Ticagrelor

Thuốc Ticagrelor là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Ticagrelor (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Ticagrelor

Phân loại: Thuốc chống đông và làm tan huyết khối. Thuốc kháng tiểu cầu

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): B01AC24.

Brandname: Brilinta

Generics: Pridora, Feleilor, Topogis, Vingrelor, Printa , Tirelor-NN , Mirindes , Platetica, Platetica ODT

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim 60 mg ; 90 mg.

Viên nén phân tán 90mg

Thuốc tham khảo:

PRINTA 60mg
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Ticagrelor …………………………. 60 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Ticagrelor, dùng đồng thời với axít acetylsalicylic (ASA), được chỉ định để phòng ngừa các biến cố huyết khối do xơ vữa động mạch ở bệnh nhân người lớn bị Hội Chứng Mạch Vành Cấp (đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim không có ST chênh lên [non ST elevation Myocardial Infarction – NSTEMI], hoặc nhồi máu cơ tim có ST chênh lên [ST elevation Myocardial Infarction – STEMI]; gồm bệnh nhân được điều trị nội khoa, và bệnh nhân được can thiệp mạch vành qua da (percutaneous coronary intervention – PCI) hoặc phẫu thuật bắc cầu mạch vành (coronary artery by-pass grafting – CABG).

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường uống. Ticagrelor có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn.

Liều dùng:

Nên khởi đầu điều trị với chỉ một liều nạp 180 mg Ticagrelor (hai viên 90 mg) và sau đó duy trì với liều 90 mg hai lần mỗi ngày.

Bệnh nhân dùng Ticagrelor cũng nên uống ASA hằng ngày, trừ khi có chống chỉ định cụ thể. Sau một liều khởi đầu với ASA, nên dùng Ticagrelor với liều duy trì 75-100 mg ASA.

Khuyến cáo điều trị lên đến 12 tháng trừ khi có chỉ định lâm sàng ngưng dùng Ticagrelor. Kinh nghiệm điều trị sau 12 tháng còn giới hạn.

Ở bệnh nhân bị Hội Chứng Mạch Vành cấp, việc ngừng sớm bất kỳ liệu pháp chống kết tập tiểu cầu nào, kể cả Ticagrelor, có thể gây tăng nguy cơ tử vong tim mạch, hoặc nhồi máu cơ tim do bệnh lý tiềm ẩn của bệnh nhân. Do đó, nên tránh ngưng điều trị sớm.

Nên tránh quên dùng thuốc khi điều trị. Bệnh nhân quên 1 liều Ticagrelor nên dùng chỉ 1 viên 90 mg (liều kế tiếp) vào đúng giờ thông lệ.

Bệnh nhân đã được điều trị với clopidogrel có thể chuyển thẳng sang dùng Ticagrelor nếu cần thiết. Chuyển từ prasugrel sang dùng Ticagrelor chưa được nghiên cứu.

Các nhóm dân số đặc biệt

Người cao tuổi: Không cần điều chỉnh liều ở người cao tuổi.

Bệnh nhân suy thận: Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận. Chưa có thông tin liên quan đến điều trị cho bệnh nhân lọc thận nhân tạo và vì vậy không khuyến cáo dùng Ticagrelor ở những bệnh nhân này.

Bệnh nhân suy gan: Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan nhẹ. Ticagrelor chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan vừa hoặc nặng. Vì vậy chống chỉ định ở bệnh nhân suy gan vừa đến nặng.

Trẻ em: Chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả của Ticagrelor ở trẻ em dưới 18 tuổi trong chỉ định đã được phê duyệt ở người lớn. Hiện chưa có dữ liệu.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào.

Đang bị chảy máu do bệnh lý.

Tiền sử bị xuất huyết não .

Suy gan vừa đến nặng.

Chống chỉ định dùng đồng thời ticagrelor với chất ức chế mạnh CYP3A4 (như ketoconazole, clarithromycin, nefazodone, ritonavir và atazanavir), vì dùng đồng thời có thể dẫn đến làm tăng đáng kể mức độ tiếp xúc với ticagrelor .

Lúc có thai và lúc nuôi con bú

4.4 Thận trọng:

Nguy cơ chảy máu

Trong thử nghiệm chủ chốt pha III (PLATO – [PLATelet Inhibition and Patient Outcomes]: ức chế tiểu cầu và kết cục lâm sàng được thực hiện trên 18.624 bệnh nhân) tiêu chí loại trừ chính gồm có một nguy cơ bị chảy máu gia tăng, thiếu máu hoặc giảm tiểu cầu có ý nghĩa lâm sàng, chảy máu não trước đó, chảy máu đường tiêu hóa trong vòng 6 tháng vừa qua hoặc đại phẫu thuật trong vòng 30 ngày qua. Trên nhóm bệnh nhân bị Hội Chứng Mạch Vành Cấp được điều trị với Ticagrelor và ASA cho thấy tăng nguy cơ chảy máu nặng trên phân nhóm không phẫu thuật bắt cầu mạch vành và cũng bị chảy máu thường hơn cần đến chăm sóc y khoa ví dụ ở nhóm có chảy máu nhẹ và nặng trong nghiên cứu PLATO, nhưng không phải chảy máu gây tử vong hoặc đe dọa mạng sống .

Vì vậy, nên cân bằng việc sử dụng Ticagrelor ở bệnh nhân đã biết bị tăng nguy cơ chảy máu với lợi ích phòng ngừa các biến cố do huyết khối do xơ vữa động mạch. Nếu được chỉ định trên lâm sàng, nên lưu ý khi dùng Ticagrelor ở những nhóm bệnh nhân sau đây:

Bệnh nhân có xu hướng bị chảy máu (ví dụ do chấn thương gần đây, phẫu thuật gần đây, rối loạn đông máu, đang hoặc vừa bị chảy máu đường tiêu hóa). Ticagrelor chống chỉ định ở bệnh nhân đang bị chảy máu do bệnh lý, có tiền sử xuất huyết não, và bệnh nhân suy gan vừa đến nặng .

Bệnh nhân dùng chung các thuốc làm tăng nguy cơ chảy máu (như thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDS), thuốc chống đông máu đường uống và/hoặc các thuốc tiêu sợi huyết) trong vòng 24 giờ trước khi dùng Ticagrelor.

Chưa có dữ liệu về Ticagrelor liên quan tới lợi ích cầm máu khi truyền tiểu cầu; sự tuần hoàn Ticagrelor trong máu có thể ức chế các tiểu cầu được truyền vào. Vì dùng đồng thời Ticagrelor với desmopressin không làm giảm thời gian chảy máu, desmopressin rất có thể không ảnh hưởng đến kiểm soát các biến cố do chảy máu trên lâm sàng .

Điều trị bằng thuốc chống tiêu sợi huyết (axit aminocaproic hoặc axit tranexamic) và/hoặc yếu tố tái tổ hợp VIIa có thể giúp tăng cầm máu. Sau khi xác định và kiểm soát được nguyên nhân gây chảy máu có thể dùng lại Ticagrelor.

Phẫu thuật

Nên khuyên bệnh nhân thông báo cho bác sĩ và nha sĩ biết rằng họ đang dùng Ticagrelor trước khi ấn định bất kỳ một cuộc phẫu thuật hoặc trước khi uống bất kỳ thuốc mới nào.

Trong nghiên cứu PLATO trên phân nhóm bệnh nhân phẫu thuật bắt cầu mạch vành (CABG), Ticagrelor gây chảy máu nhiều hơn clopidogrel khi ngưng điều trị 1 ngày trước khi phẫu thuật nhưng có cùng tỷ lệ gây chảy máu nặng so với clopidogrel sau khi ngưng thuốc trên 2 ngày trước khi phẫu thuật . Nếu một bệnh nhân sắp trải qua cuộc phẫu thuật không cấp thiết và không muốn ảnh hưởng của chống kết tập tiểu cầu, nên ngưng dùng Ticagrelor 7 ngày trước khi phẫu thuật .

Bệnh nhân có nguy cơ bị các biến cố nhịp tim chậm

Dựa vào quan sát mô tả hầu hết các trường hợp ngưng thất không triệu chứng trong một nghiên cứu lâm sàng trước đây, những bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến cố chậm nhịp tim (như bệnh nhân bị hội chứng suy nút xoang không được đặt máy tạo nhịp, blốc nhĩ thất độ 2 hoặc 3 hoặc bị ngất liên quan đến nhịp tim chậm) đã được loại trừ khỏi nghiên cứu PLATO khi đánh giá tính an toàn và hiệu quả của Ticagrelor. Do đó, vì kinh nghiệm lâm sàng hạn chế, nên thận trọng khi dùng Ticagrelor cho những bệnh nhân này .

Thêm vào đó, nên thận trọng khi dùng Ticagrelor chung với các thuốc làm chậm nhịp tim. Tuy nhiên không có bằng chứng ghi nhận các phản ứng ngoại ý đáng kể trên lâm sàng trong thử nghiệm PLATO sau khi dùng chung với một hoặc nhiều thuốc làm chậm nhịp tim (ví dụ, 96% ca dùng chẹn bêta, 33% ca dùng thuốc chẹn kênh canxi diltiazem và verapamil, và 4% ca dùng digoxin) .

Suốt quá trình nghiên cứu trên phân nhóm bệnh nhân chạy Holter trong thử nghiệm PLATO, có nhiều bệnh nhân ngưng thất trên 3 giây với ticagrelor hơn so với clopidogrel trong giai đoạn cấp của Hội chứng mạch vành cấp. Sự gia tăng số ca ngưng thất xác định bằng Holter khi dùng ticagrelor cao hơn ở nhóm bệnh nhân suy tim sung huyết so với tổng dân số nghiên cứu trong giai đoạn cấp của Hội chứng mạch vành cấp, mà không xảy ra trên nhóm dùng ticagrelor trong một tháng hoặc khi so sánh với clopidogrel. Không có hậu quả lâm sàng ngoại ý nào liên quan đến sự mất cân bằng này (bao gồm ngất hoặc đặt máy tạo nhịp) trong dân số bệnh nhân này .

Khó thở

Có 13,8% bệnh nhân dùng Ticagrelor ghi nhận bị khó thở so với 7,8% bệnh nhân dùng clopidogrel. Trong 2,2% bệnh nhân, các nhà nghiên cứu đã cân nhắc thấy khó thở có liên quan đến việc dùng Ticagrelor. Triệu chứng này thông thường ở mức độ từ nhẹ đến vừa và tự hồi phục mà không cần ngưng điều trị. Bệnh nhân hen suyễn/COPD tăng nguy cơ bị khó thở khi dùng Ticagrelor . Phải thận trọng khi dùng ticagrelor cho bệnh nhân có tiền sử bị hen suyễn và/hoặc COPD. Cơ chế chưa được rõ. Nếu bệnh nhân báo cáo bị cơn khó thở mới, kéo dài hoặc nặng lên, phải theo dõi kỹ và nếu không chịu đựng được nữa, phải ngưng dùng Ticagrelor.

Tăng Creatinine

Nồng độ Creatinin có thể tăng khi điều trị với Ticagrelor . Cơ chế chưa được rõ. Nên kiểm tra chức năng thận sau một tháng và sau đó căn cứ vào thực tế điều trị hàng ngày, lưu ý đặc biệt đến bệnh nhân ≥ 75 tuổi, bệnh nhân suy thận vừa/nặng và những bệnh nhân đang điều trị đồng thời với một thuốc chẹn thụ thể angiotensin.

Tăng axit uric

Trong nghiên cứu PLATO, bệnh nhân dùng ticagrelor có nguy cơ tăng axit uric huyết cao hơn bệnh nhân dùng clopidogrel . Thận trọng khi dùng ticagrelor cho bệnh nhân có tiền sử tăng axit uric huyết hoặc bệnh gout. Để đề phòng, không nên sử dụng ticagrelor cho bệnh nhân bị bệnh thận do acid uric.

Khác:

Dựa trên mối liên hệ quan sát được trong nghiên cứu PLATO giữa liều duy trì ASA và hiệu quả tương ứng của ticagrelor so sánh với clopidogrel, khuyến cáo không dùng đồng thời Ticagrelor với liều duy trì cao ASA (> 300 mg) .

Chống chỉ định dùng đồng thời Ticagrelor với các chất ức chế mạnh CYP3A4 (ví dụ, ketoconazole, clarithromycin, nefazodone, ritonavir và atazanavir) . Dùng đồng thời có thể làm tăng đáng kể nồng độ và thời gian tiếp xúc với Ticagrelor .

Không nên dùng đồng thời ticagrelor với các chất cảm ứng mạnh CYP3A4 (như rifampicin, dexamethasone, phenytoin, carbamazepine và phenobarbital), vì dùng đồng thời có thể làm giảm mức độ tiếp xúc và hiệu quả của ticagrelor .

Không khuyến cáo dùng chung Ticagrelor và các cơ chất men CYP3A4 có trị số trị liệu hẹp (như cisapride và các ergot alkaloid), vì ticagrelor có thể làm tăng mức độ tiếp xúc với những thuốc này . Không khuyến cáo dùng đồng thời Ticagrelor với simvastatin hoặc lovastatin liều cao hơn 40 mg .

Khuyến cáo nên theo dõi chặt chẽ lâm sàng và cận lâm sàng khi dùng digoxin chung với Ticagrelor .

Không có đủ dữ liệu chứng tỏ dùng chung Ticagrelor với các chất ức chế P-glycoprotein (P-gp) mạnh có thể gây tăng mức độ tiếp xúc với ticagrelor. Nếu không tránh khỏi việc kết hợp, thận trọng khi dùng chung .

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của Ticagrelor trên khả năng lái xe và vận hành máy. Ticagrelor không có hoặc ảnh hưởng không đáng kể trên khả năng lái xe và vận hành máy.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B1

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Chưa có hoặc còn giới hạn dữ liệu về việc dùng ticagrelor cho phụ nữ có thai. Những nghiên cứu trên súc vật đã chứng tỏ thuốc có độc tính trên hệ sinh sản. Khuyến cáo không dùng Ticagrelor khi đang mang thai.

Phụ nữ có thể có thai:

Phụ nữ có thể có thai nên dùng các biện pháp tránh thai thích hợp suốt thời gian dùng Ticagrelor.

Khả năng sinh sản:

Ticagrelor không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở giống đực hoặc giống cái trên súc vật.

Thời kỳ cho con bú:

Các dữ liệu về độc tính/dược lực học trên súc vật cho thấy ticagrelor và các chất chuyển hóa có hoạt tính được bài tiết qua sữa. Không loại trừ nguy cơ đối với trẻ sơ sinh/nhũ nhi. Cần quyết định liệu có nên ngưng cho con bú hoặc ngưng/tránh dùng Ticagrelor khi cân nhắc kỹ giữa lợi ích cho con bú và lợi ích khi điều trị cho bà mẹ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Bảng tóm tắt các phản ứng ngoại ý

Các phản ứng ngoại ý được phân loại theo tần suất và hệ cơ quan. Các loại tần suất được xác định theo quy ước như sau: Rất thường gặp (≥ 1/10), Thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), Ít gặp (≥ 1/1,000 đến < 1/100), Hiếm gặp (≥ 1/10,000 đến < 1/1,000), Rất hiếm gặp (< 1/10,000), Chưa biết (chưa xác định được từ những dữ liệu hiện có).

Hệ cơ quan Thường gặp ít gặp Hiếm
Rối loạn chuyển hóa và dinh duỡng     Tăng axit uric huyết8
Rối loạn tâm thần     Lú lẫn
Rối loạn hệ thần kinh   Xuất huyết nãob, chóng mặt, đau đầu Dị cảm
Rối loạn mắt   Xuất huyết mắt (nội nhãn cầu, kết mạc, võng mạc)  
Rối loạn tai và tiền đình, ốc tai     Xuất huyết tai, chóng mặt
Rối loạn hệ hô hấp, lồng ngục và trung thắt Khó thởc, chảy máu cam Ho ra máu  
Rối loạn hệ tiêu hóa Xuất huyết tiêu hóad Nôn ra máu, xuất huyết do loét đường tiêu hóa®, xuất huyết do trĩ, viêm dạ dày, xuất huyết đường miệng (kể cả chảy máu lợi), nôn, tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn, khó tiêu Xuất huyết vùng dưới hầu, táo bón
Rối loạn da và mô dưới da Chảy máu dưới da hoặc trong daf, Bầm tím9 Ban, ngứa  
Rối loạn hệ cơ xuơng và mô liên kết     Chảy máu khớp*
Rối loạn thận và đường niệu   Xuất huyết đường niệuh  
Rối loạn hệ sinh sản và vú   Chảy máu ảm đạo (kể cả xuất huyết trong tử cung ngoại chu kỳ)  
Thông số xét nghiệm cận lâm sàng     Tảng creatinine máu
Chấn thương, ngộ độc và các biến chứng sau khi làm thủ thuật Xuất huyết tại vị trí làm thủ thuật Xuất huyết sau thủ thuật, xuất huyết Chảy máu vết thương, chảy máu vùng chấn thương

Các thuật ngữ về phản ứng ngoại ý được xếp nhóm trong bảng và bao gồm cả các thuật ngữ được mô tả bên dưới:

a Tăng axit uric huyết

b Xuất huyết não, chảy máu não, đột quỵ xuất huyết,

c Khó thớ, khó thớ lúc gắng sức, khó thớ lúc nghỉ, khó thớ về đêm

d Xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết trực tràng, xuất huyết đường ruột, tiêu phân đen, xuất huyết nội tạng

e Xuất huyết loét tiêu hóa, Xuất huyết loét dạ dày, Xuất huyết loét tá tràng, Xuất huyết loét hệ thống tiêu hóa

f Tụ máu dưới da, xuất huyết da, chảy máu dưới da, đốm xuất huyết

g Giập, máu tụ, máu bầm, tăng nguy cơ bị bầm tím, tụ máu chấn thương

h Tiều ra máu, máu trong nước tiểu, xuất huyết đường niệu

i Xuất huyết vùng tiêm mạch máu, tụ máu vùng tiêm mạch, xuất huyết vùng tiêm, xuất huyết vùng đặt ống thông

# Không có báo cáo về các phản ứng ngoại ý do thuốc liên quan đến chảy máu khớp trên nhánh dùng ticagrelor (n=9235) trong nghiên cứu PLATO, tần suất tính theo giới hạn trên của 95% khoảng tin cậy đối với điểm ước lượng (tính bằng 3/X, với X đại diện cho tổng cỡ mẫu, ví dụ: 9235). Tính bằng 3/9235 tương ứng phản loại tần suất là ‘hiếm’

Các thông số xét nghiệm cận lâm sàng

Tăng Creatinine: Trong nghiên cứu PLATO, nồng độ creatinin huyết thanh tăng đáng kể > 30% trong 25,5% bệnh nhân dùng ticagrelor so với 21,3% bệnh nhân dùng clopidogrel và > 50% trong 8,3% bệnh nhân dùng ticagrelor so với 6,7% bệnh nhân dùng clopidogrel. Creatinin tăng > 50% thường được thông báo trên những bệnh nhân lớn hơn 75 tuổi (13,6% ở nhóm dùng ticagrelor so với 8,8% nhóm dùng clopidogrel), ở bệnh nhân bị suy thận nặng ban đầu (17,8% ở nhóm dùng ticagrelor so với 12,5% nhóm dùng clopidogrel) và những bệnh nhân điều trị đồng thời với các thuốc ức chế thụ thể angiotensin (ticagrelor 11,2% so với clopidogrel 7,1%). Trên các phân nhóm này, biến cố ngoại ý nghiêm trọng có liên quan đến thận và các biến cố ngoại ý dẫn tới ngừng sử dụng thuốc tương đương nhau giữa các nhóm điều trị. Tổng các biến cố ngoại ý trên thận được báo cáo có 4,9% khi dùng ticagrelor so với 3,8% khi dùng clopidogrel, tuy nhiên các nhà nghiên cứu cân nhắc liệu sự tương đương về tỷ lệ phần trăm bệnh nhân gặp biến cố có liên quan đến điều trị hay không; 54 (0,6%) trường hợp dùng ticagrelor và 43 (0,5%) trường hợp dùng clopidogrel.

Tăng axit uric: Trong nghiên cứu PLATO, nồng độ axit uric trong huyết thanh tăng hơn giới hạn trên của bình thường ở 22% bệnh nhân dùng ticagrelor so với 13% dùng clopidogrel. Nồng độ axit uric trung bình tăng khoảng 15% khi dùng ticagrelor so với khoảng 7,5% dùng clopidogrel và sau khi kết thúc điều trị, giảm khoảng 7% khi dùng ticagrelor nhưng không thấy giảm trên nhóm bệnh nhân dùng clopidogrel. Các biến cố ngoại ý liên quan đến tăng axit uric huyết được báo cáo 0,5% ở nhóm ticagrelor so với 0,2% ở nhóm clopidogrel. Trong các biến cố ngoại ý này, có 0,05% nhóm dùng ticagrelor và 0,02% ở nhóm dùng clopidogrel được xem là có liên quan đến việc điều trị. Trên bệnh nhân viêm khớp do Gout, biến cố ngoại ý được báo cáo 0,2% khi dùng ticagrelor so với 0,1% khi dùng clopidogrel; các nhà nghiên cứu cho rằng không có bất kỳ biến cố ngoại ý nào có liên quan đến việc điều trị.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Ticagrelor cơ bản là một cơ chất của men CYP3A4 và ức chế yếu CYP3A4. Ticagrelor cũng là một cơ chất của P-gp và ức chế yếu P-gp và có thể gây tăng nồng độ và thời gian tiếp xúc các cơ chất P-gp.

Ảnh hưởng của các thuốc khác đến Ticagrelor

Các thuốc chuyển hóa qua men CYP3A4

Các chất ức chế CYP3A4

Các chất ức chế mạnh CYP3A4 – Dùng đồng thời ketoconazole với ticagrelor làm tăng 2,4 lần Cmax và 7,3 lần AUC của ticagrelor. Làm giảm 89% Cmax và 56% AUC của chất chuyển hóa có hoạt tính. Các chất ức chế mạnh CYP3A4 khác (clarithromycin, nefazodone, ritonavir và atazanavir) cũng có tác động tương tự và chống chỉ định dùng đồng thời với Ticagrelor.

Các chất ức chế vừa CYP3A4 – Dùng đồng thời diltiazem với ticagrelor làm tăng 69% Cmax và 2,7 lần AUC của ticagrelor, làm giảm 38% Cmax và không đổi AUC của chất chuyển hóa có hoạt tính. Ticagrelor không ảnh hưởng đến nồng độ diltiazem trong máu. Các chất ức chế vừa CYP3A4 khác (ví dụ, amprenavir, aprepitant, erythromycin và fluconazole) cũng dự kiến có tác động tương tự và được dùng đồng thời với Ticagrelor.

Các chất cảm ứng CYP3ADùng đồng thời rifampicin với ticagrelor làm giảm 73% Cmax và 86% AUC của ticagrelor. Không đổi Cmax và giảm 46% AUC của chất chuyển hóa có hoạt tính. Các chất cảm ứng CYP3A khác (ví dụ, dexamethasone, phenytoin, carbamazepine và phenobarbital) cũng làm giảm nồng độ và thời gian tiếp xúc với Ticagrelor. Dùng đồng thời ticagrelor với chất cảm ứng CYP3A mạnh có thể làm giảm mức tiếp xúc và hiệu quả của ticagrelor .

Những chất khác

Các nghiên cứu tương tác dược lý trên lâm sàng chứng minh dùng đồng thời ticagrelor với heparin, enoxaparin và ASA hoặc desmopressin không ảnh hưởng đến dược động học của ticagrelor hoặc chất chuyển hóa có hoạt tính hoặc sự kết tập tiểu cầu kích thích bởi ADP so với ticagrelor riêng lẻ. Nếu có chỉ định lâm sàng, thận trọng khi kết hợp các thuốc làm biến đổi quá trình đông máu với Ticagrelor .

Chưa có dữ liệu xác định dùng chung Ticagrelor với chất ức chế P-gp mạnh (ví dụ, verapamil, quinidine, cyclosporin) có thể làm tăng mức tiếp xúc với ticagrelor. Nếu có chỉ định lâm sàng, nên thận trọng khi dùng chung

Ảnh hưởng của Ticagrelor đến các thuốc khác

Thuốc chuyển hóa bởi men CYP3A4

Simvastatin: Dùng đồng thời ticagrelor với simvastatin làm tăng 81% Cmax và 56% AUC của simvastatin, làm tăng 64% Cmax và 52% AUC của axit simvastatin ở một vài cá thể có thể tăng lên 2 đến 3 lần. Dùng đồng thời ticagrelor với liều simvastatin vượt quá 40 mg mỗi ngày có thể gây ra các phản ứng ngoại ý của simvastatin và cần cân nhắc với lợi ích tiềm năng. Simvastatin không ảnh hưởng đến nồng độ ticagrelor trong huyết tương. Ticagrelor cũng có tác động tương tự đối với lovastatin. Không khuyến cáo dùng chung Ticagrelor với simvastatin và lovastatin liều cao hơn 40 mg .

Atorvastatin: Dùng đồng thời atorvastatin và ticagrelor làm tăng 23% Cmax và 36% AUC của axit atorvastatin. Các mức tăng AUC và Cmax tương tự cũng ghi nhận được ở tất cả các chất chuyển hóa axit atorvastatin. Sự gia tăng này không có ý nghĩa lâm sàng.

Không loại trừ ảnh hưởng tương tự của Ticagrelor đến những statin khác cùng chuyển hóa qua men CYP3A4. Bệnh nhân trong nghiên cứu PLATO dùng nhiều loại statin khác nhau, nhưng không có quan ngại về tính an toàn của statin trên 93% cá thể dùng những thuốc này.

Ticagrelor là một chất ức chế nhẹ CYP3A4. Không khuyến cáo dùng đồng thời Ticagrelor và các cơ chất CYP3A4 có trị số trị liệu hẹp (như là cisapride và các alkaloid cựa lúa mạch) vì ticagrelor có thể gây tăng mức tiếp xúc với những thuốc này .

Các thuốc chuyển hóa qua men CYP2C9

Dùng đồng thời Ticagrelor với tolbutamide không làm thay đổi nồng độ cả 2 thuốc trong huyết tương, cho thấy ticagrelor không phải là chất ức chế CYP2C9 và rất có thể không làm thay đổi sự chuyển hóa của các thuốc qua men CYP2C9 như warfarin và tolbutamide.

Thuốc viên uống ngừa thai

Dùng đồng thời Ticagrelor và levonorgrestrel và ethinyl estradiol làm tăng khoảng 20% mức tiếp xúc của ethinyl estradiol nhưng không làm thay đổi dược động học của levonorgrestrel. Trên lâm sàng, không ảnh hưởng hiệu quả của thuốc viên uống ngừa thai khi dùng đồng thời levonorgrestrel và ethinyl estradiol với Ticagrelor.

Các cơ chất của P-glycoprotein (P-gp) (bao gồm digoxin, cyclosporin)

Dùng đồng thời với Ticagrelor làm tăng 75% Cmax và 28% AUC của digoxin. Nồng độ đáy trung bình của digoxin tăng 30% khi dùng chung với ticagrelor, ở vài cá thể có thể tăng tối đa lên gấp đôi. Sự có mặt digoxin không làm ảnh hưởng đến Cmax và AUC của ticagrelor và các chất chuyển hóa có hoạt tính. Do đó, khuyến cáo nên theo dõi kỹ lâm sàng và/hoặc cận lâm sàng khi dùng đồng thời Ticagrelor với các thuốc có cửa sổ trị liệu hẹp phụ thuộc P-gp như digoxin hoặc cyclosporine .

Các liệu pháp phối hợp thuốc khác

Các thuốc gây nhịp tim chậm

Do có ghi nhận các trường hợp ngưng thất hầu như không triệu chứng và nhịp tim chậm, nên thận trọng khi dùng đồng thời Ticagrelor với thuốc gây nhịp tim chậm . Tuy nhiên không có bằng chứng về các phản ứng ngoại ý đáng kể trên lâm sàng được ghi nhận trong nghiên cứu PLATO sau khi dùng đồng thời với một hoặc nhiều thuốc gây nhịp tim chậm (ví dụ, 96% ca dùng chẹn beta, 33% ca dùng chẹn kênh canxi diltiazem và verapamil và 4% ca dùng digoxin).

Trong nghiên cứu PLATO, Ticagrelor thường được phối hợp với ASA, thuốc ức chế bơm proton, statin, chẹn bêta, thuốc ức chế men chuyển angiotensin và thuốc ức chế thụ thể angiotensin khi cần dùng chung dài hạn và cũng được phối hợp với heparin, heparin trọng lượng phân tử thấp và chất ức chế GpIIb/IIIa tiêm tĩnh mạch dùng ngắn hạn . Không quan sát thấy bằng chứng về các tương tác bất lợi đáng kể trên lâm sàng với những thuốc này.

Dùng đồng thời Ticagrelor với heparin, enoxaparin hoặc desmopressin không ảnh hưởng đến thời gian kích hoạt thromboplastin bán phần (activated partial thromboplastin time – aPTT), thời gian kích hoạt đông máu (activated coagulation time – ACT) hoặc phép phân tích yếu tố Xa. Tuy nhiên, do các tương tác dược lực có thể xảy ra, nên thận trọng khi kết hợp Ticagrelor với các thuốc biến đổi sự đông máu .

Đã có báo cáo các trường hợp chảy máu trong da bất thường với các thuốc tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI) (ví dụ, paroxetine, sertraline và citalopram), nên thận trọng khi dùng SSRI với Ticagrelor do có thể gây tăng nguy cơ chảy máu.

4.9 Quá liều và xử trí:

Ticagrelor được dung nạp tốt khi dùng các liều đơn lên đến 900 mg. Độc tính trên hệ tiêu hóa bị giới hạn theo liều trong một nghiên cứu đơn tăng dần liều dùng. Các phản ứng ngoại ý có ý nghĩa về mặt lâm sàng có thể xuất hiện khi dùng quá liều bao gồm khó thở và ngưng thất .

Khi bị quá liều, nên ghi nhận những tác dụng không mong muốn có thể xảy ra và cần theo dõi điện tâm đồ (ECG).

Hiện nay chưa có thuốc giải độc để đảo ngược tác động của Ticagrelor và không thể phân tách Ticagrelor . Xử trí khi quá liều nên tuân theo thực hành y khoa chuẩn. Ảnh hưởng của việc dùng quá liều Ticagrelor làm kéo dài thời gian chảy máu liên quan đến ức chế tiểu cầu. Nếu có xuất huyết, nên tiến hành các biện pháp hỗ trợ thích hợp.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý trị liệu: Ức chế kết tập tiểu cầu không gồm heparin.

Khởi phát tác động: Trên những bệnh nhân bị bệnh động mạch vành ổn định sử dụng ASA, ticagrelor cho thấy khởi phát nhanh tác động dược lý với khả năng ức chế kết tập tiểu cầu (IPA) trung bình ở nhóm dùng ticagrelor sau 0,5 giờ sử dụng liều nạp 180 mg vào khoảng 41%, hiệu quả ức chế kết tập tiểu cầu (IPA) tối đa là 89% sau khi dùng thuốc 2-4 giờ và duy trì tiếp 2-8 giờ. 90% bệnh nhân có mức độ ức chế kết tập tiểu cầu (IPA) cuối cùng là > 70% sau hai giờ dùng thuốc.

Tác động tồn dư : Nếu có kế hoạch phẫu thuật bắc cầu mạch vành, có tăng nguy cơ xuất huyết so với clopidogrel nếu ngưng dùng ticagrelor chưa đủ 96 giờ trước khi tiến hành phẫu thuật.

Dữ liệu về chuyển đổi thuốc: Việc chuyển từ clopidogrel sang dùng ticagrelor làm tăng 26,4% sự ức chế kết tập tiểu cầu (IPA) và chuyển từ ticagrelor sang dùng clopidogrel làm giảm 24,5% sự ức chế kết tập tiểu cầu (IPA). Bệnh nhân có thể chuyển từ clopidogrel sang dùng ticagrelor mà không bị gián đoạn hiệu quả kháng tiểu cầu.

Cơ chế tác dụng:

Ticagrelor chứa ticagrelor, một thành phần của nhóm hóa học cyclopentyltriazolopyrimidine (CPTP), một thuốc đối kháng thụ thể chọn lọc adenosine diphosphate (ADP) hoạt động trên thụ thể P2Y12ADP có thể ngăn cản quá trình hoạt hóa và kết tập tiểu cầu qua trung gian ADP. Ticagrelor có hoạt tính khi dùng đường uống và tương tác thuận nghịch với thụ thể P2Y12 ADP của tiểu cầu. Ticagrelor không tương tác với vị trí gắn ADP của chính nó, nhưng lại tương tác với thụ thể P2Y12 ADP của tiểu cầu để ngăn chặn việc dẫn truyền tín hiệu.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Ticagrelor cho thấy dược động học tuyến tính. Nồng độ và thời gian tiếp xúc với ticagrelor và chất chuyển hóa có hoạt tính (AR C124910XX) tỷ lệ theo liều lên đến khoảng 1260 mg.

Hấp thu

Ticagrelor hấp thu nhanh với tmax trung bình khoảng 1,5 giờ. Chất chuyển hóa chính tuần hoàn trong máu AR-C124910XX (cũng có hoạt tính) từ ticagrelor được tạo thành nhanh với tmax trung bình khoảng 2,5 giờ. Sau khi uống 90 mg ticagrelor lúc đói, nồng độ đỉnh Cmax đạt 529 ng/ml và diện tích dưới đường cong AUC là 3.451 ng*giờ/ml. Tỷ lệ chuyển hóa là 0,28 đối với nồng độ đỉnh Cmax và 0,42 đối với diện tích dưới đường cong AUC.

Sinh khả dụng tuyệt đối trung bình của ticagrelor ước lượng khoảng 36%. Tiêu thụ một bữa ăn giàu chất béo làm tăng 21% diện tích dưới đường cong AUC của ticagrelor và giảm 22% nồng độ đỉnh Cmax của chất chuyển hóa có hoạt tính nhưng không ảnh hưởng đến nồng độ đỉnh Cmax của ticagrelor hoặc diện tích dưới đường cong AUC của chất chuyển hóa có hoạt tính. Những sự thay đổi nhỏ này được xem là ít có ý nghĩa lâm sàng, do đó, ticagrelor có thể sử dụng cùng hoặc không cùng với thức ăn. Ticagrelor cũng như chất chuyển hóa có hoạt tính là những cơ chất của P-gp.

Phân bố: Thể tích phân bố ở trạng thái hằng định của ticagrelor là 87,51. Ticagrelor và chất chuyển hóa có hoạt tính liên kết cao với protein huyết tương (> 99,7%).

Chuyển hóa

CYP3A4 là men chính chịu trách nhiệm chuyển hóa ticagrelor và hình thành nên chất chuyển hóa có hoạt tính và sự tương tác với các cơ chất khác của men CYP3A có thể đi từ hoạt hóa đến ức chế.

Chất chuyển hóa chính của ticagrelor là AR-C124910XX, chất này cũng có hoạt tính khi nghiên cứu in vitro gắn kết với thụ thể P2Y12 ADP của tiểu cầu. Thời gian và nồng độ tiếp xúc với chất chuyển hóa có hoạt tính bằng khoảng 30-40% thời gian và nồng độ tiếp xúc với ticagrelor.

Thải trừ

Đường thải trừ chính của ticagrelor thông qua chuyển hóa ở gan. Khi uống ticagrelor được đánh dấu phóng xạ, hoạt tính phóng xạ được hoàn hồi trung bình khoảng 84% (57,8% ở phân, 26,5% ở nước tiểu). Sự hoàn hồi ticagrelor và chất chuyển hóa có hoạt tính trong nước tiểu đều thấp hơn 1% so với liều dùng. Đường thải trừ chính của chất chuyển hóa có hoạt tính rất có thể qua đường mật.

T1/2 trung bình khoảng 7 giờ đối với ticagrelor và 8,5 giờ đối với chất chuyển hóa có hoạt tính.

Các nhóm dân số đặc biệt

Người cao tuổi: Quan sát thấy nồng độ và thời gian tiếp xúc với ticagrelor (khoảng 25% đối với cả Cmaxvà AUC) và chất chuyển hóa có hoạt tính ở những bệnh nhân cao tuổi (≥ 75 tuổi) bị Hội Chứng Mạch Vành Cấp cao hơn so với nhóm bệnh nhân trẻ hơn theo phân tích dược động học trên các cá thể nghiên cứu. Sự khác biệt này không có ý nghĩa lâm sàng.

Trẻ em: Ticagrelor chưa được nghiên cứu trên đối tượng trẻ em.

Giới tính: Quan sát thấy nồng độ và thời gian tiếp xúc với ticagrelor và chất chuyển hóa có hoạt tính ở phụ nữ cao hơn nam giới. Sự khác biệt này không có ý nghĩa lâm sàng.

Bệnh nhân suy thận: Nồng độ và thời gian tiếp xúc với ticagrelor và chất chuyển hóa có hoạt tính thấp hơn khoảng 20% ở những bệnh nhân bị suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30ml/phút) so với những bệnh nhân có chức năng thận bình thường.

Bệnh nhân suy gan: Nồng độ đỉnh Cmax và diện tích dưới đường cong AUC của ticagrelor ở những bệnh nhân suy gan nhẹ cao hơn lần lượt là 12% và 23% so với những người khỏe mạnh bình thường. Ticagrelor không được nghiên cứu trên những bệnh nhân bị suy gan vừa hoặc nặng và chống chỉ định trên những bệnh nhân này .

Chủng tộc: Bệnh nhân có nguồn gốc châu Á có sinh khả dụng trung bình cao hơn 39% so với nhóm bệnh nhân da trắng. Bệnh nhân da đen có sinh khả dụng của ticagrelor thấp hơn18% so với bệnh nhân da trắng. Theo các nghiên cứu dược lý trên lâm sàng, nồng độ và thời gian tiếp xúc (Cmax và AUC) của ticagrelor ở bệnh nhân Nhật Bản cao hơn khoảng 40% (20% sau khi điều chỉnh trọng lượng cơ thể) so với người da trắng.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM