1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Etoposide
Phân loại: Thuốc chống ung thư (dẫn chất podophylotoxin)..
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01CB01.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: VP-Gen
Hãng sản xuất : Laboratorios IMA S.A.I.C.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Dung dịch đậm đặc để pha truyền tĩnh mạch: 100mg/5ml
Thuốc tiêm VP-GEN được đóng trong ống thuốc tiêm 5ml chứa 100 mg. Dung dịch trong suốt gần như không màu đến màu vàng, có pH từ 3-4
Thuốc tham khảo:
| VP-GEN | ||
| Mỗi lọ 5ml có chứa: | ||
| Etoposide | …………………………. | 100 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
VP-GEN được chỉ định trong kiểm soát các bệnh sau:
Khối u tinh hoàn khó trị: Thuốc được dùng phối hợp với các tác nhân hoá trị liệu được công nhận khác trên bệnh nhân bị khối u tỉnh hoàn khó chữa, đã được điều trị bằng các liệu pháp phẫu thuật, hoá trị liệu và xạ trị thích hợp.
Khối u phổi không tăng sảntếbào nhỏ: Thuốc dùng trong liệu pháp phối hợp với các tác nhân hoá trị liệu được công nhận khác trên bệnh nhân bị khối u phổi không tăng sẵn tế bào nhỏ.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
VP — GEN được dùng đường truyền tĩnh mạch chậm.
Không được tiêm tĩnh mạch nhanh!
Thuốc tiêm VP-GEN cần được pha loãng trước khi sử dụng với dung dịch Glucose 5% hoặc dung dịch Natri clorid tiêm 0,9% để được dung dịch có nồng độ cuối cùng là 0,2 – 0,4mg/ml. Nếu dung dịch có nồng độ lớn hơn 0,4 mg/ml có thể xuất hiện kết tủa.
Hạ huyết áp do truyền nhanh đã được báo cáo. Vì vậy khuyến cáo truyền tĩnh mạch với tốc độ 30 – 60 phút một lần truyền. Có thể truyền trong thời gian lâu hơn, nếu có lo lắng về lượng dịch được truyền. Không được tĩnh mạch nhanh VP-GEN.
Cần kiểm tra bằng cẩm quan về độ trong và màu sắc dung dịch trước khi sử dụng.
Các dụng cụ bằng chất dẻo được chế tạo từ acrylic họăc ABS (một polymer của acrylonitrile, butadien và styrene) đã được báo cáo rạn nứt hoặc rò gỉ khi dùng với thuốc tiêm Etoposide không pha loãng.
Hướng dẫn đề phòng:
Cũng như các chất có khả năng gây độc khác, phải thận trọng khi tiếp xúc và thao tác với , dung dịch VP-GEN. Phản ứng dị ứng da do tiếp xúc với VP-GEN có thể xảy ra. Khuyến cáo dùng găng tay khi tiếp xúc với VP-GEN. Nếu dung dịch VP-GEN tiếp xúc với da hoặc niêm mạc, cần rửa da ngay lập tức bằng xà phòng và xả nước, rửa niêm mạc bằng nước.
Liều dùng:
Điều trị ung thư tnh hoàn: Liều thông thường của thuốc dùng phối hợp với các thuốc hóa trị liệu đã được công nhận khác là khoảng 50 – 100mg/m2/ngày dùng từ ngày 1 đến ngày thứ 5 hoặc 100 mg/m2/ ngày vào các ngày thứ 1, 3 và 5.
Điều trị ung thư phổi không tăng sản tế bào nhỏ: VP-GEN được dùng phối hợp với các hóa trị liệu đã được công nhận khác, liều dùng từ 35 mg/m2/ngày trong 4 ngày liền cho đến 50 mg/m2/ngày, trong 5 ngày liền.
Đợt điều trị sau khoảng 3 – 4 tuần sau khi cơ thể đã hồi phục đầy đủ do độc tính của thuốc.
Trường hợp suy thận: Liều khởi đầu cần được hiệu chỉnh theo độ thanh thải creatinin
| Độ thanh thải creatinin | > 50ml/ phút | 15-50ml/ phút |
| Etoposide | 100% liều | 75% liều |
4.3. Chống chỉ định:
Chống chỉ định cho những người có tiền sử mẫn cảm với thuốc hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
Không được dùng etoposide trong trường hợp suy tủy xương nhất là sau khi điều trị bằng tia xạ hay hóa trị liệu, trong trường hợp suy thận.
Không được tiêm etoposide vào các khoang hốc vì thường gây tử vong.
4.4 Thận trọng:
Chú ý chung
Tất cả các trường hợp sử dụng etoposide đều được coi là hóa trị liệu. Các thầy thuốc phải đánh giá sự cần thiết và lợi ích của việc dùng thuốc so với nguy cơ xẩy ra các tác dụng không mong muốn của thuốc.
Hầu hết các tác dụng phụ đều có thể phục hồi nếu được phát hiện sớm. Nếu xảy ra phản ứng trầm trọng, nên giảm liều hoặc ngưng thuốc và thực hiện các biện pháp điều trị tuỳ theo đánh giá của bác sỹ. Khi dùng etoposide trở lại nên cẩn thận và xem xét cân nhắc giữa nhu cầu dùng thuốc và nguy cơ có thể tái xuất hiện độc tính.
Độc tính của etoposide có thể tăng ở những những bệnh nhân có nồng độ albumin trong huyết thanh thấp.
Suy tủy
Bệnh nhân được điều trị với VP-GEN cần được theo dõi chặt chẽ và thường xuyên về dấu hiệu suy tuỷ cả trong và sau quá trình điều trị.
Suy tuỷ dẫn đến tử vong đã được báo cáo. Suy tuỷ có liên quan đến liều dùng là độc tính đáng kể nhất khi điều trị bằng etoposide. Do đó, phải thực hiện một số xét nghiệm trước khi trị liệu và trước mỗi liều VP-GEN kế tiếp: đếm tiểu cầu, hemoglobin, bạch cầu và các thành phần khác. Khi số tiểu cầu đưới 50.000/mnì hay số bạch cầu trung tính tuyệt đối dưới 500/ mm2 phải ngưng sử dụng thuốcchotới khi các tế bào máu được phục hồi đầy đủ.
Bác sỹ nên biết rõ tai biến có thể xảy ra của phản ứng phản vệ biểu hiện qua các triệu chứng như: lạnh run, sốt, tim đập nhanh, khó thở, tụt huyết áp. Tần số gặp sốc phản vệ xảy ra thường xuyên hơn ở những trẻ em được truyền thuốc ở nồng độ cao hơn nồng độ khuyên cáo . Nồng độ thuốc (hoặc tốc độ truyền thuốc) đóng vài trò làm tăng nguy cơ sốc phản vệ vẫn chưa được xác định chắc chắn
Xử lý bằng cách điều trị triệu chứng. Nên ngưng truyền thuốc ngay lập tức, và sau đó dùng các tác nhân làm tăng huyết áp, corticosteroid, kháng histamin, hoặc tăng thể tích lưu thông, tuỳ theo ý kiến của bác sỹ.
Đối với dung dịch gốc etoposide cần được truyền nh mạch chậm (thời gian 1 lần truyền thường là 30 – 60 phút), vì tụt huyết áp đã được báo cáo như là một tác dụng phụ có thể xảy ra khi truyền tĩnh mạch nhanh.
Các xét nghiệm
Nên thực hiện kiểm tra định kỳ huyết đồ trong quá trình sử dụng VP-GEN. Nên làm xét nghiệm này trước khi điều trị và trong những thời điểm thích hợp trong khi điều trị. Nên thực hiện ít nhất một lần trước mỗi liều VP-GEN.
Bệnh nhân suy thận: Phải điều chỉnh liều.
Khả năng gây ung thư, gây đột biến, suy giảm khả năng sinh sản
Etoposide đã cho thấy khả năng có thể gây đột biến trong phép định lượng Ames.
Tiêm phúc mạc etoposide với liều 1,5 mg/kg cho chuột nhắt Swiss – Albino vào ngày thứ 7 của thai kỳ làm gia tăng tỷ lệ chết trong tử cung, dị dạng thai và làm giảm đáng kể trọng lượng trung bình của thai nhi. Sự tăng cân ở chuột mẹ không bị ảnh hưởng.
Teo tinh hoàn không phục hồi đã xảy ra ở chuột công đực khi điều trị bằng etoposide đường tiêm tĩnh mạch trong 30 ngày với liều 0,5 mg/kg/ngày (khoảng 1/16 liều dùng trên người tính theo mg /m2).
Sử dụng thuốc trong nhi khoa
Độ an toàn và hiệu quả của thuốc đối với trẻ em vẫn chưa được đưa ra.
Etoposide có chứa polysorbat 80, ở trẻ sơ sinh, các hội chứng đe doạ đến tính mạng như suy giảm chức năng gan, thận, bệnh phổi, chứng giảm tiểu cầu, cổ chướng đã được báo cáo có liên quan đến việc sử dụng vitamin E tiêm chứa polysorbate 80.
Phản ứng phản vệ cũng đã được báo cáo ở trẻ em.
Các tác dụng gây giảm bạch cầu và/ hoặc giảm tiểu cầu của Etoposide có thể tăng lên khi dùng kết hợp hoặc vừa mới điều trị những thuốc có cùng tác dụng như thuốc gây suy tủy tia xạ trị liệu.
Khi dùng etoposide kết hợp với vàccin virus chết, đáp ứng tạo kháng thể của người bệnh đối với vàccin có thể bị giảm. Vì vậy nên tính toán dùng luân phiên các thuốc này từ 3 tháng đến 1 năm.
Khi dùng kết hợp với vàccin virus sống, có thể gây tăng sự sao chép của virus vàccin,làm tăng tác dụng phụ của vàccin và/ hoặc làm giảm đáp ứng kháng thể của người bệnh với vàccin. Vì vậy phải dùng các thuốc này cách xa nhau từ 3 tháng đến 1 năm.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Etoposide có thể gây buồn nôn và nôn. Thận trọng khi dùng thuốc cho người lái xe và vận hành máy móc
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Etoposide có thể gây hại tới thai nhi khi dùng cho phụ nữ mang thai. Etoposid đã cho thấy có gây quái thai trên chuột cống và chuột nhắt. Trên chuột cống, tiêm tĩnh mạch với liều 0,4 mg/kg/ngay (bằng khoảng 1/20 liều dùng trên người tính theo mg /m2) trong thời kỳ tạo cơ quan, đã gây ra các độc tính trên chuột mẹ, độc tính trên phôi và sinh quái thai (bất thường khung xương, quái thai lòi não, thoát vị não và tật không có nhãn cầu). Với liều cao hon 1, 2 và 3,6 mg/kg/ngày (bằng khoảng 1/7 và 1/2 liều dùng trên người tính theo mg /m2) dẫn đến 90 – 100% sự tiêu phôi. Ở chuột nhắt, được cho tiêm phúc mạc một liều đơn 1,0 mg/kg (bằng khoảng 1/16 liều dùng trên người tính theo mg /m2), cho thấy rõ ràng độc tính trên phổi, các bất thường về hộp sọ và đị dạng khung xương nặng. Tiêm phúc mạc với liều 1,5 mg/kg (bằng khoảng 1/10 liều dùng trên người tính theo mg /m2 ) vào ngày thứ 7 của thai kỳ làm gia tăng tỷ lệ chết trong tử cung, dị dạng thai và làm giảm đáng kể trọng lượng thai nhi trung bình.
Phụ nữ trong độ tuổi sinh để nên tránh mang thai trong thời gian điều trị. Nếu dùng thuốc trong khi mang thai hoặc nếu bệnh nhân mang thai trong khi đang dùng thuốc. Bệnh nhân nên được cảnh bảo về những nguy cơ có thể xảy ra đối với thai nhi.
Etoposide cũng được xem như tác nhân có thể gây ung thư ở người. Bệnh bạch cầu cấp có hay không có tiền bệnh bạch cầu đã được báo cáo ở một số hiếm bệnh nhân đựơc điều trị bằng etoposide đơn độc hoặc phối hợp với các tác nhân kháng ung thư khác. Nguy cơ tiến triển của hội chứng bạch cầu hoặc tiền bạch cầu là không rõ ràng. Các xét nghiệm về tính gây ung thư với etoposide vẫn chưa được tiến hành trên các động vật thí nghiệm.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa biết được ở người, thuốc có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Do rất nhiều thuốc được bài tiết vào sữa mẹ và do nguy cơ xẩy ra các tác dụng phụ trầm trọng từ etoposide cho trẻ còn bú, nên cân nhắc quyết định nên ngưng cho con bú hay ngưng thuốc có xem xét tầm quan trọng của thuốc đối với người mẹ.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các dữ liệu về phản ứng có hại sau được báo cáo với etoposide khi dùng đường uống và đường tiêm, dùng một liều hoặc nhiều liều khác nhau trong điều trị khối u ác tính.
Huyết học
Suy tuỷ thường phụ thuộc với liều lượng nhiều nhất, với giảm bạch cầu hạt, xuất hiện vào ngày thứ 7 đến 14 và giảm tiểu cầu vào ngày thứ 9 đến 16 sau khi dùng thuốc. Sự phục hồi tuỷ xương thường hoàn tất sau ngày thứ 20 và không có sự tích tụ độc tính được báo cáo.
Sốt và nhiễm trùng cũng được báo cáo ở những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính.Tử vong liên quan đến suy tuỷ đã được báo cáo.
Bệnh bạch cầu cấp có hay không có tiền bệnh bạch cầu đã được báo cáo ở một số hiếm bệnh nhân đựơc điều trị bằng etoposide đơn độc hoặc phối hợp với các tác nhân kháng ung thư khác.
Tiêu hoá
Buồn nôn và nôn là những độc tính nhiều nhất trên đường tiêu hoá. Thường xảy ra ở mức độ nhẹ đến vừa, chỉ khoảng 1% bệnh nhân cần phẩi ngưng điều trị. Nôn và buồn nôn có thể kiểm soát được bằng những liệu pháp chống nôn. Viêm niêm mạc / viêm thực quản mức độ vừa đến nặng cũng có thể xảy ra. Các độc tính trên đường tiêu hoá sau khi dùng thuốc bằng đường uống xảy ra thường xuyên hơn khi truyền tĩnh mạch.
Hạ huyết áp
Hạ huyết áp thoáng qua sau khi truyền tĩnh mạch nhanh đã được báo cáo với 1-2% bệnh nhân. Thuốc không gây độc với tim và không làm thay đổi điện tim. Để tránh sự cố hiếm gặp này, etoposide nên được tiêm tĩnh mạch chậm trong vòng 30 – 60 phút. Nếu bệnh nhân bị hạ huyết áp, phải ngừng truyền địch và bù dịch hoặc dùng các biện pháp điều trị hỗ trợ thích hợp khác. Khi truyền trở lại, phẩi truyền với tốc độ chậm.
Phản ứng dị ứng
Các phản ứng dạng phản vệ biểu hiện qua chứng Gn lạnh, sốt, tim đập nhanh, co thắt phế quản, khó thở và hạ huyết áp đã được ghi nhận xuất hiện trên 0,7 – 2% bệnh nhân truyền tĩnh mạch bằng etoposide và dưới 1% bệnh nhân điều trị bằng viên nang etoposide đường uống. Những phản ứng này thường đáp ứng ngay sau khi ngưng truyền và sau khi dùng các tác nhân tăng huyết áp, corticoid, kháng histamin hay tăng thể tích lưu thông nếu cần thiết. Tuy nhiên các phản ứng có thể rất trầm trọng.
Tăng huyết áp và/hoặc đổ bừng mặt cũng đã được báo cáo. Huyết áp thường được ổn định trong một vài giờ sau khi ngừng truyền. Các phản ứng dị ứng thường xảy ra trong giai đoạn đầu của quá trình truyền thuốc. Sưng mặt /lưỡi, ho, toát mồ hôi, tím tái, viêm họng, co thắt thanh quản, đau lưng, ngất đôi khi xảy ra liên quan đến những phản ứng trên. Ngoài ra, cũng hiếm gặp trường hợp mẫn cẩm gây ngừng thở.
Chứng phát ban, mề đay hoặc ngứa không thường xuyên xẩy ra ở liều sử dụng. ở liều thăm đò, ban đỏ, ngứa toàn thân, rát sần, viêm quanh mạch đã được báo cáo.
Chứng rụng tóc, rụng lông mày
Chứng rụng lông tóc có hồi phục, đôi khi tiến triển đến hói hoàn toàn đã được quan sát thấy trên khoảng 66% bệnh nhân.
Tác dụng phụ khác
Những tác dụng phụ sau được báo cáo không thường xuyên: Đau bụng, ợ chua, táo bón, khó nuột, suy nhược, mệt mỏi, phiền muộn, ngủ gà, rối loạn màu sắc, đau giây thần kinh thị giác, tràn dịch màng phổi, xơ hóa phối, sốt, động kinh (đôi khi liên quan đến những phản ứng dị ứng khác), hội chứng Steven — Johnson, xơ cứng biểu bì, nhiễm sắc tố, viêm da bức xạ, Độc với gan, thường xảy ra ở những bệnh nhân dùng liều cao hơn liều khuyến cáo. Nhiễm toan chuyển hóa cũng được báo cáo ở những bệnh nhân dùng liều cao hơn.
Những báo cáo về thóat mạch có sưng phù đã được đề cập trong báo cáo lưu hành. Hiếm khi sự thoát mạch có liên quan đến hoại tử và chai cứng tĩnh mạch.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Trường hợp hạ huyết áp: Ngừng truyền thuốc, truyền dịch và điều trị hỗ trợ khác sau đó bắt đầu truyền thuốc lại với tốc độ chậm hơn. Nếu có hiện tượng phản vệ phải ngừng truyền ngay và dùng các thuốc gây tăng huyết áp, adrenocorticoid, kháng histamin hay các chất làm tăng thể tích máu khi cần thiết.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Dùng cyclosporine liều cao dẫn đến nồng độ thuốc trong máu cao hơn 2000 mcg /ml, cùng với etoposide đường uống dẫn đến tăng nồng độ etoposide 80% và giảm thanh thải toàn phần của etoposide 38% so với khi dùng etoposide đơn độc.
Khi dùng etoposid kết hợp với vắc xin virus chết, đáp ứng tạo kháng thể của người bệnh đối với vắc xin có thể bị giảm. Vì vậy nên tính toán dùng cách nhau từ 3 tháng đến 1 năm.
Khi dùng kết hợp với vắc xin virus sống, có thể gây tăng sự sao chép của virus vắc xin, làm tăng các tác dụng phụ của vắc xin và/ hoặc làm giảm đáp ứng kháng thể của người bệnh với vắc xin. Vì vậy phải dùng các thuốc này cách xa nhau từ 3 tháng đến 1 năm. Ciclosporin liều cao gây tăng đáng kể nồng độ etoposid trong máu, làm nặng thêm tình trạng suy tủy do etoposid. Cần phải giảm liều etoposid khi dùng phối hợp.
Phenylbutazon, acid salicylic và natri salicylat có thể ảnh hưởng đến sự liên kết protein của etoposid. Nên thận trọng dùng etoposid phosphat với các thuốc như levàmisol hydroclorid vì các thuốc này ức chế hoạt tính của phosphatase, làm giảm thủy phân etoposid phosphat thành etoposid base.
Etoposid có thể làm tăng tác dụng của natalizumab, các chất đối kháng vitamin K. Các thuốc sau có thể làm tăng tác dụng của etoposid: Cyclosporin, các chất ức chế CYP3A4, dasatinib, các chất ức chế P-glycoprotein, trastuzumab.
Các thuốc sau có thể làm giảm tác dụng của etoposid: Các barbiturat, các chất gây tăng cảm ứng CYP3A4, deferasirox, echinacea, các chất gây tăng cảm ứng P-glycoprotein, phenytoin.
4.9 Quá liều và xử trí:
Không có thuốc giải độc đặc hiệu trong trường hợp quá liều, chủ yếu là điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Mã ATC: L01CB01
Etoposide, có tên gọi thông thường là VP – 16, là một dẫn xuất bán tổng hợp của podophyllotoxin, được dùng chủ yếu trong điều trị các bệnh về khối u.
Tên khoa học là 4- demethylepipodophyllotoxin 9-[4,6-0-(R)-ethylidene-(beta)-D-gluco pyranoside]. Etoposide tan tốt trong methanol và chloroform, ít tan trong ethanol, khó tan trong nước và ether. Dung môi hữu cơ làm tăng độ hoà tan của etoposide trong nước. Trọng lượng phân tử 558.58 và công thức phân tử C29H32O13.
VP-GEN được dùng đường tiêm tĩnh mạch.
Etoposide có tác dụng ngăn chặn giai đoạn phân bào ở nguyên bào sợi của gà. Tuy nhiên, tác dụng chính của thuốc trên động vật có vú là ngăn chặn chu kỳ tế bào ở giai đoạn G2.
Hai đáp ứng khác nhau phụ thuộc vào liều đã được quan sát thấy. Ở nồng độ cao (10 mcg/ml hoặc lớn hơn), quan sát thấy có sự phân giải tế bào ở giai đoạn gián phân, trong khi ở nồng độ thấp (0,3 – 10 Hg /ml), thuốc có tác dụng ngăn cẩn các tế bào đi vào giai đoạn tiền gián phân. Thuốc không tác động tới tập hợp sợi thoi. Tác dụng chính của etoposide là làm gấy chuỗi AND sau khi tương tác với DNA topoisomerase hoặc hình thành các gốc tự do.
Cơ chế tác dụng:
Cơ chế tác động chính xác của Etoposide còn chưa rõ, tuy nhiên, dường như nó tạo các hiệu ứng gây độc tế bào bằng cách hủy hoại DNA, do đó ức chế hoặc làm biến đổi sự tổng hợp DNA. Etoposide là một chất phụ thuộc chu kỳ tế bào, và đặc hiệu với phase của chu kỳ, gây cảm ứng dừng G2 – phase và giết các tế bào ở phase G2 và phase S muộn. Hai sự đáp ứng khác nhau theo liều được nhận xét như sau. Các nồng độ cao (10 microgram/mL hoặc hơn) gây ly giải tế bào khi tế bào vào quá trình phân bào. Các nồng độ thấp (0, 3 đến 10 microgram/mL) ức chế tế bào ở giai đoạn tiền kỳ. Sự huỷ hoại DNA do Etoposide liên quan rõ rệt với độc tính trên tế bào của thuốc. Etoposide gây cảm ứng làm gãy sợi DNA đơn một cách gián tiếp.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Khi tiêm tĩnh mạch, sự phân bố của etoposide được mô tả rõ nhất theo một tiến trình gồm hai pha với nửa đời phân bố khoảng 1, 5 giờ và nửa đời thải trừ trong khoảng 4-11h. Tổng giá trị thanh thải của cơ thể trong khoảng từ 33-48 ml/ phút hoặc 16 -36 ml/phút/m2, tương tự như nửa đời thải trừ, các giá trị này không phụ thuộc vào liều lượng và trong khoảng 100 – 600 mg/m2. Quá liều này, diện tích đưới đường cong và nồng độ thuốc cực đại trong máu gia tăng một cách tuyến tính với liều dùng. Etoposide không tích lũy trong huyết tương khi dùng hàng ngày với liều 100 mg /m2 trong 4 – 5 ngày.
Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định giảm trong khoảng 18 – 29 lít hoặc7 – 17 lít /m2. Etoposide đi vào dịch não tuỷ rất ít. Mặc dù, thuốc được tìm thấy trong dịch não tuỷ và trong các khối u trong não, nhưng nồng độ của thuốc thấp hơnở trong các khối u ngoài não và máu. Nồng độ etoposide trong phổi bình thường cao hơn so với phổi đi căn và trường hợp này cũng tương tự như trong các khối u tiên phát và mô bình thường của tử cung. Trên invitro, etoposide gắn kết mạnh với protein huyết tương (97%). Đã quan sát thây có mối liên hệ ngược giữa nồng độ albumin trong huyết tương và thanh thải etoposide qua thận ở trẻ em. Trong nghiên cứu xác định ảnh hưởng của các thuốc điều trị khác trên invitro có gắn carbon 14 đánh dấu etoposide trong protein huyết thanh người, chỉ thấy phenylbutazone, sodium salicylic ở nồng độ đạt được trên invivo.
Tỷ lệ gắn kết của Etoposide tương quan trực tiếp với nồng độ albumin trong huyết thanh ở bệnh nhân ung thư và ở người tình nguyện liên quan chặt chẽ với nồng độ bilirubin ở các bệnh nhân ung thư. Nhiều dữ liệu đã chỉ ra rằng có mối tương quan ngược giữa nồng độ albumin trong huyết thanh và tỷ lệ thuốc ở dạng tự do.
Sau khi tiêm tĩnh mạch 3 giờ etoposide với liều 70 – 290 mg/ m2, mức độ tìm thấy chất phóng xạ trung bình trong nước tiểu khoảng 42 – 67% và trong phân khoảng 0-16% liều dùng. Dưới 50% liều tiêm tĩnh mạch được đào thải qua nước tiểu dưới dạng etoposide với mức độ khoảng 8 – 35% trong 24 giờ.
Ở trẻ em khoảng 55% liều dùng được đào thải qua nước tiểu đưới dạng etoposide trong 24h. Thanh thải thận trung bình của etoposide khoảng 7 – 10 ml/ phút/m2 hoặc khoảng 35% thanh thải toàn phần theo một liều trong khoảng 80- 600 mg/m2
Etoposide bài xuất qua nước tiểu và phân dưới dạng nguyên vẹn và các chất chuyển hóa. Khoảng 45% lượng thuốc được bài xuất qua nước tiểu trong 72 giờ, trong đó 2/3 ở dạng không biến đổi; 16% được bài tiết theo phân và khoảng 6% hoặc ít hơn được bài tiết qua mật. Chất chuyển hoá chính trong nước tiểu của người lớn và trẻ em là hydroxy acid [4oxy – demethylepipodophyllic acid-9-( 4, 6-0-( R)-ethylidene-(beta)-Dglucopyranoside)] , được hình thành bằng cách mở vòng lacton. Nó cũng hiện diện trong huyết tương, có thể ở dạng đồng phân trans. Dạng liên hợp glucuronide hoặc sulfate của etoposide cũng được đào thải qua nước tiểu và chiếm khoảng 5-22% liều dùng. Ngoài ra, còn có sự demetyl hoá vòng dimethoxyphenol thông qua isoenzyme CYP450 3A4 để tạo thành dạng catechol tương ứng.
Sau khi truyền nh mạch hoặc uống thuốc các giá trị Cmax và diện tích dưới đường cong (AUC) có sự khác biệt đáng kể trong từng bệnh nhân và giữa các bệnh nhân. Điều này cho thấy có sự khác nhau trong việc đánh giá sinh khả dụng tuyệt đối của etoposide viên nang dùng theo đường uống.
Ở người lớn, thanh thải toàn phần của etoposide có tương quan với thanh thải creatinin nồng độ albumin huyết thanh và thanh thải ngoài thận. Thanh thải toàn phần của etoposide giảm ở bệnh nhân suy thận, do đó diện tích dưới đường cong (AUC) tăng và thể tích phân bố ở trạng thải ổn định giảm. Sự sử dụng cisplatin có thể dẫn đến giảm thanh thải toàn phần của etoposid. Ở trẻ em, nồng độ SGPT trong huyết thanh cao đi kèm với sự giảm thanh thải toàn phần của thuốc. Sự sử dụng cisplatin trước đó có thể cũng đưa đến sự giảm thanh thải toàn phần của etoposide ở trẻ em.
Mặc dù có một số sự khác biệt nhỏ về các thông số dược động học giữa các độ tuổi và giới tính đã được quan sát thấy, nhưng không gây ra sự khác biệt đáng kể nào trên lâm sàng.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: Acid citric, benzyl alcohol, polysorbate 80, polyethyleneglycol 300, cồn tuyệt đối.
6.2. Tương kỵ :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
6.3. Bảo quản:
Bảo quần ở nhiệt độ dưới 30C, tránh ánh sáng. Không để đông lạnh
Dạng ống tiêm chưa mở ổn định trong thời gian 24 tháng ở nhiệt độ phòng (30°C). Dạng ống tiêm đã pha loãng tới 0,2 – 0,4 mg/ml ổn định tương ứng trong 96 và 24 giờ ở nhiệt độ phòng (30°C), dưới ánh sáng đèn huỳnh quang, khi đựng trọng lọ thủy tỉnh hay lo plastic.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.