Thuốc Metalyse là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Metalyse (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Tenecteplase
Phân loại: Thuốc tiêu sợi huyết. Thuốc chống đông
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): B01AD11.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Metalyse
Hãng sản xuất : Boehringer Ingelheim International GmbH
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Bột đông khô pha tiêm 50 mg/lọ. Hộp 1 lọ và 1 xy lanh đóng sẵn 10 ml dung môi.
Dung dịch sau khi pha chứa 1.000 đơn vị (5 mg) tenecteplase mỗi mL.
Lọ 30 mg (6.000 IU) bột để pha dung dịch tiêm + Xy lanh đóng sẵn chứa 6 mL nước pha tiêm.
Lọ 40 mg (8.000 IU) bột để pha dung dịch tiêm + Xy lanh đóng sẵn 8 mL nước để pha tiêm.
Lọ 50 mg (10.000 IU) bột để pha dung dịch tiêm + Xy lanh đóng sẵn 10 mL nước để pha tiêm.
Thuốc tham khảo:
| METALYSE 10.000 U | ||
| Mỗi lọ bột pha tiêm có chứa: | ||
| Tenecteplase | …………………………. | 50 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Metalyse được chỉ định để làm giảm triệu chứng tiêu huyết khối trong nhồi máu cơ tim cấp (AMI). Nên tiến hành điều trị càng sớm càng tốt ngay sau khi xuất hiện triệu chứng.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Hướng dẫn sử dụng / Cách pha chế
Nên pha METALYSE bằng cách thêm toàn bộ lượng dung môi chứa sẵn trong bơm tiêm vào lọ chứa bột đông khô.
(1) Cần đảm bảo lựa chọn hàm lượng lọ phù hợp với khối lượng cơ thể của bệnh nhân.
(2) Kiểm tra nắp nhôm bao ngoài, đảm bảo vẫn còn nguyên vẹn.
(3) Bỏ nắp lọ thuốc.
(4) Gỡ nắp đậy đầu bơm tiêm. Sau đó ngay lập tức xoay gắn đầu bơm tiêm vào bộ phận tiếp hợp của lọ thuốc và xuyên qua chính giữa nút lọ bằng đầu nhọn của bộ phận tiếp hợp.
(5) Bơm nước pha tiêm vào trong lọ bằng cách ấn cần đẩy của bơm tiêm xuống từ từ để tránh tạo bọt.
(6) Hòa thuốc bằng cách xoay nhẹ lọ.
(7) Chế phẩm sau khi hòa tan là dung dịch trong suốt từ không màu đến vàng nhạt. Chỉ sử dụng dung dịch thu được trong suốt, không có bất cứ cặn nhỏ nào.
(8) Ngay trước khi sử dụng, dốc ngược lọ thuốc trong khi vẫn gắn chặt bơm tiêm để cho bơm tiêm ở phía dưới lọ thuốc.
(9) Rút một thể tích phù hợp dung dịch METALYSE mới pha vào trong bơm tiêm, dựa trên khối lượng cơ thể của bệnh nhân.
(10) Rút bơm tiêm ra khỏi bộ phận tiếp hợp của lọ thuốc.
(11) Dung dịch METALYSE nên được sử dụng cho bệnh nhân theo đường tiêm tĩnh mạch trong khoảng thời gian từ 5-10 giây. Không được đưa vào cùng đường truyền có chứa Dextrose.
(12) Bỏ tất cả phần dung dịch không dùng đến (còn thừa).
(13) Việc pha chế hòa tan thuốc có thể thực hiện theo một cách khác bằng cách dùng kim tiêm kèm theo.
Liều dùng:
METALYSE nên được sử dụng dựa trên khối lượng cơ thể, liều tối đa là 10.000 đơn vị (50 mg tenecteplase). Bảng dưới đây hướng dẫn cách tính thể tích dung địch pha cần sử dụng để có liều dùng chính xác:
| Trọng lượng cơ thể của bệnh nhân | Tenecteplase | Tenecteplase | Thể tích dung môi hoàn nguyên tương ứng |
| (Kilôgam) | (U) | (mg) | (ml) |
| ≤ 60 | 6.000 | 30 | 6 |
| ≥ 60 đến <70 | 7.000 | 35 | 7 |
| ≥ 70 đến <80 | 8.000 | 40 | 8 |
| ≥ 80 đến <90 | 9.000 | 45 | 9 |
| ≥ 90 | 10.000 | 50 | 10 |
Liều lượng cần dùng nên được tiêm tĩnh mạch nhanh một lần duy nhất trong khoảng từ 5-10 giây. Có thể sử dụng một đường truyền tĩnh mạch có sẵn mà đã dùng chỉ để truyền dung dịch Natri clorua 0,9% cho việc truyền METALYSE. Trong trường hợp dùng đường truyền, sau khi tiêm METALYSE xong cần tráng sạch đường truyền này để đảm bảo lượng thuốc vào trong tĩnh mạch hoàn toàn.
METALYSE tương kị với dung dịch dextrose.
Không được trộn lẫn METALYSE với các thuốc khác, kể cả vào lọ dung dịch tiêm truyền hoặc đường truyền (thậm chí ngay cả với heparin).
Điều trị hỗ trợ
Liệu pháp hỗ trợ chống huyết khối được khuyến cáo theo các hướng dẫn quốc tế hiện hành về điều trị bệnh nhân nhồi máu cơ tim có đoạn ST chênh lên.
4.3. Chống chỉ định:
Điều trị tiêu huyết khối thường liên quan đến nguy cơ chảy máu. Do đó chống chỉ định METALYSE cho các trường hợp sau:
Đang có rối loạn chảy máu đáng kể, hoặc trong vòng 6 tháng trước đó, có cơ địa dễ chảy máu.
Các bệnh nhân hiện đang sử dụng thuốc chống đông đường uống (INR > 1,3).
Có tiền sử tổn thương ở hệ thần kinh trung ương (ví dụ: khối u, phình mạch, phẫu thuật nội sọ, hoặc phẫu thuật cột sống).
Tăng huyết áp động mạch nặng, không kiểm soát được.
Phẫu thuật lớn, sinh thiết nhu mô các tạng hoặc có chấn thương đáng kể trong vòng 2 tháng gần đây (bao gồm bất kỳ chấn thương nào kết hợp với nhồi máu cơ tim cấp lần này) chấn thương gần đây ở vùng đầu, sọ não.
Hồi sức cấp cứu tim phổi gây chấn thương hay kéo dài (> 2 phút) trong vòng 2 tuần gần đây.
Rối loạn chức năng gan nặng bao gồm cả suy gan, xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa (giãn tĩnh mạch thực quản) và viêm gan tiến triển.
Loét đường tiêu hóa tiến triển.
Phình động mạch và đã biết bị dị dạng động/ tĩnh mạch.
Khối u có nguy cơ tăng chảy máu.
Viêm ngoại tâm mạc cấp và/hoặc viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp.
Viêm tụy cấp.
Quá mẫn cảm với hoạt chất Tenecteplase, Gentamycin (tồn dư dạng vết từ quy trình sản xuất) hoặc bất kỳ tá dược nào.
Đột quỵ xuất huyết não, đột quỵ không rõ lý do ở bất cứ thời gian nào.
Đột quỵ thiếu máu cục bộ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) trong vòng 6 tháng.
4.4 Thận trọng:
METALYSE nên được kê toa bởi các bác sỹ đã có kinh nghiệm trong việc sử dụng điều trị tiêu huyết khối và có phương tiện để theo dõi việc sử dụng này. Điều này không có nghĩa là không thể sử dụng METALYSE trước khi nhập viện. Cũng như các thuốc tiêu huyết khối khác, khi sử dụng METALYSE cần phải có các thuốc và thiết bị hồi sức chuẩn sẵn sàng trong mọi tình huống.
Can thiệp động mạch vành qua da tiên phát (PCI)
Nếu can thiệp động mạch vành tiên phát được lên kế hoạch theo các hướng dẫn điều trị phù hợp hiện hành, không nên sử dụng METALYSE như trong nghiên cứu ASSENT-4 PCI (tham khảo mục “Đặc tính Dược lý học”).
Xuất huyết
Biến chứng thông thường nhất gặp phải trong quá trình điều trị bằng METALYSE là xuất huyết. Việc sử dụng đồng thời kháng đông heparin có thể góp phần gây chảy máu. Do fibrin bị tiêu hủy trong quá trình điều trị bằng METALYSE nên có thể xuất hiện chảy máu tại vị trí vừa mới tiêm, chọc. Do đó, trong khi điều trị tiêu huyết khối cần phải theo dõi cân thận tất cả các vị trí có thể chảy máu (bao gồm các vị trí đặt catheter sau đó, chọc động mạch và tĩnh mạch, bộc lộ tĩnh mạch và tiêm, chọc bằng kim), Cần tránh việc sử dụng các catheter cứng, tiêm bắp và những thao tác không cần thiết trên bệnh nhân trong quá trình điều trị bằng METALYSE.
Nếu xuất hiện chảy máu nặng, đặc biệt là xuất huyết não, cần chấm dứt ngay lập tức việc sử dụng heparin đồng thời. Nên xem xét việc sử dụng protamine nếu heparin được sử dụng trong vòng 4 giờ trước khi xuất hiện chảy máu. Ở một số ít bệnh nhân không có đáp ứng đối với các biện pháp qui ước này, có thể thận trọng chỉ định sử dung các chế phẩm từ máu. Nên cân nhắc truyền chất kết tủa đông lạnh, huyết tương tươi đông lạnh và tiểu cầu cùng với việc đánh giá lại về mặt lâm sàng và các xét nghiệm sau mỗi lần dùng. Mức fibrinogen đích 1g/L là mức mong muốn khi truyền chất kết tủa đông lạnh. Các sản phẩm chống tiêu sợi huyết cũng nên được xem xét sử dụng.
Ở các tình huống sau, cần đánh giá cẩn thận việc điều trị bằng METALYSE để cân bằng giữa các nguy cơ chảy máu tiềm tàng và các lợi ích mong đợi.
Huyết áp tâm thu > 160 mmHg.
Xuất huyết ở đường tiêu hóa hay đường tiết niệu sinh dục gần đây (trong vòng 10 ngày gần đây).
Bất kỳ trường hợp tiêm bắp nào được ghi nhận gần đây (trong vòng 2 ngày gần đây).
Tuổi cao, nghĩa là trên 75 tuổi.
Nhẹ cân (< 60 kg).
Bệnh mạch máu não.
Loạn nhịp tim
Điều trị tiêu huyết khối ở mạch vành có thể dẫn đến loạn nhịp liên quan tới sự tái tưới máu. Loạn nhịp tái tưới máu có thể dẫn đến ngừng tim, có thể đe doạ tính mạng và có thể đòi hỏi phải sử dụng liệu pháp chống loạn nhịp quy ước.
Các thuốc đối kháng Glyco-protein IIb/IIIa
Sử dụng đồng thời thuốc đối kháng GPIIb/IIIa làm tăng nguy cơ chảy máu
Thuyên tắc huyết khối
Việc sử dụng METALYSE có thể làm tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối ở bệnh nhân có huyết khối ở tim trái ví dụ: hẹp van 2 lá hay rung nhĩ.
Quá mẫn
Chưa ghi nhận thấy sự hình thành kháng thể với tenecteplase sau khi điều trị. Tuy nhiên, chưa có kinh nghiệm về việc tái sử dụng METALYSE.
Phản ứng giống phản vệ liên quan đến việc sử dụng METALYSE hiếm khi xảy ra và có thể do quá mẫn với hoạt chất tenecteplase, gentamycin (tồn dư lượng rất nhỏ từ quy trình sản xuất) hoặc với bất kỳ tá dược nào. Nếu phản ứng giống phản vệ xảy ra, nên ngừng tiêm thuốc và điều trị phù hợp.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Không liên quan.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: C
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
Chưa có kinh nghiệm sử dụng METALYSE cho phụ nữ mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Cần đánh giá lợi ích của việc điều trị với nguy cơ tiềm tàng ở trường hợp nhồi máu cơ tim trong thai kỳ. Vẫn chưa biết liệu tenecteplase có được bài tiết qua sữa mẹ hay không.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Cũng như với các thuốc làm tiêu huyết khối khác, chảy máu là tác dụng không mong muốn thường gặp nhất liên quan tới việc sử dụng METALYSE. Chảy máu tại bất kỳ vị trí hoặc khoang cơ thể nào đều có thể xảy ra và dẫn đến các tình trạng đe dọa đến tính mạng, gây tàn phế vĩnh viễn hoặc tử vong.
Dạng xuất huyết liên quan đến việc điều trị thuốc làm tiêu huyết khối có thể chia thành hai nhóm lớn:
Chảy máu bề mặt, thường từ vị trí tiêm.
Xuất huyết nội tại bất kỳ vị trí nào hoặc khoang cơ thể.
Có thể có các triệu chứng của xuất huyết nội sọ như ngủ gà, mất vận ngôn, liệt nửa người, co giật.
Rối loạn hệ miễn dịch
Phản ứng giống phản vệ bao gồm:
Ban.
Mề đay.
Co thắt phế quản.
Phù thanh quản.
Rối loạn hệ thần kinh
Xuất huyết nội sọ như:
Xuất huyết não.
Tụ máu não.
Đột quỵ do xuất huyết não.
Đột quỵ chuyển dạng chảy máu.
Tụ máu nội sọ.
Xuất huyết dưới nhện.
Rối loạn về mắt
Chảy máu mắt
Rối loạn tim
Loạn nhịp tái tưới máu như:
Vô tâm thu.
Loạn nhịp tự thất tiến triển.
Loạn nhịp tim, ngoại tâm thu.
Rung nhĩ.
Bloc nhĩ thất độ 1 – Bloc nhĩ thất hoàn toàn.
Nhịp tim chậm, nhịp tim nhanh.
Loạn nhịp thất, rung thất.
Nhịp nhanh thất.
Xảy ra có liên chặt về mặt thời gian với điều trị bằng METALYSE.
Loạn nhịp tái tưới máu có thể dẫn đến ngừng tim, có thể đe doạ tính mạng và có thể đòi hỏi sử dụng liệu pháp chống loạn nhịp quy ước.
Xuất huyết ngoại tâm mạc.
Rối loạn mạch
chảy máu
thuyên tắc mạch
Rối loạn hệ hô hấp, ngực và trung thất
chảy máu cam
xuất huyết phổi
Rối loạn hệ tiêu hóa
Xuất huyết đường tiêu hóa như:
Xuất huyết dạ dày.
Xuất huyết do loét dạ dày.
Xuất huyết trực tràng.
Nôn ra máu.
Tiêu phân đen.
Xuất huyết trong miệng.
nôn
buồn nôn
Xuất huyết sau phúc mạc như
tụ máu sau phúc mạc
Rối loạn da và mô dưới da
Bầm máu
Rối loạn thận và hệ tiết niệu
chảy máu đường niệu, sinh dục như
tiểu ra máu
xuất huyết đường tiết niệu
Rối loạn chung và tại vị trí dùng thuốc
chảy máu tại vị trí tiêm
chảy máu tại vị trí tiêm, chọc.
Xét nghiệm
huyết áp giảm
thân nhiệt tăng,
Chấn thượng, ngộ độc và các biến chứng thủ thuật
thuyên tắc do mỡ có thể dẫn đến các hậu quả tương ứng tại các cơ quan liên quan
Các thủ thuật nội khoa và ngoại khoa
truyền máu
Các tác dụng khác
Chảy máu mắt.
Chảy máu mạch, thuyên tắc mạch.
Chảy máu cam.
Xuất huyết phổi.
Bầm máu dưới da.
Tiểu ra máu, xuất huyết đường tiết niệu.
Hạ huyết áp, thân nhiệt tăng.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Chưa có các nghiên cứn chính thức về tương tác giữa METALYSE và các thuốc thường được sử dụng ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Tuy nhiên, việc phân tích các dữ liệu từ hơn 12.000 bệnh nhân được điều trị trong các giai đoạn I, II, III đã không cho thấy bất kỳ một tương tác có ý nghĩa lâm sàng nào giữa METALYSE và các thuốc thường được sử dụng ở bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp.
Các thuốc làm ảnh hưởng tới quá trình đông máu hay những thuốc làm thay đổi chức năng tiểu cầu có thể làm tăng nguy cơ chảy máu trước, trong và sau khi điều trị với METALYSE.
4.9 Quá liều và xử trí:
Trong trường hợp quá liều có thể có tăng nguy cơ xuất huyết. Ở các trường hợp xuất huyết nặng và kéo dài, nên xem xét cách điều trị thay thế.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Tenecteplase là một protein tái tổ hợp hoạt hóa plasminogen chọn lọc trên Fibrin, được dẫn xuất từ t-PA nguyên thủy bằng cách thay đổi ở 3 vị trí trong cấu trúc Protein. Nó gắn vào thành phần Fibrin của cục máu đông và chuyển đổi một cách chọn lọc plasminogen gắn ở cục máu đông thành plasmin và phân rã mạng Fibrin của cục máu đông. Tenecteplase có tính chọn lọc trên Fibrin cao hơn và có sức đề kháng lớn hơn đối với sự bất hoạt bởi chất ức chế nội sinh (PAI-1) so với chất t-PA nguyên thủy.
Người ta nhận thấy rằng sau khi sử dụng tenecteplase, sự tiêu thụ α2-antiplasmin (chất ức chế plasmin ở pha lỏng) phụ thuộc vào liều tenecteplase từ đó làm gia tăng mức độ sản xuất plasmin toàn thân. Nhận xét này phù hợp với hiệu quả theo chủ định của việc hoạt hóa plasminogen. Các nghiên cứu so sánh, đã ghi nhận có sự giảm dưới 15% fibrinogen và dưới 25% đối với plasminogen ở các đối tưọng được điều trị với liều tối đa của tecnecteplase (10.000 IU, tương ứng 50 mg), trong khi đó alteplase làm giảm xắp xi 50% nồng độ fibrinogen và plasminogen. Không phát hiện thấy sự tạo kháng thể có ý nghĩa lâm sàng trong vòng 30 ngày.
Các dữ liệu về thông thương mạch máu từ các nghiên cứu với mạch đồ giai đoạn I và II cho thấy rằng, sử dụng tenecteplase bằng cách tiêm tĩnh mạch liều duy nhất cho hiệu quả tùy theo liều trong việc làm tan các cục máu đông ở động mạch liên quan đến nhồi máu trên bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp.
Một thử nghiệm đánh giá tỷ lệ tử vong trên quy mô lớn (ASSENT 2) trên khoảng 17.000 bệnh nhân đã cho thấy tenecteplase cho hiệu quả tương đương với alteplase trong việc giảm tỷ lệ tử vong, (6,2% cho cả hai nhóm điều trị trong vòng 30 ngày) và việc sử dụng tenecteplase cho tỷ lệ xuất huyết không phải nội sọ thấp hơn đáng kể (26,4% so với 28,9%, p = 0,0003). Giảm nguy cơ chảy máu được cho là liên quan đến tính tăng chọn lọc của teneeteplase với fibrin và phác đồ điều trị theo cân nặng.
Điều này đưa đến nhu cầu truyền máu thấp hơn đáng kể (4,3% so với 5,5%, p = 0,0002). Xuất huyết nội sọ xuất hiện với tỉ lệ là 0,93% với tenecteplase và 0,94% với alteplase. Trong 475 bệnh nhân được điều trị sau 6 giờ, có một sự khác biệt về mặt số học theo hướng có lợi cho nhóm sử dụng tenecteplase về tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày (4,3% so với 9,6%), đột quy (0,4% so với 3,39) và xuất huyết não (0% so với 1,7%).
Nghiên cứu ASSENT 3 nhằm tối ưu hóa chế độ điều trị tenecteplase dùng đồng thời với thuốc điều trị tiêu huyết khối theo hướng cài thiện tỷ lệ thông thương mạch máu sóm và duy trì tưới máu, chủ yếu để khắc phục tác động tăng đông máu nghịch lý phát sinh từ sự phóng thích thrombin bị bắt giữ do ly giải cục máu đông. Ba chế độ điều trị đồng thời với chất chống đông máu được so sánh ở 6.095 bệnh nhân:
Tenecteplase đủ liều + heparin không phân đoạn (UFH) so với teneeteplase đủ liều + heparin phân tử thấp (LMW) (enoxaparin) so với tenecteplase nửa liều + heparin không phân đoạn + abciximab đủ liều.
UFH được sử dụng theo khuyến cáo bởi Hướng dẫn AHA/ACC với liều thấp điều chỉnh theo khối lượng cơ thể như sau: Một liều đuy nhất tiêm tĩnh mạch nhanh 60 IU/kg (tối đa 4000 IU) ngay sau đó truyền tĩnh mạch 12 IU/kg/giờ (tối đa 1000 IU/giờ) trong 3 giờ đầu tiên, sau đó dùng theo kết quả aPTT cho đến 48 giờ để duy trì aPTT ở mức 50-70 giây. Tỷ lệ tử vong sau 30 ngày tương ứng là 6,0%, 5,4% và 6,6%, chảy máy nặng khi đang ở trong viện (không phải xuất huyết não) 2,16%; 3,04% và 4,32% và xuất huyết nội sọ 0,93%; 0,88% và 0,94%.
Phác đồ liều thấp heparin không phân đoạn được điều chỉnh theo khối lượng cơ thể theo khuyến cáo ACC/AHA được sử dụng trong ASSENT 3 cùng với tenecteplase cho thấy giảm chảy máu toàn thân nhưng tỷ lệ xuất huyết não giống như khi dùng phác đồ liều tấn công mạnh hơn với heparin không phân đoạn được sử dụng trong ASSENT 2 mà không làm mất hiệu quả.
ASSENT 3 PLUS, một nghiên cứu vệ tinh của ASSENT 3, được thiết kế để tìm hiếu việc điều trị trước khi nhập viện, Hiệu quả và tính an toàn của tenecteplase đủ liều + heparin không phân đoạn so với tenecteplase đủ liều + heparin phân tử thấp (LMW) (enoxaparin) đã được đánh giá trên 1639 bệnh nhân.
Thiết kế nghiên cứu và liều điều trị được sử dụng giống với nghiên cứu ASSENT 3. Điều trị tái tưới máu trước khi nhập viện với tenecteplase và UFH hoặc enoxaparin cho phép điền trị trong vòng 2 giờ từ khi triệu chứng bắt đầu xuất hiện trong > 50% bệnh nhân bị STEMI.
Từ các nghiên cứu ASSENT 3 và 3 PLUS, điều trị kết hợp với enoxaparin trước khi nhập viện cũng như đang nằm viện làm giảm tỷ lệ các biến chứng đột quy khi so sánh với điều trị kết hợp cùng UFH: tỷ lệ tiêu chí gộp về hiệu quả ở ngày 30 (tử vong, tái nhồi máu, thiếu máu cục bộ kháng trị) tương ứng là 11,4% so với 15,4% trong ASSENT 3 và 14,2% so với 17,4% ở ASSENT 3 PLUS.
Tuy nhiên, trong việc điều trị trước khi nhập viện, teneeteplase với enoxaparin ở liều được sử dụng đi kèm với nguy cơ gia tăng bị chảy máu nặng và xuất huyết não ở những bệnh nhân trên 75 tuổi.
Sự thông thương mạch vành và dữ liệu kết quả lâm sàng còn hạn chế cho thấy điều trị có thể thành công sau 6 giờ khởi phát triệu chứng ở những bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp.
Nghiên cứu ASSENT-4 PCI được thiết kế để chứng minh trên 4000 bệnh nhân có nhồi máu cơ tim diện rộng liều điền trị trước đó với tenecteplase đủ liều và heparin không phân đoạn, liều duy nhất lên đến 4000 TU tiêm nhanh TU, trước khi tiến hành can thiệp động mạch vành qua da (PCI) tiên phát trong thời gian 60 đến 180 phút, có cho kết quả tốt hơn so với khi chỉ tiến hành PCI tiên phát. Thử nghiệm này bị kết thúc sớm sau khi chọn ngẫu nhiên được 1667 bệnh nhân do tỷ lệ tử vong cao hơn về mặt số học ở nhóm PCI được dùng thêm tenecteplase. Sự xuất hiện các biến cố của tiêu chí chính, gồm tử vong hoặc sốc tim hoặc suy tim sung huyết trong vòng 90 ngày, cao hơn đáng kể so với nhóm dùng trị liệu thử nghiệm tenecteplase trước khi tiến hành PCI khẩn cấp thường quy: 18,6% (151/810) so với 13,4% (110/819) trong nhóm chỉ tiến hành PCI, p = 0,0045. Sự khác biệt đáng kể này giữa các nhóm về tiêu chí chính tại thời điểm 90 ngày cũng đã có khi đang nhập viện và tại thời điểm 30 ngày. Về mặt số học, tất cả các yếu tố của tiêu chí gộp lâm sàng ủng hộ cho phác đồ chỉ có PCI lần lượt như sau: tử vong: 6,7% so với 4,9% p = 0,14; sốc tim: 6,3% so với 4,8% p = 0,19; suy tim sung huyết: 12,0% so với 9,2% p = 0,06. Các tiêu chí phụ tái nhồi máu và phải lặp lại can thiệp tái tưới máu mạch vành đích tăng đáng kể ở nhóm được điều trị trước đó với tenecteplase: tái nhồi máu: 6,1% so với 3,7% p = 0,0279; lặp lại can thiệp tái tưới máu: 6,6% so với 3,4% p = 0,0041.
Các tác dụng ngoại ý sau đây xuất hiện với tần xuất cao hon khi dùng tenecteplase trước khi PCI: xuất huyết nội sọ: 1% so với 0% p = 0,0037; đột quy: 1,8% so với 0% p < 0,0001; chảy máu nặng: 5,6% so với 4,4% p = 0,3118; chảy máu nhẹ: 25,3% so với 19,0% p = 0,0021; truyền máu: 6,2% so với 4,2% p = 0,0873; tắc mạch đột ngột: 1,9% so với 0,1% p = 0,0001.
Cơ chế tác dụng:
Tenecteplase là một protein có nguồn gốc từ t-PA , tác động theo một cơ chế phức tạp với cả plasminogen liên kết và không liên kết với fibrin trong tuần hoàn để tạo thành một phức hợp hoạt hóa. Phức hợp này biến đổi plasminogen còn dư thành plasmin là enzym thủy phân protein, có tác dụng tiêu fibrin và có thể làm tan các cục máu đông trong lòng mạch. Plasmin giáng hóa fibrin, fibrinogen và các protein gây đông máu trong huyết tương. Mặc dù plasmin bị bất hoạt bởi các chất ức chế trong máu như: alpha2-antiplasmin và alpha2-macroglobulin, các chất ức chế này bị giảm đi (rất nhanh với liều cao) trong quá trình điều trị bằng Tenecteplase.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Tenecteplase là một protein tái tổ hợp được sử dụng dưới dạng tiêm tĩnh mạch có tác dụng hoạt hóa Plasminogen. Tenecteplase được đào thải ra khỏi tuần hoàn bằng cách gắn vào các thụ thể đặc hiệu ở gan, sau đó được chuyển hóa thành các peptides nhỏ. Tuy nhiên việc gắn kết của Tenecteplase vào các thụ thể ở gan thấp hơn so với chất hoạt hóa Plasminogen mô (t-PA) nguyên thủy, dẫn đến thời gian bán thải kéo dài. Các dữ liệu về sự phân bố trong mô và sự thải trừ được thu thập từ các nghiên cứu với Tenecteplase được đánh đấu đồng vị phóng xạ trên chuột. Cơ quan chính Tenecteplase phân bố tới là gan. Người ta còn chưa biết được liệu Tenecteplase có gắn vào protein huyết tương ở người hay không và tới mức độ nào.
Sau khi tiêm tĩnh mạch nhanh liều duy nhất tenecteplase ở các bệnh nhân có nhồi máu co tim cấp, kháng nguyên Tenecteplase cho thấy sự đào thải 2 pha ra khỏi huyết tương. Trong phạm vi liều điều trị, độ thanh thải của tenecteplase là không phụ thuộc theo liều. Thời gian bán thải ưu thế ở pha đầu của tenecteplase là 24 ± 5,5 phút (giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn) dài hơn gấp 5 lần thời gian tương ứng của t-PA cơ thể. Thời gian bán thải sau là 129 ± 97 phút và độ thanh thải huyết tương là 119 ± 49 mL/phut.
Tăng trọng lượng cơ thể dẫn đến tăng vừa phải độ thanh thải của Tenecteplase và khi tuổi tăng lên dẫn đến giảm nhẹ độ thanh thải. Nhìn chung, ở phụ nữ có độ thanh thải thấp hơn so với nam giới, nhưng điều này có thể được giải thích là đo khối lượng cơ thể của nữ thường thấp hơn nam.
Do tenecteplase được đào thải qua gan, ít có khả năng suy chức năng thận sẽ làm ảnh hưởng tới dược động học của METALYSE. Điều này cũng được ủng hộ bởi các nghiên cứu trên động vật. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của suy chức năng gan và thận lên được động học của tenecteplase ở người vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên biệt.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: L-Arginin, Aeid Phosphorie, Polysorbat 20.
6.2. Tương kỵ :
METALYSE tương kỵ với dung dịch dextrose.
Không nên thêm bất kỳ thuốc nào vào dung dịch tiêm hay đường truyền dịch của tenecteplase.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30°C. Giữ lọ thuốc tiêm trong hộp thuốc để tránh ánh sáng
Dung dịch đã pha:
Độ ổn định của thuốc về lý tính và hóa tính giữ được suốt 24 giờ ở nhiệt độ 2 – 8°C và trong 8 giờ ở 30°C.
Về mặt vi sinh học, thuốc nên được sử dụng ngay lập tức sau khi hòa tan. Nếu không dùng ngay lập tức, thời gian bảo quản và tình trạng thuốc trước khi sử dụng là do người sử dụng chịu trách nhiệm và thường không quá 24 giờ ở 2 – 8°C hoặc 8 giờ ở 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM