Nepidermin (Recombinant human epidermal growth factor – rhEGF)

Thuốc Nepidermin (Recombinant human epidermal growth factor – rhEGF) là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Nepidermin (Recombinant human epidermal growth factor – rhEGF) (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Nepidermin (Recombinant human epidermal growth factor – rhEGF)

Phân loại: Thuốc liền sẹo. Yếu tố phát triển biểu bì tái tổ hợp người (rhEGF)

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): D11AX.

Brand name: Heberprot-P75 

Generic : Nepidermin, rhEGF; Easyef.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Bột đông khô pha tiêm 0,075 mg

Thuốc phun Xịt hoặc thuốc bôi 0.005%

Thuốc tham khảo:

EASYEF SPRAY
Mỗi ml dung dịch có chứa:
rhEGF …………………………. 0,5 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Nepidermin được chỉ định phối hợp với các phương pháp thông thường điều trị vết loét ở chân có nguyên nhân thần kinh và thiếu máu cục bộ, trên bệnh nhân đái tháo đường giai đoạn 3 và 4, theo phân loại Wagner với diện tích lớn hơn 1cm2 kích thích hình thành mô hạt có ích, cho phép liền sẹo thứ phát hoặc miếng ghép da tự thân, các tác dụng này đã được chứng minh ở một số nghiên cứu lâm sàng.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng tiêm quanh hoặc trong vết thương.

Thuốc dùng ngoài.

Liều dùng:

Nepidermin nên được sử dụng cùng với các phương pháp thích hợp điều trị loét chân do đái tháo đường, chuẩn bị phương pháp thích hợp để mở vết thương, giảm áp lực và các phương pháp điều trị thông thường. Phải chẩn đoán và điều trị sớm các vết loét do nhiễm trùng trước khi sử dụng Nepidermin. Nếu nghi ngờ vết loét ác tính phải sinh thiết để loại trừ sự có mặt của khối u ác tính trước khi dùng Nepidermin.

Nepidermin được pha loãng với 5 ml nước cất, dùng 3 lần/tuần, tiêm quanh hoặc trong vết thương. Điều trị đến khi tạo mô hạt hoàn toàn ở vết thương, đóng kín vết thương hoặc tối đa 8 tuần điều trị. Dừng điều trị khi tổ chức có ích phủ kín toàn bộ vết thương hoặc diện tích vết thương còn dưới 1cm2.

Tại rìa tổn thương nên dùng kim tiêm 26Gx1/2, ở đáy tổn thương hoặc trong trường hợp loét sâu nên sử dụng kim tiêm 24Gx1/2. Trước tiên phải rửa sạch vùng da nơi tổn thương và thay kim tiêm mới khi tiêm ở các chỗ khác nhau để tránh lây nhiễm. Sau đó, vết thương phải được phủ một lớp gạc có tẩm dung dịch muối sinh lý để giữ ẩm và sạch.

Sau 3 tuần điều trị liên tiếp nếu không tạo thành mô có ích ở rìa của vết loét, nên kiểm tra lại liệu pháp điều trị và các yếu tố khác có thể cản trở đến kết quả lành vết thương, trong đó cần quan tâm tới viêm tủy xương, nhiễm trùng tại chỗ và rối loạn chuyển hóa.

Dạng thuốc dùng ngoài: Xịt thuốc hoặc bôi vào vết thương 2 lần mỗi ngày

4.3. Chống chỉ định:

Bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm với một trong các thành phần của thuốc.

Bệnh nhân có chẩn đoán ung thư gần nơi tiêm thuốc.

Không dùng thuốc cho các bệnh nhân suy tim mất bù, bệnh nhân hôn mê do đái tháo đường hoặc đái tháo đường nhiễm toan ceton.

4.4 Thận trọng:

Lưu ý:

Thận trọng khi điều trị bằng các chế phẩm sinh học và cần tiến hành các biện pháp xử trí thích hợp khi gặp các tác dụng không mong muốn. Trước khi sử dụng Nepidermin phải điều trị các bệnh viêm tủy xương, bệnh động mạch ngoại biên và bệnh thần kinh ngoại biên.

Thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim cục bộ và suy thận với creatinin cao hơn 200 mmol/L.

Trước khi điều trị bằng Nepidermin cần điều trị sớm và tích cực tình trạng nhiễm khuẩn tại vết thương.

Chưa có đầy đủ dữ liệu sử dụng thuốc an toàn cho thời gian điều trị dài hơn 8 tuần.

Cảnh báo:

Việc điều trị bằng Nepidermin nên được tiến hành do các bác sĩ chuyên khoa, tại nơi có đầy đủ phương tiện chẩn đoán và đủ kinh nghiệm điều trị biến chứng loét bàn chân do tiểu đường.

Dung dịch đã pha của Nepidermin nên được tiêm ngay sau khi chuẩn bị. Lọ thuốc sau khi mở nên được sử dụng trong vòng 24 giờ.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: NA

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Cho đến hiện nay chưa đủ tài liệu chứng minh việc sử dụng thuốc ở phụ nữ có thai và trẻ em vì vậy bác sĩ phải thận trọng và cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ rủi ro khi dùng thuốc cho các đối tượng này.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa có tài liệu nghiên cứu Nepidermin có khả năng đi vào sữa mẹ hay không, không dùng thuốc cho người mẹ đang cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất được báo cáo là đau và cảm giác nóng tại chỗ tiêm, run rẩy, rùng mình, nhiễm khuẩn tại chỗ và sốt. Tần xuất xuất hiện các tác dụng phụ trong các thử nghiệm lâm sàng khác nhau được ghi nhận trong bảng sau:

Tác dụng phụ Tổng số
n 297
Đau tại chỗ tiêm 75 (25.2%)
Nóng rát tại chỗ tiêm 51 (17.2%)
Run rẩy 57 (19.2%)
Rùng mình 50 (16.8%)
Nhiễm trùng tại chỗ 39 (13.1%)
Sốt 27 (9.0%)

Giám sát sử dụng Nepidermin trên 926 bệnh nhân các tác dụng không mong muốn được báo cáo nhiều nhất là run rẩy (24,3%), đau tại chỗ tiêm (24,0%), cảm giác bỏng rát (17,8%), rùng mình (11,3%), nhiễm trùng tại chỗ (4,4%) và sốt (2,8%).

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Chưa có tài liệu nghiên cứu về tương tác của thuốc với các thuốc dùng tại chỗ, vì vậy không nên dùng cùng với các thuốc dùng tại chỗ khác.

4.9 Quá liều và xử trí:

Chưa có báo cáo nào về việc dùng thuốc quá liều và thuốc giải độc, mặt khác các tổn thương trên bệnh nhân tiểu đường thường là có sẵn, vì vậy ảnh hưởng toàn thân gần như không có.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nepidermin là yếu tố tăng trưởng biểu bì người tái tổ hợp, được sử dụng nhằm làm lành vết loét bàn chân do biến chứng của tiểu đường, nhờ tác dụng tái phủ biểu mô, cải thiện mô hạt và sự hình thành mạch. Nepidermin có cấu trúc và hoạt tính sinh học phù hợp với yếu tố tăng trưởng (EGF) tự nhiên ở người.

Một vài nghiên cứu dược lực học đã được tiến hành khi dùng rhEGF ngoài đường tiêu hóa chỉ ra rằng thuốc có vai trò bảo vệ và nuôi dưỡng. Nghiên cứu ở chuột, trên toàn bộ cơ ngang thần kinh tọa của vùng đùi háng, khi tiêm rhEGF quanh vết thương: hệ thần kinh được kích thích tái tạo sợi trục thần kinh và tổng hợp myelin bởi dây thần kinh và tế bào của nó. Hai nghiên cứu độc lập chỉ ra rằng điều trị bằng rhEGF:

A) Hỗ trợ việc tái lập cơ dẫn thần kinh trong 60 ngày kể từ ngày bị thương trong chu kỳ điều trị 20 ngày.

B) Hỗ trợ việc thu hồi của các sợi trục thần kinh và myelin, ngăn chặn hoặc làm suy yếu sự thoái hóa sợi trục nội sinh.

C) Ngăn chặn hoặc trì hoãn sự thay đổi dinh dưỡng của mô mềm của tứ chi (da và tổ chức dưới da) đối với các vết loét ở chân và hoại tử ở ngón tay.

Hai nghiên cứu ở động vật gặm nhấm, một trường hợp bỏng dưới da khoảng 8-9% và một trường hợp nhiều cơ bị phá hủy do thioacetamid, cho thấy thuốc làm giảm nguy cơ hoại tử và tăng sinh mô ống tiêu hóa và thận bị phá hủy với liều điều trị 30mcg/kg tiêm dưới màng bụng có kiểm soát. Hơn nữa, các nghiên cứu này chỉ ra rằng liều rhEGF có tác dụng chống lại sự phá hủy gan và thiếu máu cục bộ và làm tái thông máu ở thận, sau khi thử nghiệm liều 500 và 750mcg/kg dùng đường tiêm phúc mạc. Dấu hiệu của sự suy yếu tế bào do nội xi hóa như là Malonyldialdehyde (MDA) thấp hơn đáng kể ở nhóm điều trị. Sinh thiết mô hạt của bệnh nhân điều trị bằng Nepidermin đã được quan sát sự tân tạo mạch máu vi thể ở bệnh nhân thiếu máu cục bộ và phản ứng tăng sinh ở mô thần kinh.

Cơ chế tác dụng:

rhEGF tác dụng bằng cách gắn với thụ cảm (receptor) đặc hiệu ở màng tế bào đích. Receptor đó là glycoprotein có tác dụng tyrosine kinase. Sự có mặt của receptor này đã được báo cáo ở một số tuyến tế bào người, trừ tế bào tạo huyết, nhưng chắc chắn có liên quan mật thiết đến da. Điều này chứng minh rằng dùng thuốc tại chỗ hoặc tiêm dưới da rhEGF làm tăng sự phát triển của tế bào keratin cũng như nguyên bào sợi và làm dày màng sừng. Tác dụng gây nguyên phân của rhEGF được mô tả ở tế bào cơ trơn của mạch, nguyên bào sợi, tế bào keratin và các tế bào liên kết.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Tác dụng của Yếu tố phát triển biểu bì da (EGF) đã được nghiên cứu đầy đủ với quá trình lành vết thương. Đây là 1 protein có cấu tạo phân tử đơn giản, khối lượng phân tử 6045 dalton, điểm đẳng điện 4,6 và chứa 53 aminoacid. EGF kích thích sự phát triển của nguyên bào sợi cũng như tế bào biểu mô.

Nghiên cứu in vivo, EGF có khả năng tạo phân bào trên tế bào ngoại bì và trung bì có nguồn gốc là tế bào cơ trơn của mạch, nguyên bào sợi, tế bào sừng và các mô gốc khác.

Tác dụng sinh học đầu tiên của EGF được phát hiện là mở mi mắt sớm và sớm mọc răng khi dùng đường tiêm cho chuột nhắt mới sinh ngoài đường tiêu hóa. Thuốc được Cohen và Carpenter phân lập từ nước tiểu người và sau đó là từ một số dịch trong cơ thể như huyết thanh, nước bọt, dịch dạ dày, sữa non, dịch màng ối và tinh dịch.

Mức EGF trong huyết tương không được phát hiện, nhưng có ở tiểu cầu với lượng đáng kể (khoảng 500 pmol/ 1012 tiểu cầu). Sau khi đông máu, nồng độ EGF đạt được 130 pmol/L, đủ để tạo sự nguyên phân và di chuyển tế bào. Phân tử này điều chỉnh sự phát triển, biệt hóa và chuyển hóa của một số tế bào. Các tế bào này có hoạt động phân bào và hóa ứng động như là bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân, kích thích sự phát triển và sự di chuyển của nguyên bào sợi, do đó cho phép tổng hợp collagen. Thuốc có hoạt động hóa ứng động và gây phân bào của các tế bào nội mô và biểu mô.

Đặc tính dược động học của EGF, sự phân bố của thuốc trong các cơ quan và con đường bài tiết vẫn đang là mục tiêu phân tích. Nghiên cứu được tiến hành trên chuột và chó sau khi dùng tại chỗ và tiêm tĩnh mạch liều duy nhất. Nồng độ đỉnh tính bằng nanogram (ng)/gram (g) của mô đã được kiểm tra ở thận, gan, da, dạ dày dựa theo hoạt tính phóng xạ ở giờ 96 cho thấy thuốc vẫn được bài tiết với giá trị tương đương 78% trong nước tiểu. Đặc điểm dược động học của EGF sau khi tiêm tĩnh mạch là phân bố nhanh, thải trừ chậm hơn ở máu cũng như ở huyết tương. Điều này chứng minh rằng gan và thận là hai cơ quan chính chịu trách nhiệm pha phân bố. Nồng độ trong máu luôn thấp hơn nồng độ trong huyết tương. Yếu tố phát triển biểu bì da tái tổ hợp người (rhEGF) không được phân bố trong tế bào máu, nguyên nhân có thể do thiếu receptor ở tế bào máu, rhEGF bị thoái hóa nhanh chóng tại mô (cơ quan) trước khi bài tiết vào nước tiểu (con đường bài tiết chính cho các sản phẩm này). Đã có tài liệu ghi nhận rằng, thận là cơ quan tiếp nhận phần lớn các chất chuyển hóa của rhEGF. Khi dùng thuốc tại chỗ, thuốc ít xâm nhập vào tuần hoàn ở da lành trên động vật, cũng như ở tổn thương trong thử nghiệm. Các đặc tính và sự phân bố của thuốc trong huyết tương có thể không tương ứng với lượng thuốc đưa vào. Điều này cho thấy trên thực tế, thuốc có đường dùng tại chỗ, không có tác dụng khi được dùng đường toàn thân và vì vậy tác dụng không mong muốn không phụ thuộc vào đường dùng thuốc.

Nghiên cứu dược lực học khi tiêm trong vết thương của Nepidermin 25mcg và 75mcg, 3 lần/tuần, ở bệnh nhân đái tháo đường độ 1 và 2 theo phân loại Wagner, nồng độ huyết tương tối đa đạt được 5-15 phút sau khi tiêm (Tmax). Thuốc thải trừ nhanh, trong khoảng 2 giờ. Giá trị trung bình của diện tích dưới đường cong (AUC) khi dùng liều 25mcg là 85,1pg.giờ/ml sau giai đoạn đầu (giai đoạn 1) và nhiều hơn sau khi tiêm hơn 15 lần (giai đoạn 2), trong khi AUC của liều 75mcg là 197,8 và 243pg.giờ/ml tương ứng với giai đoạn 1 và 2. Từ đó thấy rằng không có sự tích lũy rhEGF trong quá trình điều trị. Sự khác nhau giữa các liều không quan sát được ở thông số t1/2 và thời gian lưu trung bình (MRT) ở trong cơ thể vào khoảng 1 giờ. Không phát hiện được sự gia tăng thải trừ thuốc trong nước tiểu sau khi tiêm 48 giờ, so sánh với nhóm dùng thuốc chứng, bởi vậy rhEGF trong nước tiểu có thể liên quan tới quá trình nội sinh.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

 

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản thuốc ở nhiệt độ 2-8oC, xa nguồn nhiệt. Không để đông lạnh. Để thuốc trong bao bì gốc.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM