Thuốc Sevoflurane Baxter là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Sevoflurane Baxter (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Sevoflurane
Phân loại: Thuốc mê đường hô hấp.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01AB08.
Biệt dược gốc: Sevorane
Biệt dược: Sevoflurane
Hãng sản xuất : Baxter Healthcare Corporation – USA
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Chất lỏng không màu, bay hơi, lọ 250 ml.
Thuốc tham khảo:
| SEVOFLURANE | ||
| Mỗi lọ 250ml có chứa: | ||
| Sevoflurane (100%) | …………………………. | 250 ml |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Sevoflurane được chỉ định trong khởi mê và duy trì mê trong gây mê ở người lớn và trẻ em, cho phẫu thuật nội và ngoại trú.
Sevoflurane chỉ được sử dụng bởi kỹ thuật viên gây mê đã được đào tạo. Cần chuẩn bị sẵn các phương tiện dùng để duy trì thông khí, thông khí nhân tạo, oxy, phục hồi tuần hoàn. Do mức độ mê có thể thay đổi nhanh chóng, chỉ sử dụng các bình bốc hơi Sevoflurane chuyên biệt để cho được mức nồng độ liều ổn định..
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng đường hô hấp.
Hướng dẫn đổ thuốc vào bình bốc hơi

Sevoflurane được đóng trong chai có cổ có khóa và được đồ vào bình bốc hơi thiết kế cho việc sử dụng Sevofiurane qua một bộ phận kết nối.
(1). Gỡ vỏ bọc và nắp ra khỏi chai thuốc mê và đừng để cổ chai bị hỏng.
(2). Đặt phần đầu rộng của bộ phận kết nối lên cổ chai, để cho các lỗ trên bộ phần kết nối thẳng hàng với các nút nối trên cổ chai và gắn chặt vào. Màu của bộ phận kết nôi phải tương ứng với màu trên cổ chai.
(3). Gắn phần đầu còn lại của bộ phận kết nối vào bình bốc hơi theo hướng dẫn ghi trên bình bốc hơi và đổ đầy thuốc vào bình bốc hơi.
(4). Tháo bộ phận kết nối khỏi bình bốc hơi và để cho phầnn Sevoflurane dư chảy lại vào chai trước khi tháo bộ phận kết nối khỏi chai.
(5). Dùng nắp đậy kín chai.
Liều dùng:
Sevoflurane được dùng qua đường hít. Sevoflurane cần được phân phối qua bình bốc hơi chuyên biệt được thiết kế đặc thù cho Sevoflurane. Liều dẫn mê và duy trì mê phải dựa theo từng bệnh nhân và mức độ tăng liều phụ thuộc và độ tuổi và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.
THAY ĐỔI CHẤT HẤP PHỤ CO2: Khi nghi ngờ chất hấp phụ CO2 bị khô thì cần phải thay thế ngay. Chất hấp thụ CO2 không được để bị khô khi sử dụng thuốc mê hô hấp.
CÁC THUỐC TIỀN MÊ: Không có chỉ định hay chống chỉ định đặc hiệu một loại thuốc tiền mê nào đối với Sevoflurane.
KHỞI MÊ: Sevoflurane không có mùi hăng và không gây kích ứng hô hấp;
DUY TRÌ MÊ: Mức độ mê phẫu thuật thường đạt được ở nồng độ Sevoflurane 0.5-3% kèm hay không kèm theo N2O. Sevoflurane có thể được sử dụng với bất kỳ kiểu vòng gây mê nào.
Bảng 9: Giá trị MAC cho người lớn và trẻ em theo độ tuổi
| Tuổi bệnh nhân (năm) | Sevoflurane trong oxy | Sevoflurane trong 65% N2O/35% O2 |
| 0 – 1 tháng #
1 – <6 tháng 6 tháng – <3 tuổi 3-12 25 40 60 80 |
3.3%
3.0% 2.8% 2.5% 2.6% 2.1% 1.7% 1.4% |
2.0%@
1.4% 1.1% 0.9% 0.7% |
# Trẻ sơ sinh đủ tuổi thai. Chưa xác định được MAC ở trẻ sinh non.
@ Ở trẻ l – <3 tuổi, sử dụng 60% N2O/40% O2..
4.3. Chống chỉ định:
Sevoflurane chống chỉ định trên các bệnh nhân.
Mẫn cảm với sevoflurane hay với các thuốc mê đường hô hấp dẫn xuất halogen khác.
Đã từng hoặc có nghi ngờ nhạy cảm với sốt cao ác tính.
Có tiền sử viêm gan do thuốc gây mê halogen đường hô hấp hoặc có tiền sử rối loạn chức năng gan trung bình đến nặng không giải thích được (ví dụ vàng da kết hợp với sốt và/hoặc tăng bạch cấu ưa eosin) sau khi gây mê với Sevoflurane hoặc các thuốc gây mê đường hô hấp dẫn xuất halogen.
Bệnh nhân chống chỉ định với gây mê toàn thân.
4.4 Thận trọng:
ẢNH HƯỞNG TRÊN THẬN VÀ SỬ DỤNG Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN
Mặc dù dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát ở lưu lượng thấp còn giới hạn, kết quả nghiên cứu được lấy từ bệnh nhân và động vật cho thấy có nguy cơ tổn thương thận được cho là do hợp chất A. Nghiên cứu trên người và động vật đã chứng minh rằng chỉ định Sevoflurane hơn 2 MAC.giờ và lưu lượng khí hít vào < 2 L/phút có thể liên quan đến protein niệu và đường niệu.
Trong khi chưa xác định được nồng độ hợp chất A gây độc tính ở thận trên lâm sàng, điều cần thiết là phải xem xét tất cả các yếu tố liên quan đến hợp chất A ở người, đặc biệt thời gian tiếp xúc, lưu lượng khí hít vào và nồng độ Sevoflurane. [Pharmog].Trong khi gây mê bằng Sevoflurane bác sĩ gây mê cần điều chỉnh liều trong hỗn hợp gây mê và lưu lượng khí sử dụng để hạn chế sự tiếp xúc với hợp chất A. Và để hạn chế nồng độ hợp chất A, nồng do sevoflurane sử dụng không quá 2 MAC.giờ với lưu lượng khí từ 1 đến <2 L/phút. Không khuyến cáo sử dụng lưu lượng khí hít vào <1 L/phút.
Kinh nghiệm lâm sàng trong sử dụng Sevoflurane cho bệnh nhân suy thận (creatinn >1.5 mg/dL) còn giới hạn, tính an toàn chưa được thiết lập. Thận trọng khi chỉ định dùng Sevoflurane cho bệnh nhân suy giảm chức năng thận và bệnh nhân phải giám sát chức năng thận trước khi phẫu thuật.
HÌNH THÀNH CÁC SẢN PHẨM GIÁNG HÓA
Sự giáng hóa và việc hình thành các sản phẩm giáng hóa như methanol, formaldehyde, carbon monoxide, và Hợp chất A, B, C, D, và E) tăng lên khi chất hấp thụ CO2 bị khô (đặc biệt là các chất hấp thụ có chứa Kali hydroxid), khi nhiệt độ của hấp thụ tăng và khi nồng độ sevoflurane tăng.
NGUY CƠ KẾT HỢP VỚI CHẤT HẤP THỤ CO2
Khi tiếp xúc với chất hấp phụ CO2 kiềm trong máy gây mê, Sevoflurane có thể bị phân hủy trong điều kiện nhất định.
Sevoflurane không nên sử dụng cùng với hấp hấp thụ CO2 khô.
Potassium hydroxide có chứa chất hấp thụ CO2 không được khuyến khích sử dụng với Sevoflurane.
Khi nghi ngờ chất hấp thụ CO2 bị khô, nên thay thế chất hấp thụ trước khi sử dụng. Chất chỉ thị mầu của hầu hết chất hấp thụ CO2 không nhất thiết phải thay đổi như kết quả của sự làm khô. Vì vậy, việc mầu sắc các chất chỉ thị không thay đổi không đảm bảo rằng sản phẩm đạt độ âm cần thiết.
Chất hấp thụ CO2 nên được thay thường xuyên theo hướng dẫn sử dụng thiết bị gây mê.
PHẢN ỨNG TỎA NHIỆT
Các phản ứng tỏa nhiệt xảy ra khi sevoflurane tiếp xúc với chất hấp thụ CO2, phản ứng này tăng lên khi chất hấp thụ CO2 trở nên khô, như sau giai đoạn kéo dài của dòng khí khô đi qua bình chứa chất hấp thụ CO2. Rất hiếm gặp các trường hợp nhiệt độ tăng lên quá cao, khói và/hoặc bốc cháy trong máy gây mê được báo cáo trong quá trình sử dụng sevoflurane cùng với chất hấp phụ CO2 bị khô.
Có sự tăng chậm và bất thường hoặc giảm không mong muốn hàm lượng sevoflurane hít vào trong bình bốc hơi chuyên biệt được hình thành, điều này có thể có mối liên hệ với việc tăng nhiệt độ quá mức của các bình chứa chấp hấp thụ CO2.
SỐT CAO ÁC TÍNH
Trên đối tượng bệnh nhân nhạy cảm thì việc sử dụng các thuốc mê đường hô hấp kể cả Sevoflurane có thể khởi phát tình trạng tăng chuyển hóa cơ xương, dẫn đến nhu cầu oxy cao và hội chứng lâm sàng được biết đến là sốt cao ác tính. Hội chứng lâm sàng được báo hiệu bởi tăng CO2 huyết, và có thể bao gồm cứng cơ, nhịp tim nhanh, thở nhanh, tím tái, loạn nhịp tim, và / hoặc huyết áp không ổn định. Một vài dấu hiệu không đặc thù này có thể xuất hiện khi gây mê nhẹ, thiếu oxy cấp tính, tăng CO2 (ưu thán) và giảm thể tích. Tử vong do sốt cao ác tính đã được báo cáo.
Điều trị sốt cao ác tính bao gồm ngưng ngay các thuốc gây phản ứng tăng thân nhiệt, tiêm tĩnh mạch dantrolene natri, và áp dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ (tham khảo thông tin kê toa đối với dantrolene natri để kiểm soát tình trạng này cho bệnh nhân). Suy thận cấp có thể xảy ra sau đó và cần phải theo dõi lưu lượng nước tiểu và duy trì lưu lượng nước tiểu nếu có thể.
HỘI CHỨNG TY THỂ
Lưu ý thận trọng khi chỉ định gây mê toàn thân nói chung, trong đó có việc dùng sevoflurane, trên các bệnh nhân có rối loạn ở ty thể.
TĂNG KALI SAU PHẪU THUẬT
Việc sử dụng các thuốc mê đường hô hấp thường hiếm khi liên quan đến sự gia tăng nồng độ kali trong huyết thanh dẫn đến rối loạn nhịp tim và tử vong ở trẻ em trong giai đoạn hẫu phẫu. Bệnh nhân có bệnh thần kinh tiềm ẩn hoặc bệnh thần kinh-cơ, đặc biệt bệnh teo cơ Duchenne dễ xảy ra các biến chứng trên. Ngừng tim do tăng kali máu đã được báo cáo trên 1 trẻ mắc bệnh teo cơ Duchenne sau khi gây mê bằng sevoflurane. Trong một vài trường hợp, việc sử dụng đồng thời với succinylcholine có liên quan với phần lớn các biến chứng này. Các bệnh nhân này cũng có dấu hiệu tăng nồng độ creatine kinase huyết thanh và biến đổi trong nước tiểu phù hợp với dấu hiệu myoglobin niệu. Mặc dù dấu hiệu tương tự như trong sốt cao ác tính, nhưng không có bệnh nhân nào có triệu chứng cứng cơ hoặc tăng chuyển hóa. Cần can thiệp sớm trong điều trị tăng kali huyết và chống loạn nhịp, cũng như việc đánh giá bệnh thần kinh cơ tiêm ẩn.
KÉO DÀI KHOẢNG QT
Đã có một sô báo cáo đơn lẻ về tình trạng kéo dài khoảng QT,có rất ít mối liên hệ với tình trạng xoắn đỉnh.Thận trọng khi chỉ định gây mê sevoflurane cho các đối tượng bệnh nhân nhạy cảm.
CẢNH BÁO
Cảnh báo chung
Tât cả bệnh nhân được gây mê băng Sevoflurane nên được giám sát chặt chẽ trong điều trị.
Hạ huyết áp và suy hô hấp
Hạ huyết áp và suy hô hấp tăng khi nồng độ sevoflurane tăng.
Do Sevoflurane khéng tan trong mau, nhữngthay đổi về huyết động học có thể xảy ra nhanh hơn so với các thuốc gây mê bay hơi khác. Hạ huyết áp quá mức hoặc suy hô hấp có thể liên quan đến độ sâu của gây mê và có thể điều chỉnh bằng cách giảm nồng độ Sevofiurane.
Co giật
Việc sử dụng Sevoflurane có liên quan |đến co giật. Đa số cáctrường hợp co giật xuất hiện ở trẻ nhỏ và bệnh nhân trẻ tuổi, hầu hết trong số này đều không có yếu tố nguy cơ trước đó. Tác động gây động kinh đã xuất hiện ở mức phụ thuộc liều và tăng lên khi gây mê sâu. Cần thận trọng đánh giá lợi ích, nguy cơ khi chỉ định gây mê với Sevoflurane trên các bệnh nhân có nguy cơ co giật.
Sự hồi tỉnh sau khi gây mê tổng quát cần được đánh giá thận trọng trước khi chuyên bệnh nhân ra khỏi phòng hồi sức.
Đánh giá sự hồi tỉnh trước khi ra khỏi phòng phẫu thuật.
Cần thân trọng đánh giá khả năng hồi tỉnh sau khi gây mê toàn thân trước khi đưa bệnh nhân ra khỏi phòng hậu phẫu.
Phản ứng trên gan
Đã có báo cáo về tình trạng rối loạn chức năng gan sau phẫu thuật nhẹ đến trung bình hoặc nghiêm trọng hay viêm gan có kèm theo vàng da hoặc không, bao gồm cả trường hợp tử vong do gan bị hoại tử hoặc suy gan, đã được báo cáo trong các gây mê có Sevoflurane.
Các bằng chứng lâm sàng cần được đưa ra đánh giá khi cần chỉ định gây mê bằng Sevoflurane trên các bệnh nhân vừa trải qua các tình trạng về gan hoặc đang điều trị với các thuốc có thể gây suy giảm chức năng gan.
Bệnh nhân có tiếp xúc trở lại với các dẫn xuất halogen hóa của hydrocarbon trong một thời gian ngắn có nguy cơ tăng các tổn thương tại gan.
Sử dụng thuốc trên các bệnh nhân bệnh mạch vành
Trên các bệnh nhân có bệnh lý mạch vành, điều quan trọng là phải duy trì huyết động bình thường đề tránh nhồi máu cơ tim.
Dùng thuốc trên bệnh nhân giảm thể tích máu, huyết áp thấp hoặc bệnh nhân có huyết động bị tổn thương
Sevoflurane có tác dụng ức chế tim. Sử dụng Sevoflurane có thể gây giảm tác dụng làm dịu trên tim và giảm mức đề kháng của mạch máu toàn thân ở mức phụ thuộc liều điều trị.
Cần chăm sóc đặc biệt khi chỉ định liều gây mê trên các bệnh nhân có tiền sử giảm lưu lượng máu, giảm huyết áp hoặc các bệnh lý giảm huyết động khác, ví dụ do các thuốc điều trị phối hợp.
Dùng thuốc trên các bệnh nhân có nguy cơ hoăc bệnh nhân tăng áp lực nội sọ
Cần đặc biệt thận trọng khi chỉ định gây mê trên các bệnh nhân có nguy cơ hoặc đã có tình trạng tăng áp lực nội sọ, phối hợp với các biện pháp điều trị làm giảm áp lực nội sọ ví dụ biện pháp tăng thông khí.
Quá mẫn, đau đầu và tăng men gan ở người tiếp xúc do nghề nghiệp
Phản ứng quá mẫn (biểu hiện bằng phản ứng phản vệ, khó thở, thở khò khè, phát ban, viêm da tiếp xúc, sưng mặt, tức ngực), nhức đầu và tăng men gan đã được báo cáo ở những người có tiếp xúc với các thuốc gây mê dạng hít, bao gồm Sevoflurane.
DÙNG THUỐC Ở NGƯỜI CAO TUỔI
MAC giảm khi tuổi tăng.
DÙNG THUỐC TRÊN TRẺ EM
Nồng độ Sevoflurane cần thiết cho duy trì mê trong gây mê toàn thân phụ thuộc vào độ tuổi. Khi sử dụng kết hợp với nito oxit, MAC tương ứng nên giảm ở bệnh nhân nhi. MAC của Sevoflurane ở trẻ đẻ non chưa được xác định.
Việc sử dụng Sevoflurane có liên quan đến co giật. Đa số các trường hợp co giật xuất hiện ở trẻ nhỏ và bệnh nhân trẻ tuổi, hầu hết trong số này đều không có yếu tố nguy cơ trước đó.
Thoát mê trên trẻ nhỏ có thế tạo ra một trạng thái kích động ngắn làm ảnh hưởng đến sự hợp tác điều trị.
Rối loạn trương lực vận động đã được quan sát thấy trên trẻ được dẫn mê có sử dụng Sevoflurane.
Tuy nhiên, mối liên hệ trực tiếp đến Sevoflurane vẫn còn chưa rõ ràng.
Chậm nhịp tim đã được báo cáo trên bệnh nhi bị hội chứng Down được gây mê với Sevoflurane. Một số trường hợp cá biệt của tình trạng loạn nhịp thất đã được báo cáo trên trẻ bị Hội chứng Pompe.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Thông báo cho bệnh nhân biết: hiệu suất của các hoạt động đòi hỏi sự tỉnh táo về tinh thần như lái xe hay vận hành máy móc có thể bị suy giảm một thời gian sau khi gây mê toàn thân.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B2
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Sevoflurane đã được sử dụng trong gây mê tổng quát trong phẫu thuật mổ sinh bắt con cesar ở 29 phụ nữ có thai. Không có tác dụng bất lợi trên cả mẹ lẫn trẻ sơ sinh. Chưa xác định được tính an toàn của Sevoflurane ở phụ nữ chuyển dạ và sinh con. Thận trọng khi chỉ định trong gây mê sản khoa do tác động giãn cơ của Sevoflurane trên tử cung và tăng xuất huyết tử cung.
Chuyển dạ và sanh con:
Sevoflurane đã được sử dụng trong gây mê tông quát trong phẫu thuật mê sanh bắt con cesar ở 29 phụ nữ có thai. Không có tác dụng bất lợi trên cả mẹ lẫn trẻ sơ sanh (xem mục DƯỢC LÝ LÂM SÀNG, Thử nghiệm lâm sàng). Chưa xác định được tính an toàn của Sevoflurane ở phụ nữ chuyển dạ và sanh con.
Thận trọng khi chỉ định trong gây mê sản khoa do tác động giãn cơ của Sevoflurane trên tử cung và tăng xuất huyết tử cung
Thời kỳ cho con bú:
Nồng độ Sevoflurane trong sữa có thể không gây tác động gì trên lâm sàng sau khi gây mê. Do thuốc được đào thải nhanh khỏi cơ thể, nồng độ Sevoflurane trong sữa thấp hơn so với nồng độ của những thuốc mê đường hô hấp khác.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các biến cô bắt lợi rút ra từ những nghiên cứu lâm sàng tiến hành ở USA, Canada và Châu Âu. Trong 5182 bệnh nhân được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng, có 2906 được chỉ định sử dụng Sevoflurane trong đó có 118 bệnh nhân người lớn và 507 bệnh nhân nhi được gây mê bằng mặt nạ gây mê. Mỗi bệnh nhân được tính là một lần cho mỗi loại phản ứng bất lợi xảy ra. Những phản ứng bất lợi chỉ nhận được ở những bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng và được xem là có thể liên quan đến việc sử dụng Sevoflurane được trình bày theo hệ cơ quan của cơ thể với tần suất giảm dần. Có 1 trường hợp xuất hiện phản ứng tăng thân nhiệt ác tính trong các thử nghiệm lâm sàng.
Các biến cố bất lợi, Tất cả bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng(N = 2906), Tất cả giai đoạn mê, Tần suất <1% (ghi nhận ở 3 hay nhiều bệnh nhân)
Toàn thân: Dị cảm, đau
Tim-mạch: Loạn nhịp, Ngoại tâm thu thất, Ngoại tâm thu trên thất, Nghẽn nhĩ-thất hoàn toàn, Nhịp đôi, Xuất huyết, Sóng T lõm, Rung nhĩ, Loạn nhịp nhĩ, Nghẽn nhĩ thất mức độ 2, ngất, giảm S-T
Hệ thần kinh: Khóc, Căng thẳng, Nhầm lẫn, Tăng trương lực, Khô miệng, mất ngủ
Hệ hô hấp: Tăng tiết đàm, Ngưng thở, Thiếu oxy, Khò khè, Co thắt phế quản, Tăng thông khí, Viêm hầu, Nấc, Giảm thông khí, Khó thở
Dinh dưỡng và Chuyển hóa: Tăng LDH, AST, ALT, BUN, Alkaline Phosphatase, Creatinine, Bilirubin máu, Glucose niệu, Fluor, Albumin niệu, giảm phosphate huyết, nhiễm acid, tăng glucose huyết
Hệ thống miễn dịch và Bạch huyết: Tăng bạch cầu, Giảm tiểu cầu
Trên da và xúc giác: Giảm thị lực, Ngứa, Thay đổi vị giác, Nổi mẩn, Viêm kết mạc.
Niệu-Sinh dục: Rối loạn tiểu tiện, bất thường nước tiểu, bí tiểu, thiểu niệu.
Xem mục THẬN TRỌNG về thông tin liên quan đến tăng thân nhiệt ác tính.
Các phản ứng bất lợi sau khi lưu hành thuốc trên thị trường: Các báo cáo sau khi lưu hành thuốc cho thấy Sevoflurane có liên quan tới tình trạng co giật và rối loạn trương lực cơ.
Các phản ứng bất lợi sau khi lưu hành thuốc trên thị trường:
Ngoài các phản ứng bất lợi được báo cáo trong các nghiên cứu lâm sàng, các tác dụng không mong muốn sau đã được ghi nhận sau thời gian lưu hành thuốc trên thị trường
RỐI LOẠN HỆ MIỄN DỊCH: Phản ứng dị ứng/quá mẫn và các triệu chứng rầm rộ như phản ứng phản vệ hoặc kiểu phản vệ, phù mặt, phù mí mắt, chàm, ban, ngứa, phù, viêm da do tiếp xúc, đau ngực
RỐI LOẠN TRÊN CHUYỂN HÓA VÀ DINH DƯỠNG: thiếu máu
RỐI LOẠN HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG: co giật, tăng áp lực nội sọ, rối loạn trương lực cơ.
RỐI LOẠN TIM: Ngưng tim, rung tâm thất, xoắn đỉnh, nhịp nhanh thất, kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ.
RỐI LOẠN HỆ HÔ HẤP, NGỰC, TRUNG THẤT: Suy hô hấp.
RỐI LOẠN ĐƯỜNG TIÊU HÓA: viêm tụy
RỐI LOẠN GAN MẬT: suy gan, hoại tử gan, viêm gan, vàng da
RỐI LOẠN XƯƠNG VÀ CƠ XƯƠNG, MÔ LIÊN KẾT: tiêu cơ vân, cứng cơ bắp
RỐI LOẠN HỆ THẬN VÀ TIẾT NIỆU: Suy thận, viêm ống thận
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Điều trị sốt cao ác tính: Ngừng thuốc, tiêm tĩnh mạch dantrolen natri và áp dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ. Suy thận có thể xảy ra muộn hơn, phải theo dõi lượng nước tiểu của người bệnh.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Trong các thử nghiệm lâm sàng, không xảy ra các phản ứng bất lợi có ý nghĩa nào với các thuốc thường được sử dụng trong suốt quá trình phẫu thuật như: thuốc ức chế thần kinh trung ương, thuốc tác động trên hệ thần kinh tự động, thuốc giãn cơ-xương, thuốc chống nhiễm trùng, hormone và các thuốc thay thế tổng hợp khác, dẫn xuất máu và các thuốc tim-mạch.
THUỐC MÊ QUA ĐƯỜNG TĨNH MẠCH:
Sevoflurane tương thích với barbiturates, propofol, và các thuốc gây mê tĩnh mạch thông thường khác. Có thể chỉ cần nồng độ thấp hơn của Sevoflurane khi dùng sau một thuốc mê đường tĩnh mạch.
BENZODIAZEPINE VÀ CÁC OPIOID:
Benzodiazepine và opioid dự kiến làm giảm MAC của sevoflurane. Các thuốc giảm đau họ á phiện Opioid, như fentanyl,alfentanil và sufentanil, khi được chỉ định điều trị với Sevoflurane có thể gây giảm hiệp đồng nhịp tim, áp suất máu và tốc độ thở.
NITRO OXIDE:
Như với thuốc gây mê đê bay hơi dẫn xuất halogen khác, MAC của Sevoflurane giảm khi dùng kết hợp với nitơ oxit
CÁC THUỐC CHẸN THẦN KINH-CƠ:
Cũng như các thuốc gây mê đường hô hấp khác, Sevoflurane làm tăng cường độ và thời gian tác động chẹn thần kinh-cơ gây ra bởi các thuốc giãn cơ không gây khử cực như pancuronium, vecuronium, hay atracurium. Vi thé, khi gây mê bằng Sevofiurane, điều chỉnh liều các thuốc giãn cơ tương tự như với isoflurane.
Mức độ của hiệu ứng giãn cơ gây ra bởi Sevoflurane đòi hỏi sự cân bằng giữa cơ và áp suất của Sevoflurane. Giảm liều của các tác nhân chẹn thần kinh cơ trong quá trình dẫn mê có thể làm chậm quá trình tương thích cho đặt nội khí quản hoặc giãn cơ.
Trong các tác nhân không gây khử cực, chỉ mới có nghiên cứu tương tác giữa Sevoflurane với Vecuronium, pancuronium và atracurium. Trong trường hợp không có hướng dẫn cụ thể:
(1). Đặt nội khí quản, không giảm liều thuốc giãn cơ không gây khử cực.
(2). Trong duy trì mê, liều thuốc giãn cơ không khử cực có thể giảm so với khi dùng hỗn hợp gây mê với N2O/opioid. Chỉ định liều bổ sung của thuốc giãn cơ nên dựa vào đáp ứng với kích thích thần kinh. Ảnh hưởng của Sevoflurane lên thời gian khử cực phong tỏa thần kinh cơ gây ra bởi succinylcholine chưa được nghiên cứu.
EPINEPHRINE/ADRENALINE
Sevoflurane có mức nhạy cảm trén co tim trong tu isoflurane về các ảnh hưởng rối loạn nhịp khi sử dụng với adrenaline ngoại sinh. Khi chỉ định adrenaline tiêm bắp với mức liều lớn hơn 5mcg/kg có thể gây loạn nhịp thất dạng phối hợp.
KÍCH THÍCH THẦN KINH GIAO CẢM KHÔNG TRỰC TIẾP
Khi sử dụng Sevoflurane cùng với các thuốc kích thích thần kinh giao cảm gián tiếp (amphetamines, ephedrine), có thể có nguy cơ tăng cấp tính huyết áp theo các giai đoạn.
THUỐC CHẸN BETA
Sevoflurane có thể làm tăng tác dụng âm tính lên sức co bóp, nhịp đập và dẫn truyền cơ tim của các thuốc chẹn beta bởi sự ngăn chặn cơ chế bù trừ của hệ tim mạch.
VERAPAMIL
Suy giảm dẫn truyền nhĩ thất đã được quan sát thấy khi verapamil được sử dụng cùng với Sevoflurane.
CÁC CHẤT GÂY CẢM ỨNG ISOENZYM CYP2E1
Các thuốc và hợp chất làm tăng hoạt động của cytochrome P450 isoenzyme CYP2E1, ví dụ rượu và Isoniazid có thể làm tăng chuyển hóa Sevoflurane do đó làm tăng đáng kể nồng độ florua trong huyết tương.
ST JOHN’S WORT ;
Hạ huyết áp nặng và chậm đã được báo cáo khi sử dụng các thuốc mê nhóm halogen trên bệnh nhân đang được điều trị lâu dài với John’s Wort.
Chức năng gan
Kết quả đánh giá các thông số xét nghiém (ví dụ ALT, AST, alkaline phosphatase, bilirubin toàn phần), cũng như tần suất các biến cố bất lợi liên quan đến chức năng gan đã cho thấy Sevoflurane có thể được sử dụng ở bệnh nhân có suy giảm chức năng gan từ nhẹ-trung bình. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu tiền hành trên những bệnh nhân có suy gan nặng.
Cần phải có đánh giá lâm sàng đầy đủ khi sử dụng Sevoflurane ở bệnh nhân có bệnh liên quan đến gan hay đang sử dụng những thuốc gây suy giảm chức năng gan (xem mục CÁC PHẢN ỨNG BẤT LỢI).
Chất hấp phụ CO2
Cũng giống như các thuốc mê hô hấp khác, các chất giáng hóa và sản phẩm của các chất giáng hóa có thể được tạo ra khi sevoflurane, USP tiếp xúc với các chất hấp phụ. Nếu nhân viên y tế có nghi ngờ chất hấp thụ CO2 bị khô, cần thay thế chất hấp phụ.
Nguy cơ gây ung thư, đột biến gen và suy giảm chức năng sinh sản
Các nghiên cứu vẻ tính gây ung thư chưa được tiến hành trên Sevoflurane hoặc hợp chất A.
Sevoflurane không-thể hiện tác dụng gây đột biến trên thử nghiệm Ames, thử nghiệm vi nhân, thử nghiệm trên dòng tế bào lympho chuột, dòng lympho người, định lượng về chuyển dạng tế bào, định lượng 32P DNA, và không gây vỡ nhiễm sắc thể trên tế bào nuôi cấy.
Tương tự, hợp chất A không gây đột biến gen trên thử nghiệm Ames, thử nghiệm nhiễm sắc thể và thử nghiệm vi nhân. Tuy nhiên trên dòng Tế bào lympho người, hợp chất A có phản ứng gây vỡ nhiễm sắc thể. Tác động này chỉ xảy ra ở nồng độ cao và không có sự hoạt hóa chuyển hóa.
4.9 Quá liều và xử trí:
Các triệu chứng quá liều bao gồm suy hô hấp và suy tuần hoàn. Trong trường hợp quá liều, cần thực hiện các biện pháp sau: ngừng sử dụng Sevoflurane, duy trì thông khí, thông khí hỗ trợ hoặc kiểm soát với oxy 100% và duy trì chức năng tim mạch.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
DƯỢC LÝ LÂM SÀNG
Sevoflurane là thuốc mê đường hô hấp dùng để khởi mê và duy trì mê trong gây mê hô hấp. Nồng độ tối thiểu trong phế nang (MAC) của Sevoflurane trong khí oxy cho đối tượng 40 tuổi là 2,1%. MAC của Sevoflurane giảm theo tuổi (xem chỉ tiết ở mục LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG).
DƯỢC LỰC HỌC
Các biến đôi về độ sâu gây mê của Sevoflurane thay đối nhanh chóng theo nồng độ khí hít vào.
Tác động trên tim mạch
Nghiên cứu trên 14 đối tượng tình nguyện mạnh khỏe (18-35 tuổi) và tiến hành so sánh giữa Sevoflurane-O2 (Sevo/O2) với Sevoflurane-N2O/O; (Sevo/N2O/O2) trong quá trình gây mê kéo dài 7 giờ. Ở điều kiện thông khí có kiểm soát, các thông số về huyết động đã được đo lường và trình bày trong các hình từ 4-7:

Thử nghiệm lâm sàng
Sevoflurane được sử dụng trên tổng số 3185 bệnh nhân trước khi nộp hồ sơ đăng ký thuốc mới. Kinh nghiệm sử dụng lâm sàng trên các nhóm bệnh nhân được mô tả như dưới đây:
Gây mê ở người lớn
Hiệu quả của Sevoflurane so voi isoflurane, enflurane, và propofol được nghiên cứu trên 3 bệnh nhân ngoại trú và 25 bệnh nhân nội trú trên tổng số 3591 bệnh nhân người lớn. Sevoflurane có hiệu quả tương tự như isoflurane, enflurane, và propofol trong duy trì mê ở bệnh nhân người lớn.
Khởi mê qua mặt nạ
Sevoflurane không có mùi hăng và không gây kích ứng hô hấp. Sevoflurane thích hợp cho gây mê qua mặt nạ ở người lớn. Trong 196 bệnh nhân sử dụng, gây mê qua mặt nạ thường êm dịu và nhanh, và có một số biến chứng xảy ra theo tần suất sau: ho 6%; cơn nín thở 6%; lo âu 6%; co thắt hầu 5%.
Phẫu thuật ngoại trú
Sevoflurane được so sánh với isofluranevapropofol trong duy trì mê cùng vơi N2O trong 2 nghiên cứu trên 786 bệnh nhân người lớn (18-84 tuổi) phân nhóm ASA I, H, hay II.
Phẫu thuật cho bệnh nhân nội trú
Sevoflurane được so sánh với isoflurane và propofol trong duy trì mê cùng với N2O trong 2 nghiên cứu đa trung tâm trên tổng số 741 bệnh nhân người lớn, phân nhóm ASA I, II hoặc III (18-92 tuổi).
Gây mê ở bệnh nhân nhi
Nồng độ Sevoflurane cần để duy trì mê lệ thuộc vào độ tuổi . Sevoflurane hay halothane được sử dụng gây mê trên 1620 bệnh nhi từ 1 đến 18 tuổi, và tình trạng ASA của bệnh nhân là ASA I hay II (948 Sevoflurane, 672 halothane)
Khởi mê qua mặt nạ
Sevoflurane không có mùi hăng và thích hợp cho gây mê qua mặt nạ ở trẻ em
Phẫu thuật trong ngày
Sevoflurane (n=518) được so sánh với halothane (n=382) trong duy trì mê ở bệnh nhân nhi ngoại trú. Tât cả bệnh nhân đêu sử dụng NO và nhiều bệnh nhân sử dụng fentanyl, midazolam, bupivacaine, hay lidocaine. Thời gian xuất ra khỏi phòng hồi sức là tương tự nhau giữa các thuốc sử dụng
Phẫu thuật tim mạch
Phẫu thuột bắc cầu động mạch vành (CABG)
Sevoflurane được so sánh với isoflurane như liệu pháp hỗ trợ cho thuốc giảm đau opioid trong một nghiên cứu đa trung tâm trên 273 bệnh nhân được phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt huyết động, việc sử dụng các thuốc trợ tim hay tần suất thiếu mau giữa 2 nhóm. Kết quả phẫu thuật là tương tự nhau. Trong nghiên cứu này, Sevoflurane có hiệu quả và độ an toàn tương tự như isoflurane trong chỉ định hỗ trợ gây mê cho opioid đối với phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
Phẫu thuật ngoài tim cho bệnh nhân có nguy cơ thiếu máu tim
Trong 1 nghiên cứu đa trung tâm trên 214 bệnh nhân, có độ tuổi từ 48-87, có nguy cơ thiếu máu cơ tim mức độ nhẹ – trung bình, Sevoflurane-N2O được so sánh với isoflurane-N2O trong duy trì mê khi thực hiện phẫu thuật không cấp thiết ngoài tim. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về chế độ gây mê đối với huyết động học trong quá trình phẫu thuật, các thuốc trợ tim thường sử dụng, hoặc tần suất thiếu máu, mặc dù chỉ có 83 bệnh nhân ở nhóm sử dụng Sevoflurane và 85 bệnh nhân ở nhóm sử dụng isoflurane được theo dõi thành công tình trạng thiếu máu. Kết quả phẫu thuật là tương tự nhau về mặt phản ứng bất lợi, tử vong và nhồi máu cơ tim hậu phẫu. Trong phạm vi của nghiên cứu này, Sevoflurane cho hiệu quả tương tự như isoflurane trong duy trì mê sau khi khởi mê bằng thuốc tiêm tĩnh mạch khi phẫu thuật cho các bệnh nhân có nguy cơ thiếu máu cơ tim nhẹ – trung bình.
Mổ bắt con Cesar
Sevoflurane (n=29) được so sánh với isoflurane (n=27) trong duy trì mê khi mổ bắt con trên các bệnh nhân có tình trạng thể chất ASA I hay II. Sự đánh giá trên trẻ mới sanh và các biến chứng xảy ra trong khi hồi tỉnh được ghi nhận. Đối với cả 2 loại thuốc mê, thang điểm Apgar đạt trung bình là 8 (Sevoflurane) và 9 (isoflurane) 6 thời điểm 1 và 5 phút.
PHẪU THUẬT THẦN KINH
3 nghiên cứu so sánh Sevoflurane với isoflurane trong duy trì mê khi thực hiện phẫu thuật thần kinh. Trong 1 nghiên cứu trên 20 bệnh nhân, không có sự khác biệt giữa Sevoflurane và isoflurane trên áp lực nội sọ khi sử dụng liều 0.5, 1.0 và 1.5 MAC trong hỗn hợp khí thở trong suốt quá trình gây mê bằng N2O-O;-fentanyl. Trong quá trình tăng thông khí tiễn triển từ mức PaCO2 = 40 đến mức PaCO2 =30, đáp ứng của áp suất nội sọ đối với tình trạng giảm carbon được duy trì bởi Sevoflurane liều 0.5 và 1.0 MAC. Ở các bệnh nhân có nguy cơ tăng áp suất nội sọ, Sevoflurane cần được sử dụng thận trọng cùng lúc với bộ phận giảm áp suất nội sọ ví dụ như tăng thông khí.
SUY GAN
Một nghiên cứu đa trung tâm (trên 2 vị trí) được tiến hành để đánh giá tính an toàn của Sevoflurane so với isoflurane trên 16 bệnh nhân suy gan mức độ nhẹ-trung bình, sử dụng lidocaine MEGX để đánh giá chức năng tế bao gan. Cả 2 thuốc mê đều không ảnh hưởng đến chức năng gan. Không có trường hợp nào có nồng độ ion fluor vô cơ trong huyết thanh vượt quá mức 45 uM/L, nhưng Sevoflurane có sự phân bố sau cùng của ion fluor kéo dài hơn và có T1/2 của ion fluor vô cơ dài hơn so với bệnh nhân có chức năng gan bình thường (23 giờ so với 10-48 giờ).
SUY THẬN
Tính an toàn của Sevoflurane được đánh giá ở bệnh nhân suy thận với nồng độ creatine trong huyết thanh ở mức >1.5 mg/dL. Có 14 bệnh nhân sử dụng Sevoflurane và so sánh với 12 bệnh nhân sử dụng isoflurane. Trong l nghiên cứu khác, có 21 bệnh nhân sử dụng Sevoflurane và so sánh với 20 bệnh nhân sử dụng isoflurane. Nồng độ creatinine tăng 6 7% bệnh nhân sử dụng Sevoflurane 8% ở bệnh nhân sử dụng isoflurane, và 10% ở bệnh nhân sử dụng enflurane. Do số lượng bệnh nhân suy thận ít (với nồng độ creatinine ban đầu >1.5 mg/dL), nên không xác định được tính an toàn của Sevoflurane trong những nghiên cứu này. Vì thể cần thận trọng khi sử dụng Sevoflurane ở bệnh nhân suy thận (xem mục THẬN TRỌNG).
Cơ chế tác dụng:
Sevofluran làm giảm độ dẫn điện bằng cách giảm khoảng thời gian mở kênh và tăng thời gian đóng kênh. Isoflurane cũng kích hoạt kênh canxi phụ thuộc ATPase trong lưới sarcoplasmic bằng cách tăng lượng dịch của màng lipid. Thuốc cũng gắn vào tiểu đơn vị D của ATP synthase và NADH dehydogenase. Sevofluran cũng liên kết với thụ thể GABA, một lượng lớn Ca 2+ dẫn tới kích hoạt kênh kali, thụ thể glutamate và thụ thể glycine.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
HẤP THU VÀ PHÂN BỐ
Khởi mê
Trong 1 nghiên cứu, mức độ hấp thu và phân bố của Sevoflurane được chứng minh là nhanh hơn isoflurane và halothane, nhưng chậm hơn desflurane. Kết quả được minh họa ở hình 1.

Hồi tỉnh sau gây mê
Trong nghiên cứu trên đối tượng tình nguyện mạnh khỏe mô tả ở trên, tốc độ đào thải của Sevoflurane tương tự desflurane và nhanh hơn halothane, isoflurane. Kết quả được minh họa trong hình 2

Chuyển hóa
Sevoflurane được chuyển hóa bởi cytochrome P450 2E1 thành hexafluoroisopropanol (HFIP) và phóng thíchion fluor vô cơ và CO2. Kết quả từ những nghiên cứu về chuyển hóa trên in vivo cho giả thiết có khoảng 5% liều Sevoflurane sử dụng có thể bị chuyển hóa.

ĐÀO THẢI
Khoảng 3,5% liều Sevoflurane sử dụng xuất hiện trong nước tiểu ở dạng fluor vô cơ. Các nghiên cứu về fluor cho thấy khoảng 50% fluor được thanh thải không qua thận (được hấp thu vào xương).
DƯỢC ĐỘNG HỌC CỦA ION FLUOR ;
Nồng độ tối đa của fluor (Cmax) xác định được ở các nhóm đối tượng đặc biệt trong các nghiên cứu khác nhau được trình bày trong bảng dưới đây.

.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nhiệt độ không quá 30°C. Nên bảo quản thuốc ở nhiệt độ 15 ~ 30°C.
Đậy kín nút chai sau môi lân sử dụng..
6.4. Thông tin khác :
Thao tác và an toàn
CẢNH BÁO VỀ NGHỀ NGHIỆP
Không có giới hạn đặc thù đối với Sevoflurane. Tuy nhiên Viện Sức khỏe và An toàn nghề nghiệp khuyến cáo giới hạn thời gian trung bình là 2ppm cho tất cả những thuốc mê dạng halogen hóa nói chung (0,5 ppm khi kết hợp với N2O)..
MÔ TẢ
Sevoflurane là một chất lỏng bay hơi dùng qua đường hô hấp, không gây cháy nổ và là một dẫn chất halogen gây mê. Sevoflurane có công thức hóa học là fluoromethyl 2 rifluoro-BY (trifluoromethyl) ethyl ether và có cầu trúc hóa học như sau: C4H3F7O
Các hằng số vật lý của Sevoflurane:
Trọng lượng phân tử 200,05
Điểm sôi ở 760 mm Hg 58,6°C
Trọng lực ở 20°C 1,520 – 1,525
Áp suất bay hơi tính theo mm Hg
157 mm Hg ở 20°C
197 mm Hg ở 25°C
317 mm Hg ở 36°C
Hệ số phân bố ở 37°C:
Máu/Khí 0,63 — 0,69
Nước/Khí 0,36
Dầu Olive/Khí 47 – 54
Não/Khí 1,15
Hệ số phân bố trung bình của thành phần thuốc/Khí cho vật liệu polymer thường được sử dụng trong gây mê:
Cao su dẫn 14,0
Cao su loại Butyl 7,7
Polyvinylchloride 17,4
Polyethylene 1,3
Khi kết hợp với chất hấp thụ CO2, đặc biệt là chất hấp thụ kiềm (ví dụ Baralyme) trong máy gây mê, Sevoflurane có thể bị phân hủy theo 2 con đường thành hợp chất A, và 1 lượng rất nhỏ pentafluoromethoxy isopropyl fluoromethyl ether (PMFE, C5H6F6O), còn được gọi là hợp chất B và con đường thứ 2 của sự phân hủy Sevoflurane xảy ra chủ yếu do có sự hiện diện của chất hấp thụ CO2 bị khan, dẫn đến sự phân hủy Sevoflurane thành hexafluoroisopropanol (HFIP) và formaldehyde.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM