Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Abiratred
Abiratred (Abiraterone) là một loại thuốc điều trị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn muộn thông qua tác động vào hormone. Abiratred (Abiraterone) thường được sử dụng cùng với thuốc coritcosteroid (như prednisone hoặc methylprednisolone) để điều trị ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới không thể điều trị bằng phẫu thuật hoặc các loại thuốc khác. Dưới đây là thông tin chung của hoạt chất, thuốc Abiraterone (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…):
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Abiraterone acetate
Phân loại: Thuốc chống ung thư > Nhóm kháng Androgens.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L02BX03.
Biệt dược gốc: Zytiga
Biệt dược: Abiratred
Hãng sản xuất : Dr. Reddy’s Laboratories Ltd (Ấn Độ).
Hãng tiếp thị : Dr. Reddy’s Laboratories Ltd (Ấn Độ).
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén bao phim 250 mg.
Hình ảnh thuốc:
| ABIRATRED | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Abirateron acetat | …………………………. | 250 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Thông tin dành cho người sử dụng:
3.1. Abiratred (Abiraterone) là thuốc gì?
Abiratred (Abiraterone) có thành phần chính là Abiraterone, là một loại thuốc điều trị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn muộn thông qua tác động vào hormone. Abiratred (Abiraterone) là biệt dược gốc, hay còn gọi là thuốc phát minh. Abiratred (Abiraterone) thường được sử dụng cùng với thuốc coritcosteroid (như prednisone hoặc methylprednisolone) để điều trị ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới không thể điều trị bằng phẫu thuật hoặc các loại thuốc khác.
3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:
Cơ chế tác dụng của thuốc Abiraterone như thế nào ?
Ung thư tuyến tiền liệt cần testosterone (Androgen – hormone sinh dục nam) để phát triển. Abiratred (Abiraterone) sẽ ngăn chặn cơ thể bạn tạo ra testosterone (giảm sản xuất androgen trong cơ thể). Điều này có thể giúp làm chậm sự phát triển của bệnh ung thư.
Tại sao Corticosteroid (VD: prednisone) lại được kê đơn cùng với Abiraterone?
Abiratred (Abiraterone) được dùng cùng với prednisone để giúp kiểm soát các tác dụng phụ có thể xảy ra khi điều trị ung thư tuyến tiền liệt. Abiratred (Abiraterone) sẽ ngăn chặn việc sản xuất cortisol từ tuyến thượng thận của người bệnh dẫn tới việc thiếu hụt cortisol. Prednisone giúp thay thế lượng cortisol bị mất có thể gây ra các tác dụng phụ như giảm nồng độ kali trong máu, tích nước (phù nề) hoặc gây cao huyết áp.
Abiratred (Abiraterone) có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?
Abiratred có chứa hoạt chất chính là Abiraterone, chất này CÓ nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam, thuốc này chỉ được cấp bảo hiểm ở các bệnh viện hạng II trở lên. Do đó người bệnh có thể được kê đơn và lĩnh thuốc này tại các cơ sở khám chữa bệnh theo tuyến bảo hiểm y tế.
Tôi không thể mua được Abiratred (Abiraterone), hiện tại có thuốc nào có thể mua thay thế được không?
Abiratred (Abiraterone) là thuốc biệt dược sản xuất theo thuốc phát minh là Zytiga, tính tới năm 2024, có một số biệt dược khác cũng có chứa thành phần Abiraterone khác và được lưu hành tại Việt Nam. Tuy nhiên nếu vẫn không thể tìm được thì có thể báo lại bác sỹ để có thể được tư vấn chuyển đổi sang biệt dược khác để thay thế nếu được đồng ý, không tự ý thay đổi thuốc mà bác sỹ đã chỉ định.
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Abirateron được chỉ định dùng đồng thời với prednison hoặc prednisolon cho các trường hợp:
Ung thư tiền liệt tuyến di căn đề kháng với liệu pháp loại bỏ hormon sinh dục nam trên bệnh nhân nam trưởng thành, không có triệu chứng hoặc có triệu chứng nhẹ sau khi thất bại trong liệu pháp điều trị loại bỏ androgen và chưa có chỉ định hóa trị liệu trên lâm sàng.
Ung thư tiền liệt tuyến di căn đề kháng với liệu pháp loại bỏ hormon sinh dục nam trên bệnh nhân nam trưởng thành, bệnh đang tiến triển hoặc sau chế độ hóa trị dựa trên docetaxel.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Abirateron nên dùng sau khi ăn ít nhất 2 giờ và không ăn ít nhất 1 giờ sau khi uống thuốc. Nuốt nguyên viên với nước.
Liều dùng:
Liều đề nghị là 1.000 mg (4 viên 250 mg), dùng liều duy nhất mỗi ngày, không được sử dụng cùng với thức ăn (xem thêm thông tin cách dùng). Nếu dùng chung với thức ăn sẽ làm tăng tác dụng toàn thân của abirateron.
Abirateron được dùng cùng với prednison hoặc prenisolon liều thấp. Liều khuyến cáo của prednison hoặc prenisolon là 10 mg mỗi ngày.
Loại bỏ hormon sinh dục nam bằng chất tương tự LHRH nên được duy trì trên những bệnh nhân không loại bỏ tinh hoàn bằng phẫu thuật.
Transaminase huyết thanh nên được đo trước khi bắt đầu điều trị, mỗi 2 tuần cho 3 tháng điều trị đầu và sau đó là đo hàng tháng. Huyết áp, kali huyết thanh và khả năng giữ nước nên được theo dõi hàng tháng. Tuy nhiên, những bệnh nhân có nguy cơ suy tim xung huyết rõ rệt nên được theo dõi mỗi 2 tuần cho 3 tháng đầu điều trị và hàng tháng sau đó.
Với những bệnh nhân có tiền sử hạ kali máu hoặc hạ kali máu đang tiến triển trong khi điều trị với abirateron, phải theo dõi duy trì nồng độ kali của bệnh nhân >4.0 mM.
Với những bệnh nhân biểu hiện độc tính cấp độ > 3 bao gồm tăng huyết áp, hạ kali huyết, phù nề và các độc tính non-mineralocorticoid khác, không chỉ định điều trị và nên thiết lập một sự quản lý y khoa thích hợp. Không nên bắt đầu điều trị lại bằng abirateron cho đến khi những triệu chứng độc tính được đưa về cấp độ 1 hoặc về giá trị cơ bản.
Trong trường hợp có ngày quên uống một trong 2 thuốc abirateron, prednison hoặc prednisolon, hôm sau vẫn uống với liều bình thường.
Độc tính trên gan
Với những bệnh nhân biểu hiện độc tính trên gan trong quá trình điều trị (tăng alanin aminotransferase [ALT] hoặc tăng aspartat aminotransferase [AST] trên 5 lần so với giới hạn trên của mức bình thường [ULN], nên ngừng ngay lập tức việc điều trị. Điều trị trở lại sau đó khi các thử nghiệm chức năng gan trở về giá trị cơ bản của bệnh nhân với liều giảm còn 500 mg (2 viên) một lần mỗi ngày. Với bệnh nhân đang được điều trị lại, transaminase nên được theo dõi tối thiểu mỗi 2 tuần trong 3 tháng đầu và mỗi tháng sau đó. Nếu độc tính trên gan xảy ra lại ở liều giảm 500 mg/ ngày, nên ngưng điều trị.
Với những bệnh nhân biểu hiện độc tính gan dữ dội (ALT hoặc AST cao 20 lần so với giới hạn trên của mức bình thường) vào bất cứ khi nào trong khi điều trị, nên ngưng điều trị và không nên tái điều trị.
Suy gan
Không điều chỉnh liều trên bệnh nhân có tiền sử suy gan nhẹ, Child-Pugh cấp A.
Suy gan trung bình (Child-Pugh cấp B) cho thấy sự tăng tiếp xúc của cơ thể với abirateron khoảng 4 lần sau khi uống liều đơn abirateron acetat 1000 mg. Không có dữ liệu lâm sàng về mặt an toàn hoặc hiệu quả của liều đa abirateron acetat khi sử dụng cho bệnh nhân suy gan trung bình hoặc nặng (Child-Pugh cấp B hoặc C). Có thể dự đoán không cần điều chỉnh liều. Việc sử dụng abirateron nên được đánh giá cẩn thận trên những bệnh nhân suy gan trung bình, những người mà lợi ích điều trị vượt trội rõ ràng hơn nguy cơ. Không nên sử dụng abirateron cho bệnh nhân suy gan nặng.
Suy thận
Không điều chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận. Tuy nhiên, chưa có kinh nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến và suy thận nặng. Thận trọng trên những bệnh nhân này.
Trẻ em
Không thích hợp sử dụng abirateron cho nhóm trẻ em.
4.3. Chống chỉ định:
Nhạy cảm với hoạt chất hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
Phụ nữ mang thai hoặc có khả năng mang thai.
Suy gan nặng [Child-Pugh cấp C].
4.4. Thận trọng:
Tăng huyết áp, hạ kali huyết, giữ nước và suy tim liên quan đến tăng quá mức mineralcorticoid
Abirateron có thể gây tăng huyết áp, hạ kali huyết và giữ nước như là hậu quả của sự tăng nồng độ mineralocorticoid từ sự ức chế CYP17. Sử dụng phối hợp với một corticosteroid sẽ ngăn cản sự tiết hormon adrenocorticotropic (ACTH), dẫn đến giảm tác dụng và làm trầm trọng thêm những phản ứng bất lợi này. Cẩn thận trọng khi điều trị cho những bệnh nhân mà vấn đề về y khoa của họ có y hại bởi sự tăng huyết áp, hạ kali huyết (ví dụ như đang điều trị thuốc trợ tim glycosid), hoặc giữ nước (ví dụ bệnh nhân suy tim), làm trầm trọng hoặc không hồi phục cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim gần hoặc loạn nhịp thất và những bệnh nhân suy thận nặng.
Abirateron nên được dùng thận trọng trên bệnh nhân có vấn đề về tim mạch. Các nghiên cứu pha 3 đã thực hiện với abirateron loại trừ những bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát, bệnh tim lâm sàng rõ rệt có bằng chứng nhồi máu cơ tim, hoặc huyết khối động mạch trong 6 tháng trước, cơn đau thắt ngực dữ dội và không hồi phục, hoặc suy tim cấp độ III hoặc IV theo phân loại của Hiệp hội tim mạch New York NYHA(nghiên cứu 301) hoặc suy tim cấp độ từ II đến IV (nghiên cứu 302), hoặc số đo phân suất tống máu của tim <50%. Trong nghiên cứu 302, những bệnh nhân rung nhĩ, hoặc loạn nhịp tim cần điều trị được loại trừ. Độ an toàn trên bệnh nhân có phần suất tống máu của tâm thất trái (LVEF) < 50% hoặc suy tim cấp độ III hoặc IV theo NYHA (trong nghiên cứu 302) hoặc suy tim cấp độ từ II đến IV theo NYHA (trong nghiên cứu 302) thì không được thiết lập.
Trước khi điều trị cho những bệnh nhân có nguy cơ đáng chú ý về suy tim xung huyết (ví dụ như tiền sử suy tim, tăng huyết áp không kiểm soát, hoặc các triệu chứng tim trên tim như thiếu máu cơ tim), cần xem xét đến việc có được một đánh giá chức năng tim (như siêu âm tim). Trước khi điều trị bằng abirateron, bệnh nhân suy tim nên được điều trị và chức năng tim là tối ưu. Tăng huyết áp, hạ kali huyết và giữ nước nên được điều trị và kiểm soát. Trong quá trình điều trị, huyết áp, kali huyết thanh, giữ nước (tăng cân, phù ngoại biên), và các dấu hiệu và triệu chứng khác của suy tim xung huyết phải được theo dõi mỗi 2 tuần trong 3 tháng, sau đó theo dõi mỗi tháng và những bất thường phải được điều trị. Kéo dài khoảng QT nên được theo dõi trên những bệnh nhân có tiền sử hạ kali huyết kết hợp điều trị với abirateron. Đánh giá chức năng tim như là một chỉ định lâm sàng, thiết lập một sự quản lý phù hợp và xem xét khả năng ngưng điều trị nếu có một sự suy giảm lâm sàng đáng chú ý trên chức năng tim.
Độc tính trên gan và suy gan
Việc tăng cao các enzymegan dẫn đến ngưng điều trị hoặc điều chỉnh liều xảy ra phải có những nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát. Nồng độ transaminase huyết thanh nên được đo trước khi bắt đầu điều trị, mỗi 2 tuần trong 3 tháng đầu tiên, và hàng tháng sau đó. Nếu những triệu chứng lâm sàng hoặc có dấu hiệu gợi ý nhiễm độc gan phát triển, nồng độ transaminase phải được đo ngay lập tức. Nếu bất kỳ lúc nào, ALT hoặc AST tăng trên 5 lần giới hạn trên của mức bình thường, việc điều trị phải dùng ngay lập tức và theo dõi chặt chẽ chức năng gan. Việc tái điều trị với liều giảm có thể xảy ra chỉ khi nào các thử nghiệm chức năng gan trở về giá trị cơ bản của bệnh nhân.
Nếu bệnh nhân phát triển độc tính trên gan dữ dội (ALT hoặc AST cao 20 lần so với giới hạn trên của mức bình thường) bất cứ khi nào trong quá trình điều trị, ngưng điều trị và không tái điều trị.
Những bệnh nhân viêm gan do virus dạng hoạt động hoặc dạng có triệu chứng bị loại trừ khỏi các thử nghiệm lâm sàng, vì vậy không có dữ liệu hỗ trợ cho việc sử dụng abirateron trên nhóm này.
Không có dữ liệu an toàn và hiệu quả về mặt lâm sàng của việc sử dụng liều đa abirateron acetat khi điều trị cho các bệnh nhân suy gan trung bình và nặng (Child-Pugh cấp B hoặc C). Việc sử dụng abirateron nên được đánh giá cẩn thận trên những bệnh nhân suy gan trung bình, những người mà lợi ích điều trị vượt trội rõ ràng hơn nguy cơ. Không nên sử dụng abirateron cho bệnh nhân suy gan nặng.
Có những báo cáo hiếm sau khi đưa thuốc ra thị trường về suy gan cấp và viêm gan tối cấp, một số có tử vong.
Sự ngừng corticosteroid và phạm vi các tình trạng stress
Khuyến cáo nên thận trọng và theo dõi suy vỏ thượng thận có thể xảy ra nếu bệnh nhân ngừng sử dụng prednison hoặc prenisolon. Nếu abirateron được tiếp tục sử dụng sau khi ngưng corticosteroid, bệnh nhân cần được theo dõi các triệu chứng do tăng mineralcorticoid quá mức.
Trên những bệnh nhân có dùng prednison hoặc prenisolon phải chịu stress bất thường, liều tăng corticosteroid có thể đã được chỉ định trước đó, trong khi hoặc sau tình trạng stress.
Mật độ xương
Sự giảm mật độ xương có thể xảy ra trên những người ung thư tiền liệt tuyến di căn tiến triển (ung thư tiền liệt tuyến đề kháng với liệu pháp loại bỏ hormon sinh dục nam). Việc sử dụng abirateron phối hợp với glucocorticoid có thể làm tăng phản ứng phụ này.
Việc sử dụng ketoconazole trước đó
Tốc độ đáp ứng thấp hơn có thể được dự kiến trên những bệnh nhân đã được điều trị trước với ketoconazol cho bệnh ung thư tiền liệt tuyến .
Tăng đường huyết
Sử dụng glucocorticoid có thể làm tăng đường huyết, vì vậy lượng đường huyết nên được đo thường xuyên trên bệnh nhân đái tháo đường.
Việc sử dụng cùng với hóa trị
Tính an toàn và hiệu quả của việc dùng abirateron đồng thời với hóa trị liệu gây độc tế bào chưa được thiết lập.
Nguy cơ tiềm ẩn
Thiếu máu và rối loạn chức năng tình dục có thể xảy ra trên những người đàn ông bệnh ung thư tiền liệt tuyến di căn đề kháng với liệu pháp loại bỏ hormon sinh dục nam đang điều trị bằng abirateron.
Các ảnh hưởng trên cơ xương
Các ca bệnh cơ xương đã được báo cáo trên những bệnh nhân được điều trị bằng abirateron. Vài bệnh nhân có globin cơ niệu kịch phát (rhabdomyolysis) với suy thận. Hầu hết các trường hợp phát triển trong tháng đầu tiên điều trị và tái điều trị sau khi ngưng abirateron. Khuyến cáo nên thận trọng trên những bệnh nhân được điều trị phối hợp với những thuốc được biết có liên quan đến bệnh cơ globin cơ niệu kịch phát.
Tương tác với các thuốc khác
Tránh sử dụng những thuốc cảm ứng mạnh với CYP3A4 trong quá trình điều trị ngoại trừ không còn chọn lựa điều trị khác, do nguy cơ giảm tiếp xúc với abirateron.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Abirateron không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
4.5. Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
Abirateron không dùng cho phụ nữ và chống chỉ định cho phụ nữ mang thai hoặc có thể có khả năng mang thai.
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản
Không có dữ liệu trên người đối với việc sử dụng abirateron trong thai kỳ và thuốc này không sử dụng cho phụ nữ độ tuổi sinh sản.
Tránh thai trên nam và nữ giới
Không biết abirateron hoặc sản phẩm chuyển hóa của nó có hiện diện trong tinh dịch không. Cần sử dụng bao cao su nếu bệnh nhân có hoạt động tình dục với phụ nữ mang thai. Nếu bệnh nhân có hoạt động tình dục với phụ nữ độ tuổi sinh sản, cần sử dụng bao cao su kết hợp với biện pháp tránh thai hiệu quả. Nghiên cứu trên động vật cho thấy có độc tính sinh sản.
Khả năng sinh sản:
Abirateron có ảnh hưởng lên khả năng sinh sản của chuột đực và cái, nhưng những hiệu quả này không thuận nghịch hoàn toàn.
Thời kỳ cho con bú:
Abirateron không dùng cho phụ nữ.
4.6. Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tóm tắt hồ sơ an toàn
Phần lớn các phản ứng không mong muốn xuất hiện là phù ngoại biên, hạ kali huyết, tăng huyết áp và nhiễm trùng đường tiết niệu. Các phản ứng bất lợi quan trọng khác bao gồm các rối loạn về tim, độc tính trên gan, gãy xương, và viêm phổi dị ứng.
Abirateron có thể gây tăng huyết áp, hạ kali huyết và giữ nước như là hệ quả dược lực của cơ chế tác động của nó. Trong những nghiên cứu lâm sàng, các phản ứng bất lợi về mineralocorticoid đã tiên liệu được thấy phổ biến hơn trên những bệnh nhân được điều trị bằng abirateron acetat so với những bệnh nhân dùng giả dược: hạ kali huyết 21% so với 11%, tăng huyết áp 16% so với 11% và giữ nước (phù ngoại biên) 26% so với 20%. Trên những bệnh nhân được điều trị bằng abirateron acetat, hạ kali huyết cấp 3 và 4 theo tiêu chuẩn CTCAE (phiên bản 3.0), và tăng huyết áp theo tiêu chuẩn CTCAE (phiên bản 3.0) cấp 3 và 4 được theo dõi tương ứng trên 4% và 2% bệnh nhân. Các phản ứng mineralocorticoid, một cách khái quát, có thể được kiểm soát thành công về mặt y khoa.
Việc sử dụng đồng thời một chất thuộc nhóm corticosteroid làm giảm tác động và mức độ nghiêm trọng của các phản ứng bất lợi này.
Bảng tóm tắt các phản ứng không mong muốn
Những nghiên cứu trên các bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến tiến triển có di căn đang sử dụng chất tương tự hormon giải phóng lutropin (LHRH), hoặc đã cắt bỏ tinh hoàn, dùng abiraterol liều 1000 mg/ ngày phối hợp với liều thấp prednison hoặc prednisolon (10 mg/ ngày).
Các phản ứng bất lợi đã theo dõi trong nghiên cứu lâm sàng và kinh nghiệm sau khi đưa ra thị trường được liệt kê dưới đây theo phân loại tần số. Các phân loại tần số được xác định như sau: rất thường gặp (>1/10), thường gặp (> 1/100 đến < 1/10), không thường gặp (> 1/1,000 đến < 1/100), hiếm gặp (> 1/10,000 đến < 1/1,000), rất hiếm gặp (< 1/10,000) và không được biết (tần số xuất hiện không được đánh giá từ các dữ liệu có sẵn). Trong mỗi nhóm tần số, các tác động không mong muốn được thể hiện trong thứ tự giảm dần mức độ nghiêm trọng.
Bảng 1: Các phản ứng không mong muốn được xác định trong nghiên cứu lâm sàng và sau khi đưa ra thị trường
| Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng | rất phổ biến: nhiễm trùng đường tiết niệu
phổ biến: nhiễm trùng huyết |
| Rối loạn nội tiết | không phổ biến: suy tuyến thượng thận |
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | rất phổ biến: hạ kali máu
phổ biến: tăng glycerid máu |
| Rối loạn tim | phổ biến: suy tim*, đau thắt ngực, loạn nhịp tim, rung nhĩ, mạch nhanh
không rõ: nhồi máu cơ tim, kéo dài khoảng QT |
| Rối loạn mạch máu | rất phổ biến: tăng huyết áp |
| Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất | hiếm: viêm phế nang dị ứnga |
| Rối loạn đường tiêu hóa | rất phổ biến: tiêu chảy
phổ biến: khó tiêu |
| Rối loạn gan mật | phổ biến: tăng alanin aminotransferase, tăng aspartat aminotransferase |
| Rối loạn da và mô dưới da | phổ biến: phát ban |
| Rối loạn cơ xương và mô liên kết | không phổ biến: bệnh cơ, tiêu cơ vân |
| Rối loạn thận và tiết niệu | phổ biến: tiểu máu |
| Rối loạn toàn thân và tình trạng nơi dùng thuốc | rất phổ biến: phù nề ngoại biên |
| Chấn thương, ngộ độc và biến chứng khi điều trị | phổ biến: gãy xương** |
| * Suy tim cũng bao gồm cả suy tim sung huyết, rối loạn chức năng thất trái và phân suất tống máu giảm.
** Gãy xương bao gồm mọl loại gãy trừ gãy xương bệnh lý a Các báo cáo tự phát từ dữ liệu hậu mãi |
|
* Suy tim cũng bao gồm cả suy tim sung huyết, rối loạn chức năng thất trái và phân suất tống máu giảm
** Gãy xương bao gồm mọl loại gãy trừ gãy xương bệnh lý
a Các báo cáo tự phát từ kinh nghiệm sau khi đưa ra thị trường.
Các phản ứng bất lợi cấp 3 theo CTCAE (phiên bản 3.0) sau đây đã xảy ra trên bệnh nhân được điều trị bằng abirateron acetat: hạ kali huyết 3%; nhiễm trùng đường tiết niệu, tăng alanine aminotransferase, tăng huyết áp, tăng aspartate aminotransferase, gãy xương 2%, phù ngoại biên, suy tim, và rung tâm nhĩ 1% cho mỗi loại. Tăng triglycerid máu và đau thắt ngực cấp 3 theo CTCAE (phiên bản 3.0) xảy ra trên < 1% bệnh nhân. Phù ngoại biên, hạ kali huyết, nhiễm trùng đường tiết niệu, suy tim và gãy xương cấp 4 theo CTCAE (phiên bản 3.0) xảy ra trên < 1% bệnh nhân.
*Mô tả về các phản ứng bất lợi được lựa chọn
Các phản ứng tim mạch.
Cả 2 nghiên cứu pha 3 loại trừ những bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát, bệnh tim rõ rệt trên lâm sàng có bằng chứng nhồi máu cơ tim, hoặc huyết khối động mạch trong 6 tháng trước, cơn đau thắt ngực dữ dội và không hồi phục, hoặc suy tim cấp độ III hoặc IV theo phân loại của Hiệp hội tim mạch New York NYHA(nghiên cứu 301) hoặc suy tim cấp độ từ II đến IV (nghiên cứu 302), hoặc số đo phân suất tống máu của tim < 50%. Tất cả bệnh nhân tham gia (cả bệnh nhân được điều trị bằng hoạt chất và giả dược) được điều trị đồng thời bằng giải pháp loại bỏ androgen, chủ yếu bằng cách sử dụng chất tương tự LHRH, mà việc sử dụng này có liên quan đến đái tháo đường, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não và đột tử do tim. Phạm vi ảnh hưởng của các phản ứng bất lợi lên tim mạch trong các nghiên cứu pha 3 trên những bệnh nhân có uống abirateron so với những bệnh nhân dùng gia được như sau: tăng huyết áp 14.5% so với 10.5%, rung tâm nhĩ 3.4% so với 3.4%, nhịp tim nhanh 2.8% so với 1.7%, đau thắt ngực 1.9% so với 0.9%, suy tim 1.9% so với 0.6%, và loạn nhịp tim 1.1% so với 0.4%.
Độc tính trên gan
Độc tính trên gan có ALT cao, aspartat transaminase (AST) và bilirubin toàn phần được báo cáo trên những bệnh nhân được điều trị bằng abirateron acetat. Qua tất cả những nghiên cứu lâm sàng, mức độ cao trong các thử nghiệm chức năng gan (ALT hoặc AST tăng > 5 x ULN hoặc bilirubin tăng > 1.5 x ULN) được báo cáo trên khoảng 4% bệnh nhân có dùng abirateron acetat, tiêu biểu trong 3 tháng đầu sau khi bắt đầu điều trị. Trong nghiên cứu lâm sàng 301, những bệnh nhân có giá trị cơ bản ALT hoặc AST đã cao thì có nhiều khả năng có mức cao trong các thử nghiệm chức năng gan hơn là những người bắt đầu với giá trị bình thường. Khi múc cao của hoặc là ALT hoặc AST > 5 x ULN, hoặc mức cao của bilirubin > 3 x ULN đã được theo dõi, không chỉ định điều trị bằng abirateron acetat hoặc ngưng điều trị. Trong 2 trường hợp đã đánh dấu, có tăng thêm các thử nghiệm chức năng gan. Hai bệnh nhân này có giá trị cơ bản chức năng gan bình thường, đã tăng mức cao ALT hoặc AST từ 15 lên 40 x ULN và mức cao bilirubin từ 2 lên 6 x ULN. Nhờ ngưng điều trị, cả hai bệnh nhân đã trở lại bình thường trong các thử nghiệm chức năng gan của họ và một bệnh nhân đã tái điều trị mà không xảy ra tăng. Trong nghiên cứu AST lên cấp 3 hoặc 4 đã theo dõi trên 35 bệnh nhân (chiếm 6.5%) được điều trị bằng abirateron acetat. Mức cao aminotransferase đã được giải quyết cho tất cả bệnh nhân trừ 3 bệnh nhân (2 người có nhiều các di căn gan mới và 1 người có mức cao AST khoảng 3 tuần sau khi dùng liều cuối abirateron acetat). Việc ngưng điều trị liên quan đến tăng ALT và AST đã được báo cáo trong 1.7% và 1.3% bệnh nhân được điều trị bằng abirateron acetat và 0.2% và 0% bệnh nhân được dùng giả dược, một cách tương ứng. Không có báo cáo tử vong liên quan đến các trường hợp độc tính trên gan.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, nguy cơ về độc tính trên gan đã được giảm nhẹ bằng cách loại trừ những bệnh nhân viêm gan có giá trị cơ bản hoặc có bất thường đáng kể trong các thử nghiệm chức năng gan. Trong thử nghiệm 301, những bệnh nhân có giá trị cơ bản ALT và AST > 2.5 x ULN không có di căn gan và > 5 x ULN có di căn gan bị loại trừ. Trong thử nghiệm 302, những bệnh nhân có di căn gan không được chọn và những bệnh nhân có giá trị cơ bản ALT và AST > 2.5 x ULN bị loại trừ. Những thử nghiệm bất thường chức năng gan thực hiện trên những bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng được theo dõi chặt chẽ bằng cách ngưng điều trị và tái điều trị chỉ sau khi các thử nghiệm chức năng gan trở về giá trị cơ bản của bệnh nhân. Những bệnh nhân có mức cao ALT hoặc AST > 20 x ULN không chỉ định tái điều trị. Tính an toàn của việc tái điều trị trên những bệnh nhân này không được biết. Cơ chế của độc tính trên gan không được hiểu rõ.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7. Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8. Tương tác với các thuốc khác:
Ảnh hưởng của thức ăn
Việc dùng thuốc cùng với thức ăn làm gia tăng đáng kể việc hấp thu abirateron acetat. Hiệu quả và an toàn khi dùng chung với thức ăn chưa được thiết lập do đó thuốc này không được dùng cùng với thức ăn.
Tương tác với các thuốc khác
Tiềm ẩn ảnh hưởng của các thuốc khác đến abirateron
Trong một nghiên cứu tương tác dược động học lâm sàng trên những đối tượng khỏe mạnh đã được điều trị trước đó bằng rifampicin cảm ứng CYP3A4 mạnh, 600 mg/ngày trong 6 ngày, sau đó dùng một liều đơn abirateron acetat 1000 mg, AUCp plasma trung bình của abirateron đã giảm 55%.
Nên tránh dùng những thuốc cảm ứng mạnh CYP3A4 (như phenytoin, carbamazepin, rifampicin, rifabutin, rifapentin, phenobarbital, St John’s wort [Hypericum perforatum]) trong quá trình điều trị, ngoại trừ không còn chọn lựa điều trị nào khác. .
Trong một nghiên cứu tương tác dược động học lâm sàng riêng rẽ trên những đối tượng khỏe mạnh, phối hợp với ketoconazol, một chất ức chế CYP3A4 mạnh, không cho thấy có ảnh hưởng lâm sàng có ý nghĩa trên dược động học của abirateron.
Tiềm ẩn ảnh hưởng với các thuốc khác
Abirateron là một chất ức chế các enzym chuyển hóa thuốc tại gan CYP2D6 và CYP2C8. Trong một nghiên cứu để xác định hiệu quả của abirateron acetat (kết hợp với prednison) lên liều đơn của một cơ chất CYP2D6 là dextromethorphan, AUC của dextromethorphan đã tăng lên khoảng 2.9 lần. AUC24 cho dextrorphan, một chất chuyển hóa có hoạt tính của dextromethorphan, tăng lên khoảng 33%.
Khuyến cáo nên thận trọng khi sử dụng cùng với các thuốc được hoạt hóa hoặc được chuyển hóa bơi CYP2D6, đặc biệt với các thuốc có chỉ số điều trị (therapeutic index) hẹp. Nên xem xét giảm liều các thuốc có chỉ số điều trị hợp được chuyển hóa bởi CYP2D6. Ví dụ các thuốc được chuyển hóa bởi CYP2D6 gồm metoprolol, propranolol, desipramin, venlaraxin, haloperidol, risperidon, propafenon, flecainid, codein, oxycodon và tramadol (3 thuốc sau cùng cần CYP2D6 để tạo chất chuyển hóa có hoạt tính giảm đau).
Trong một thử nghiệm tương tác thuốc-thuốc CYP2C8 trên những đối tượng khỏe mạnh, AUC của pioglitazon đã tăng 46% và các AUC cho M-III và M-IV, là các chất chuyển hoá có hoạt tính của pioglitazon, mỗi AUC tăng 10% khi pioglitazon được dùng cùng với một liều đơn abirateron acetat 1000 mg. Mặc dù những kết quả này cho thấy không tăng việc tiếp xúc có ý nghĩa về mặt lâm sàng được dự đoán khi abirateron phối hợp với những thuốc được thải trừ chủ yếu bởi CYP2C8, bệnh nhân vẫn nên được theo dõi các dấu hiệu độc tính liên quan đến cơ chất CYP2C8 có chỉ số điều trị hẹp nếu sử dụng đồng thời, In vitro, các chất chuyển hóa chủ yếu của abirateron sulphat và N-oxide abirateron sulphat biểu hiện có ngăn cản chất vận chuyển hấp thu của gan OATP1B1 và như là một hệ quả, nó có thể gây tăng nồng độ của các thuốc được thải trừ bởi OATP1B1. Không có dữ liệu lâm sàng có sẵn để khẳng định chất vận chuyển dựa trên sự tương tác.
Sử dụng cùng với các thuốc được biết làm kéo dài khoảng QT
Vì việc điều trị loại bỏ androgen có thể kéo dài khoảng QT, khuyến cáo nên thận trọng khi sử dụng abirateron cùng với các thuốc được biết có kéo dài khoảng QT hoặc các thuốc có khả năng gây xoắn đỉnh cấp độ IA (ví dụ như quinidin, disopyramid) hoặc cấp độ III (ví dụ như amiodaron, sotalol, dofetilid, ibutilid), thuốc chống loạn nhịp tim, methadon, moxifloxacin, antipsychotics, vv.
Sử dụng cùng với Spironolacton
Spironolacton liên kết với thụ thể androgen và có thể làm tăng nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tiến liệt tuyến (PSA). Việc sử dụng với abirateron không được đề nghị.
4.9. Quá liều và xử trí:
Kinh nghiệm về việc dùng quá liều abirateron trên người bị giới hạn.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Trong trường hợp quá liều, ngưng sử dụng và các biện pháp hỗ trợ chung được thực hiện, bao gồm theo dõi loạn nhịp tim, hạ kali huyết và các dấu hiệu và triệu chúng giữ nước. Chức năng gan cũng nên được đánh giá.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Cơ chế tác dụng:
Abirateron acetat được chuyển hóa in vivo thành abirateron, một chất ức chế sinh tổng hợp androgen. Abirateron ức chế chọn lọc enzym 17a-hydroxylase/C17, 20-lyase (CYP17). Enzym này cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp androgen tại tinh hoàn, tuyến thượng thận và các mô khối u tuyến tiền liệt. CYP17 xúc tác sự chuyển hóa pregnenolon và progesteron thành tiền chất của testosteron, DHEA và androstenedion, tương ứng bằng cách 17a-hydroxyl hóa và phân cắt liên kết C17, 20. Chất ức chế CYP17 cũng dẫn đến tăng sản xuất mineralocorticoid bởi tuyến thượng thận.
Ung thư biểu mô tiền liệt tuyến nhạy cảm androgen đáp ứng với các liệu pháp làm giảm nồng độ androgen. Các liệu pháp loại trừ androgen, như điều trị bằng chất tương tự LHRH hoặc phẫu thuật cắt bo tinh hoàn, làm giảm việc sản xuất androgen trong tinh hoàn nhưng không ảnh hưởng đến việc sản xuất androgen bởi tuyến thượng thận hay trong các khối u. Điều trị bằng abirateron làm giảm testosteron huyết thanh đến mức không phát hiện khi dùng cùng với chất tương tự LHRH (hoặc cắt bỏ tinh hoàn).
Abirateron làm giảm testosteron huyết thanh và các androgen khác đến mức thấp hơn mức đạt được khi dùng đơn độc chất tương tự LHRH hoặc cắt bỏ tinh hoàn. Các kết quả này là do sự ức chế chọn lọc enzym CYP17 cần cho sinh tổng hợp androgen. Kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) hoạt động như một chất đánh dấu sinh học trên bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến. Trong một nghiên cứu lâm sàng pha 3 trên những bệnh nhân đã thất bại với hóa trị bằng taxan trước đó, 38% bệnh nhận được điều trị bằng abirateron acetat, so với 10% bệnh nhân dùng giả dược, có ít nhất một sự suy giảm 50% mức PSA so với giá trị cơ bản.
Cơ chế tác dụng:
Trên in vivo, abirateron acetat được chuyển hóa thành abirateron, một chất ức chế sinh tổng hợp androgen. Cụ thể, abirateron ức chế chọn lọc men 17α-hydroxylase/C17,20-lyase (CYP17). Men này được bộc lộ trong và cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp androgen ở tinh hoàn, tuyến thượng thận và khối u mô tiền liệt tuyến. CYP17 xúc tác quá trình chuyển đổi pregnenolon và progesteron thành các tiền chất của testosteron, DHEA và androstenedion, tương ứng, bằng việc hydroxyl hóa vị trí 17α và chia cắt nối C17,20. Ức chế CYP17 cũng dẫn đến tăng sản xuất mineralocorticoid tại tuyến thượng thận.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Sau khi uống abirateron acetat, dược động của abirateron và abirateron acetat được nghiên cứu trên những đối tượng người khỏe mạnh, bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến tiến triển và di căn và các đối tượng không ung thu nhung có suy gan hoặc suy thận. In vivo, abirateron acetat được chuyển hóa nhanh chóng thành abirateron, một chất ức chế sinh tổng hợp androgen.
Hấp thu
Sau khi uống abirateron acetat trong tình trạng đói, thời gian để đạt đến nồng độ abirateron cao nhất trong huyết tương khoảng 2 giờ.
Việc sử dụng abirateron acetat cùng với thức ăn, so với sử dụng lúc bụng đói, làm tăng lên gấp 10 lần AUC và tăng lên đến 17 lần Cmax, làm tăng sự tiếp xúc trung bình của cơ thể với abirateron, tùy thuộc vào lượng chất béo của bữa ăn. Với những biến đổi bình thường về thành phần bữa ăn, sử dụng abirateron cùng với thức ăn có khả năng làm sự tiếp xúc biến thiên cao. Vì vậy, không được dùng abirateron với thức ăn. Nên uống thuốc ít nhất 2 giờ sau khi ăn và không ăn ít nhất 1 giờ sau khi uống thuốc. Viên thuốc được nuốt nguyên viên cùng với nước.
Phân bố
Sự gắn kết với protein huyết tương của C-abirateron trong huyết tương người là 99,8%. Thể tích phân.
Chuyển hóa
Sau khi uống ‘C-abirateron acetat dạng viên nang cứng, abirateron acetat được thủy phân hóa thành abirateron, chất này trải qua sự chuyển hóa bao gồm sulphat hóa, hydroxyl hóa và oxy hóa chủ yếu gan. Đa số hoạt độ phóng xạ trong tuần hoàn (khoảng 92%) được tìm thấy ở dạng các chất chuyển hóa của abirateron. Với 15 chất chuyển hóa có thể phát hiện, trong đó gồm 2 chất chuyển hóa chính: abirateron sulphat và N-oxide abirateron sulphat, mỗi chất hiện diện khoảng 43% trong tổng hoạt độ phóng xạ.
Thải trừ
Thời gian bán thải trung bình của abirateron trong huyết tương khoảng 15 giờ dựa trên dữ liệu nghiên cứu trên người khỏe mạnh. Sau khi uống 14C-abirateron acetat 1000 mg, khoảng 88% liều có hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong phân và khoảng 5% trong nước tiểu. Đa số những hợp chất được tìm thấy trong phần trong phân là abirateron acetat và abirateron dưới dạng không biến đối (tương ứng khoảng 55% và 22% liều dùng).
Bệnh nhân suy gan
Dược động học của aborateron acetat được khảo sát trên những người có tiền sử suy gan nhẹ hoặc trung bình (Child-Pugh cấp A và B) và trên người khỏe mạnh. Sự tiếp xúc của cơ thể với abirateron sau khi uống đơn liều 1000 mg tăng lên tương ứng khoảng 11% trên người suy gan nhẹ và 260% trên những người tiền sử suy gan mức độ trung bình. Thời gian bán hủy trung bình của abirateron được kéo dài khoảng 18 giờ trên những đối tượng suy gan nhẹ và khoảng 19 giờ trên những đối tượng suy gan trung bình.
Trong một thử nghiệm khác, dược động học của abirateron được khảo sát trên những người có tiền sử suy gan nặng (n=8)(Child-Pugh cấp C) và trên người khỏe mạnh với chức năng gan bình thường.
Sự tiếp xúc của cơ thể (AUC) với abirateron tăng lên khoảng 600% và phần thuốc tự do tăng 80% trên những người suy gan nặng với những người có chức năng gan bình thường.
Không điều chỉnh liều trên bệnh nhân có tiền sử suy gan nhẹ. Việc sử dụng abirateron nên được đánh giá cẩn thận những bệnh nhân suy gan trung bình, những người mà lợi ích điều trị vượt trội rõ ràng hơn nguy cơ. Không nên sử dụng abirateron cho bệnh nhân suy gan nặng.
Với những bệnh nhân phát triển độc tính trên gan trong khi điều trị, có thể yêu cầu ngưng điều trị và điều chỉnh liều.
Bệnh nhân suy thận
Dược động học của abirateron acetat được so sánh trên bệnh nhân có bệnh thận giai đoạn cuối theo một lịch trình chạy thận nhân tạo ổn định, so với các người có chức năng thận bình thường. Sự tiếp xúc của cơ thể với abirateron sau khi dùng đơn liều không tăng trên những đối tượng bệnh thận giai đoạn cuối có thâm tách. Không yêu cầu giảm liều khi dùng cho bệnh nhân suy thận, bao gồm cả suy thận nặng. Tuy nhiên, chưa có kinh nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến và suy thận nặng. Thận trọng trên những bệnh nhân này.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: lactose monohydrat, cellulose vi tinh thể, croscarmellose natri, povidon, natri lauryl sulfat, colloidal silicon dioxyd, magnesi stearat, opadry White OY-58900.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30°C. Tránh ánh sáng, tránh ẩm.
Để thuốc tránh xa tầm tay trẻ em.
6.4. Thông tin khác :
Chưa có thông tin.
6.5. Tài liệu tham khảo:
HDSD Thuốc Abiratred do công ty Dr. Reddy’s Laboratories Ltd. sản xuất (2019).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM