nM, với giá trị EC50 trung bình là 86,6 nM. CC50 (nồng độ độc hại tế bào 50%) trong tế bào HepG2 là > 44400 nM.
Kháng thuốc
Trong một phân tích gộp với các bệnh nhân được điều trị bằng Vemlidy, phân tích trình tự đã được thực hiện trên cơ sở ghép cặp và các mẫu phân lập HBV trong quá trình điều trị ở những bệnh nhân có đột phá về virus học (2 lần thăm khám liên tục có HBV DNA ≥ 69 IU/mL sau khi < 69 IU/mL, hoặc tăng 1.0 log10 trở lên trong HBV DNA từ mức thấp nhất) đến Tuần 48 hoặc có HBV DNA ≥ 69 IU/mL khi ngừng điều trị sớm vào hoặc sau Tuần 24. Không xác định có đột biến thay thế axit amin liên quan đến tình trạng kháng thuốc Vemlidy trong 20 cặp phân lập.
Kháng thuốc chéo
Hoạt tính kháng virus của tenofovir alafenamide được đánh giá trên một bảng phân lập có chứa các đột biến của chất ức chế enzym phiên mã ngược nucleos(t)ide trong các tế bào HepG2. Các phân lập HBV thể hiện đột biến thay thế rtV173L, rtL180M và rtM204V/I liên quan đến tình trạng kháng lamivudine tiếp tục nhạy cảm với tenofovir alafenamide (thay đổi < 2 lần cho EC50). Các phân lập HBV thể hiện đột biến thay thế rtL180M, rtM204V cộng với rtT184G, rtS202G, hoặc rtM250V liên quan đến tình trạng kháng entecavir tiếp tục nhạy cảm với tenofovir alafenamide. Các phân lập HBV thể hiện đột biến thay thế đơn rtA181T, rtA181V, hoặc rtN236T liên quan đến tình trạng kháng adefovir tiếp tục nhạy cảm với tenofovir alafenamide; tuy nhiên, phân lập HBV thể hiện hoạt tính chống lại rtA181V cộng với rtN236T làm giảm độ nhạy cảm với tenofovir alafenamide (thay đổi 3,7 lần trong EC50). Chưa rõ mức độ liên quan lâm sàng của các đột biến thay thế này.
Dữ liệu lâm sàng
Hiệu quả và tính an toàn của Vemlidy ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính căn cứ vào dữ liệu 48 tuần từ hai nghiên cứu ngẫu nhiên, có kiểm soát tích cực, theo phương pháp mù đôi GS-US-320-0108 (“Nghiên cứu 108”) và GS US 320 0110 (“Nghiên cứu 110”).
Trong Nghiên cứu 108, các bệnh nhân có HBeAg âm tính chưa từng điều trị và đã điều trị với chức năng gan có bù được lựa chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ 2:1 để sử dụng Vemlidy (25 mg, N = 285) một lần mỗi ngày hoặc thuốc tenofovir disoproxil fumarate (thuốc tenofovir DF) (300 mg, N = 140) một lần mỗi ngày. Tuổi trung bình là 46 tuổi, 61% là nam giới, 72% là người Châu Á, 25% là người da trắng và 2% (8 đối tượng) là người da đen; 24%, 38% và 31% đối tượng tương ứng mắc HBV kiểu gen B, C và D. 21% đã từng điều trị (điều trị trước với thuốc kháng virus dùng theo đường uống, bao gồm entecavir (N = 41), lamivudine (N = 42), tenofovir disoproxil fumarate (N = 21), hoặc thuốc khác (N = 18). Ở thời điểm ban đầu, HBV DNA trung bình trong huyết tương là 5,8 log10 IU/mL, ALT trung bình trong huyết thanh là 94 U/L và 9% bệnh nhân có tiền sử xơ gan.
Trong Nghiên cứu 110, các bệnh nhân có HBeAg dương tính chưa từng điều trị và đã điều trị với chức năng gan có bù được lựa chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ 2:1 để sử dụng Vemlidy (25 mg, N = 581) một lần mỗi ngày hoặc thuốc tenofovir disoproxil fumarate (thuốc tenofovir DF) (300 mg, N = 292) một lần mỗi ngày. Tuổi trung bình là 38 tuổi, 64% là nam giới, 82% là người Châu Á, 17% là người da trắng và 1% (5 đối tượng) là người da đen. 17%, 52% và 23% đối tượng tương ứng mắc HBV kiểu gen B, C và D. 26% đã từng điều trị (điều trị trước với thuốc kháng virus dùng theo đường uống, bao gồm adefovir (N = 42), entecavir (N = 117), lamivudine (N = 84), telbivudine (N = 25), tenofovir disoproxil fumarate (N = 70), hoặc thuốc khác (n = 17)). Ở thời điểm ban đầu, HBV DNA trung bình trong huyết tương là 7,6 log10 IU/mL, ALT trung bình trong huyết thanh là 120 U/L và 7% bệnh nhân có tiền sử xơ gan.
Chỉ tiêu hiệu quả chính của cả hai thử nghiệm là tỷ lệ bệnh nhân có mức HBV DNA trong huyết tương dưới 29 IU/mL. Vemlidy đáp ứng tiêu chí không thua kém khi đạt được HBV DNA dưới 29 IU/mL khi so sánh với tenofovir disoproxil fumarate.
Kết quả điều trị của Nghiên cứu 108 và Nghiên cứu 110 sau Tuần 48 được trình bày trong Bảng 1 và Bảng 2. Kết quả điều trị bổ sung sau Tuần 72 được trình bày trong Bảng 3.
– xem Bảng 1 & 2.


Điều trị sau 48 tuần của Nghiên cứu 108 và Nghiên cứu 110
Ở Tuần 72, sự ức chế virus cũng như phản ứng sinh hóa và huyết thanh học được duy trì khi điều trị liên tục với tenofovir alafenamide (xem Bảng 3). Chưa thu thập được dữ liệu huyết thanh học ở thời điểm Tuần 72.
– xem Bảng 3.
.
Những thay đổi trong thông số mật độ xương
Trong cả hai nghiên cứu, tenofovir alafenamide có liên quan đến sự giảm mật độ xương với tỷ lệ phần trăm nhỏ hơn (BMD; được đo bằng phân tích độ hấp thụ tia X năng lượng kép ở đốt sống lưng và hông [DXA]) so với tenofovir disoproxil fumarate sau 72 tuần điều trị.
Những thay đổi trong thông số chức năng thận
Trong cả hai nghiên cứu, tenofovir alafenamid có liên quan đến sự thay đổi nhỏ hơn về thông số an toàn của chức năng thận (mức độ giảm CrCl ước tính nhỏ hơn theo Cockcroft-Gault và mức độ tăng theo tỷ lệ phần trăm của protein trong nước tiểu so với tỷ lệ creatinine và albumin trong nước tiểu so với creatinine) so với tenofovir disoproxil fumarate sau 72 tuần điều trị (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Nhóm bệnh nhân nhi
Cơ quan Quản lý Sản phẩm Y tế Châu Âu đã hoãn nghĩa vụ nộp kết quả nghiên cứu với Vemlidy trong một hoặc nhiều tập con của nhóm bệnh nhân nhi trong điều trị bệnh viêm gan B mạn tính (xem phần Liều lượng và cách dùng và Dược lý – Thuộc tính dược động học để biết thông tin sử dụng cho bệnh nhân nhi).
Cơ chế tác dụng:
Tenofovir alafenamide là một tiền chất phosphonamidate của tenofovir (chất tương tự 2’-deoxyadenosine monophosphate). Tenofovir alafenamide xâm nhập tế bào gan nguyên phát bằng cách khuếch tán thụ động và bằng các chất dẫn truyền hấp thu gan OATP1B1 và OATP1B3. Tenofovir alafenamide chủ yếu được thủy phân tạo thành tenofovir bằng carboxylesterase 1 ở tế bào gan nguyên phát. Sau đó, tenofovir nội bào được phốt pho hóa thành chất chuyển hóa tenofovir diphosphate hoạt hóa dược lý. Tenofovir diphosphate ức chế quá trình tái tạo HBV thông qua việc kết hợp vào DNA virus bằng phiên mã ngược HBV, dẫn đến kết thúc chuỗi DNA.
Tenofovir có hoạt tính cụ thể đối với virus viêm gan B và virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV-1 và HIV-2). Tenofovir diphosphate là một chất ức chế yếu của DNA polymerase ở động vật có vú bao gồm DNA polymerase ty thể γ và không có bằng chứng về độc tính ty thể trong thử nghiệm in vitro dựa trên một số xét nghiệm bao gồm phân tích DNA ty thể.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu
Sau khi sử dụng Vemlidy bằng đường uống ở điều kiện nhịn ăn cho người lớn mắc bệnh viêm gan B mạn tính, quan sát được nồng độ tenofovir alafenamide trong huyết tương đạt mốc cao nhất ở thời điểm khoảng 0,48 giờ sau khi dùng liều. Dựa trên phân tích dược động học Giai đoạn 3 ở nhóm đối tượng nhiễm CHB, AUC0-24 ở trạng thái ổn định trung bình của tenofovir alafenamide (N = 698) và tenofovir (N = 856) tương ứng là 0,22 µg•giờ/mL và 0,32 µg•giờ/mL. Cmax ở trạng thái ổn định của tenofovir alafenamide và tenofovir tương ứng là 0,18 và 0,02 µg•giờ/mL. So với các điều kiện nhịn ăn, việc sử dụng một liều đơn Vemlidy với một bữa ăn có hàm lượng chất béo cao làm tăng 65% phơi nhiễm tenofovir alafenamide.
Phân bố
Có khoảng 80% tenofovir alafenamide liên kết với các protein trong huyết thanh người trong các mẫu thu thập được trong các thử nghiệm lâm sàng. Dưới 0,7% tenofovir liên kết với protein trong huyết thanh người và sự liên kết này không phụ thuộc vào nồng độ trên phạm vi 0,01-25 μg/mL.
Biến đổi sinh học
Chuyển hóa là đường đào thải chính cho tenofovir alafenamide trong cơ thể người, chiếm > 80% cho một liều dùng theo đường uống. Các nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng tenofovir alafenamide được chuyển hóa thành tenofovir (chất chuyển hóa chính) nhờ có carboxylesterase-1 ở tế bào gan; và cathepsin A trong PBMC và đại thực bào. In vivo, tenofovir alafenamide được thủy phân trong các tế bào để hình thành tenofovir (chất chuyển hóa chính), được phốt pho hóa thành chất chuyển hóa hoạt tính, tenofovir diphosphate.
Trong thử nghiệm in vitro, tenofovir alafenamide không được chuyển hóa bởi CYP1A2, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19, hoặc CYP2D6. Tenofovir alafenamide được chuyển hóa một phần nhỏ bởi CYP3A4.
Đào thải
Bài tiết tenofovir alafenamide nguyên vẹn qua thận là đường đào thải phụ với < 1% liều được đào thải qua nước tiểu. Tenofovir alafenamide chủ yếu được đào thải sau khi chuyển hóa thành tenofovir. Tenofovir alafenamide và tenofovir có chu kỳ bán thải trung bình trong huyết thanh lần lượt là 0,51 và 32,37 giờ. Tenofovir được bài tiết qua thận và thải ra khỏi cơ thể bởi sự kết hợp của lọc tiểu cầu thận và bài tiết tích cực ở ống thận.
Tuyến tính/phi tuyến tính
Phơi nhiễm tenofovir alafenamide tỷ lệ thuận với liều dùng trên khoảng liều dùng từ 8 mg đến 125 mg.
Dược động học ở các nhóm đặc biệt
Tuổi, giới tính và dân tộc
Không xác định được sự khác biệt lâm sàng về dược động học theo độ tuổi hoặc dân tộc. Các khác biệt về dược động học theo giới tính không được coi là có liên quan về mặt lâm sàng.
Suy gan
Ở những bệnh nhân suy gan nặng, nồng độ tenofovir alafenamide và tenofovir trong huyết tương thấp hơn so với những người có chức năng gan bình thường. Khi điều chỉnh sự liên kết với protein, nồng độ tenofovir alafenamide (tự do) không liên kết trong huyết thanh là tương tự ở những bệnh nhân bị suy gan và có chức năng gan bình thường.
Suy thận
Không quan sát thấy có sự khác biệt về lâm sàng trong dược động học của tenofovir alafenamide và tenofovir giữa những người khỏe mạnh và bệnh nhân suy thận nặng (ước tính CrCl > 15 nhưng < 30 mL/phút) trong các nghiên cứu tenofovir alafenamide.
Nhóm bệnh nhân nhi
Dược động học của tenofovir alafenamide và tenofovir đã được đánh giá ở thanh thiếu niên nhiễm HIV-1, chưa từng được điều trị. Những đối tượng này được điều trị với tenofovir alafenamide (10 mg) cùng với elvitegravir, cobicistat và emtricitabine dưới dạng viên nén kết hợp liều dùng cố định (E/C/F/TAF; Genvoya). Không quan sát thấy có sự khác biệt về lâm sàng trong dược động học của tenofovir alafenamide và tenofovir giữa thanh thiếu niên và người lớn nhiễm HIV-1.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: Lactose monohydrat, microcrystallin cellulose, tinh bột ngô, croscarmellose natri, magnesi stearat, opadry xanh vừa đủ 1 viên.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
An toàn tiền lâm sàng
Các nghiên cứu phi lâm sàng ở chuột cống và chó cho thấy xương và thận là cơ quan đầu tiên bị phơi nhiễm với độc tính. Quan sát thấy độc tính trên xương do mức BMD ở chuột cống và chó khi phơi nhiễm với tenofovir giảm ít nhất 4 lần so với kết quả sau khi dùng tenofovir alafenamide. Mức xâm nhập tối thiểu của histiocytes ở mắt chó khi sử dụng tenofovir alafenamide và tenofovir cao hơn tương ứng khoảng 4 lần và 17 lần so với kết quả dự kiến sau khi dùng tenofovir alafenamide.
Tenofovir alafenamide không gây đột biến gen hoặc bất thường nhiễm sắc thể trong các xét nghiệm độc tính gen.
Do mức độ phơi nhiễm với tenofovir thấp hơn ở chuột cống và chuột nhắt sau khi dùng tenofovir alafenamide so với tenofovir disoproxil fumarate, các nghiên cứu chất gây ung thư và nghiên cứu trước/sau khi sinh ở chuột chỉ được tiến hành với fumarate tenofovir disoproxil. Không phát hiện có nguy cơ đặc biệt nào cho người trong các nghiên cứu thông thường về khả năng gây ung thư khi điều trị với tenofovir disoproxil (cũng như fumarate) và tình trạng giảm khả năng sinh sản và phát triển khi điều trị với tenofovir disoproxil (cũng như fumarate) hoặc tenofovir alafenamide. Các nghiên cứu về độc tính trong khả năng sinh sản ở chuột cống và thỏ cho thấy không có ảnh hưởng gì đến khả năng giao phối, sinh sản, mang thai hoặc các thông số của bào thai. Tuy nhiên, tenofovir disoproxil fumarate làm giảm chỉ số khả năng sống và trọng lượng của chuột non trong các nghiên cứu độc tính trước/sau khi sinh khi sử dụng liều thuốc ở chuột mẹ. Nghiên cứu khả năng gây ung thư khi sử dụng qua đường uống trong thời gian dài ở chuột nhắt cho thấy có khối u tá tràng, được cho là có liên quan đến nồng độ thuốc cao ở vùng dạ dày – ruột khi dùng liều cao 600 mg/kg/ngày. Cơ chế hình thành khối u ở chuột nhắt và khả năng hình thành khối u tương ứng ở người chưa được xác định.
6.5 Tài liệu tham khảo:
MIMS Việt Nam
HDSD Thuốc Vemlidy .
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM