Thuốc Doneson là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Doneson (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Propofol
Phân loại: Thuốc gây mê cục bộ.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01AX10.
Biệt dược gốc: Diprivan
Biệt dược: Doneson
Hãng sản xuất : Popular Infusions Ltd.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Nhũ dịch tiêm tĩnh mạch 200mg/20ml.
Thuốc tham khảo:
| DONESON | ||
| Mỗi ml nhũ dịch tiêm có chứa: | ||
| Propofol | …………………………. | 10 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Khởi mê và duy trì mê.
An thần trong săn sóc đặc biệt.
An thần cho các phẫu thuật và thủ thuật chuẩn đoán.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Để giảm đau khi tiêm, có thể trộn propofol với thuốc tiêm lidoeain 10 mg/ml trong 1 ống tiêm nhựa ngay trước khi tiêm với tỷ lệ 1 phần thuốc tiêm lidocain cho 20 phần nhũ dịch propofol. Có thể truyền tĩnh mạch nhũ dịch propofol không pha loãng hoặc pha loãng.
Trước khi tiêm hoặc pha loãng, cần kiểm tra lọ thuốc để phát hiện các bất thường. Nếu quan sát thấy có bất kỳ bất thường nào, không được sử dụng. Sử dụng các thiết bị thích hợp để đảm bảo truyền thuốc đúng tốc độ. Có thể dùng bơm truyền thể tích hoặc bơm tiêm.
Chỉ sử dụng bộ dây truyền dịch thông thường không đảm bảo ngăn ngừa được dùng thuốc quá liều.
Tính tương hợp: Nhũ dịch propofol có thể được pha loãng với dịch truyền đextrose 5%, Không pha loãng quá tỷ lệ 1: 5 (chứa 2 mg/ml propofol) và được pha loãng trong túi dịch truyền hoặc chai địch truyền thuỷ tính. Nếu dùng túi dịch truyền, túi cần phải đầy và pha loãng bằng cách rút ra một thể tích địch truyền và thay thế bằng cùng thể tích nhũ dịch propofol. Phải rất thận trọng tránh nhiễm khuẩn khi pha loãng ngay trước khi sử dụng. Nhũ dich đã pha loãng được sử dụng trong vòng 6 giờ. Huỷ bỏ phần thuốc còn thừa.
Thận trọng khi sử dụng:
Nhũ dịch propofol và các dụng cụ dùng để tiêm phải vô khuẩn tuyệt đối do thuốc tiêm propofol không chứa chất bảo quản và nhũ dịch lipid thường là môi trường tốt cho sự phát triển của vi khuẩn và các vi sinh vật khác. Khi sử dụng propofol, phải rút thuốc vào một ống tiêm vô khuẩn ngay sau khi mở nắp lọ và sử dụng ngay lập tức. Các dung dịch sử dụng đồng thời với propofol được truyền càng gần với vị trí canun càng tốt. Không tiêm truyền propofol qua màng lọc vi khuẩn.
Nhũ dịch propofol và các dụng cụ dùng để tiêm được dùng riêng cho từng bệnh nhân. Theo hướng dẫn cho việc sử dụng các nhũ dịch chất béo, nhũ dịch propofol chưa pha loãng cần được sử dụng trong vòng 12 giờ. Huỷ bỏ phần thuốc còn thừa và bộ dây truyền dịch sau khi truyền hoặc sau 12 giờ kể từ khi bắt đầu truyền. Nếu cần thiết có thể truyền nhắc lại.
Liều dùng:
Người lớn:
Khởi mê:
Người lớn khỏe mạnh dưới 55 tuổi: 40 mg, cứ 10 giây tiêm tĩnh mạch một lần cho tới khi bắt đầu mê (2 đến 2,5 mg/kg).
Người bệnh cao tuổi, hoặc suy yếu: 20 mg, cứ 10 giây tiêm tĩnh mạch một lần cho tới khi bắt đầu mê (1 đến 1,5 mg/kg).
Gây mê cho người bệnh tim: 20 mg, cứ 10 giây tiêm tĩnh mạch một lần cho tới khi bắt đầu mê (0,5 đến 1,5 mg/kg).
Người bệnh phẫu thuật thần kinh: 20 mg, cứ 10 giây tiêm tĩnh mạch một lần cho tới khi bắt đầu mê (1 đến 2 mg/kg).
Trẻ em khỏe mạnh từ 3 tuổi trở lên: 2,5 đến 3,5mg/kg, tiêm tĩnh mạch trong 20 – 30 giây.
Duy trì mê, truyền tĩnh mạch:
Người lớn khỏe mạnh dưới 55 tuổi: 100 đến 200 microgam/kg/phút (6 đến12 mg/kg/giờ).
Người bệnh cao tuổi hoặc suy yếu: 50 đến 100 microgam/kg/phút (3 đến 6 mg/kg/giờ).
Gây mê người bệnh tim: Ða số người bệnh cần: Nếu dùng nhũ dịch tiêm propofol là thuốc chủ yếu, có bổ sung opioid là thuốc thứ yếu, thì tốc độ truyền propofol là 100 – 105 microgam/kg/phút.
Nếu dùng opioid là thuốc chủ yếu, thì dùng liều thấp nhũ dịch propofol 50 – 100 microgam/kg/phút.
Người bệnh phẫu thuật thần kinh: 100 đến 200 microgam/kg/phút (6 đến 12 mg/kg/giờ).
Trẻ em khỏe mạnh, từ 3 tuổi trở lên: 125 đến 300 microgam/kg/phút (7,5 đến 18 mg/kg/giờ).
Duy trì mê – tiêm tĩnh mạch cách quãng:
Người lớn khỏe mạnh dưới 55 tuổi: Gia tăng từ 20 đến 50 mg khi cần thiết.
An thần trong săn sóc đặc biệt
Trước tiên tiêm tĩnh mạch với liều 1,0 -2,0 mg/kg thể trọng, sau đó truyền liên tục, tốc độ truyền tuỳ thuộc vào độ sâu của giấc ngủ cần thiết. Tốc độ truyền 0,3-4 mg/kg/giờ thường cho kết quả tốt.
An thần cho phẫu thuật và thủ thuật chẩn đoán
Liều dùng được điều chỉnh cho từng bệnh nhân. Thông thường, ban đầu dùng liều 0,5-1mg/kg thể trọng trong 1-5 phút, và duy trì bằng truyền liên tục với liều 1-4,5 mg/kg/giờ. Cùng với truyền tĩnh mạch, tiêm tĩnh mạch ngắt quãng 10-20mg có thể được dùng để tăng độ sâu của giấc ngủ khi cần thiết. Giảm liều cho người già và bệnh nhân ASA độ 3 và 4.
Gây an thần – vô cảm có theo dõi bằng monitor:
An thần trong săn sóc đặc biệt:
Người lớn khỏe mạnh dưới 55 tuổi: Áp dụng kỹ thuật tiêm truyền chậm hoặc tiêm chậm để tránh ngừng thở hoặc hạ huyết áp. Phần lớn người bệnh cần tiêm truyền tĩnh mạch từ 100 đến 150 microgam/kg/phút (6 đến 9 mg/kg/giờ) trong 3 đến 5 phút; hoặc tiêm chậm tĩnh mạch 0,5 mg/kg trong 3 đến 5 phút, và tiếp ngay sau đó tiêm truyền để duy trì.
Người bệnh cao tuổi hoặc suy yếu hoặc người bệnh thần kinh: Phần lớn người bệnh cần những liều lượng tương tự như người lớn khỏe mạnh. Tránh áp dụng kỹ thuật tiêm tĩnh mạch nhanh.
Duy trì an thần – vô cảm có theo dõi bằng monitor:
Người lớn khỏe mạnh dưới 55 tuổi: Kỹ thuật tiêm truyền với tốc độ thay đổi được ưa dùng hơn kỹ thuật tiêm tĩnh mạch cách quãng. Ða số người bệnh cần được tiêm truyền 25 đến 75 microgam/kg/phút (1,5 đến 4,5 mg/kg/giờ) hoặc tiêm tĩnh mạch với các liều gia tăng 10 mg hoặc 20 mg.
Người cao tuổi hoặc suy yếu hoặc phẫu thuật thần kinh: Ða số người bệnh cần 80% liều thường dùng cho người lớn. Tránh tiêm tĩnh mạch nhanh.
Gây và duy trì an thần ở đơn vị điều trị tích cực cho người bệnh được đặt ống nội khí quản, thông khí bằng máy:
Người lớn: Vì những tác dụng còn lại của lần gây mê trước hoặc của thuốc an thần, ở phần lớn người bệnh, liều tiêm truyền đầu tiên là 5 microgam/kg/phút (0,3 mg/kg/giờ) trong ít nhất 5 phút.
Tiếp theo đó có thể tiêm truyền những lượng gia tăng từ 5 đến 10 microgam/kg/phút (0,3 đến 0,6 mg/kg/giờ) trong 5 đến 10 phút cho tới khi đạt được mức độ an thần mong muốn. Có thể cần dùng lượng gia tăng để duy trì từ 5 đến 50 microgam/kg/phút (từ 0,3 đến 3 mg/kg/giờ) hoặc cao hơn. Phải đánh giá mức độ an thần và chức năng hệ thần kinh trung ương hàng ngày trong thời kỳ duy trì để xác định liều tối thiểu nhũ dịch tiêm propofol cần thiết.
Nếu thời gian gây an thần vượt quá 3 ngày, nồng độ lipid phải được giám sát theo dõi.
4.3. Chống chỉ định:
Ðã biết có mẫn cảm với nhũ dịch propofol hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc. Propofol không được khuyến cáo dùng trong sản khoa, bao gồm cả mổ lấy thai. Thuốc qua nhau thai và như các thuốc mê khác, propofol có thể gây suy sụp ở trẻ sơ sinh.
Propofol không được khuyến cáo dùng để gây mê cho trẻ em dưới 3 tuổi, an thần cho trẻ em ở đơn nguyên tăng cường chăm sóc vì các phản ứng phụ về tim như loạn nhịp chậm, suy cơ tim tuần tiến và tử vong.
Người bị bệnh tim (phân số tống máu dưới 50%) hoặc phổi nặng vì propofol có thể gây các đáp ứng tim mạch phụ nặng hơn.
Propofol không được dùng trong liệu pháp sốc điện gây co giật.
Người bệnh quá mẫn với propofol hoặc 1 thành phần của chế phẩm này.
Chống chỉ định tương đối:
Người bệnh có bệnh tim nặng (phân số tống máu dưới 50%) hoặc bệnh hô hấp, vì propofol có thể gây những tác dụng không mong muốn về tim mạch nặng hơn.
Người bệnh có tiền sử động kinh hoặc co giật.
Người bệnh có tăng áp lực nội sọ hoặc suy tuần hoàn não, vì có thể xảy ra giảm đáng kể huyết áp động mạch trung bình và tiếp đó giảm áp lực tưới máu não.
Người bệnh có tăng lipid – huyết, thể hiện ở tăng nồng độ triglycerid huyết thanh hoặc huyết thanh đục.
Người bệnh hạ huyết áp, giảm lưu lượng tuần hoàn hoặc không ổn định về huyết động.
Người bệnh có bệnh porphyrin.
4.4 Thận trọng:
Propofol phải dùng thận trọng đối với người bị giảm thể dịch, động kinh, rối loạn chuyển hóa lipid và người cao tuổi.
ở người bệnh cao tuổi, hoặc người bệnh suy nhược, không được tiêm nhanh (một liều hoặc những liều nhắc lại) trong khi gây mê, hoặc khi gây an thần vô cảm có theo dõi, để giảm thiểu tác dụng không mong muốn ức chế tim – hô hấp.
Phải dùng liều khởi mê thấp và truyền chậm hơn để duy trì mê ở người bệnh cao tuổi, hoặc suy nhược. Phải theo dõi người bệnh liên tục về những dấu hiệu sớm của hạ huyết áp và/hoặc chậm nhịp tim. Thường xảy ra ngừng thở trong khi khởi mê và ngừng thở có thể kéo dài trong hơn 60 giây, do đó đòi hỏi phải thông khí hỗ trợ.
Khi dùng cho người tăng áp lực nội sọ, propofol phải cho chậm để tránh giảm mạnh huyết áp trung bình và kết quả là giảm áp lực tưới máu não.
Propofol phải được dùng bởi những người đã được huấn luyện về gây mê hoặc dưới sự giám sát của những người này. Các bác sỹ tiến hành các phẫu thuật và thủ thuật chuẩn đoán không được sử dụng propofol cho bệnh nhân. Phải có sẵn các thiết bị hồi sức trong phòng để xử lý các biến chứng có thể xảy ra. Trong quá trình sử dụng propofol, bệnh nhân phải được theo dõi chặt chẽ để phát hiện sớm các dấu hiệu hạ huyết áp, tắc đường thở, giảm thông khí hoặc không đảm bảo oxy cung cấp. Phải đặc biệt chú ý đến bệnh nhân được an thần bằng propofol để thực hiện các phẫu thuật và thủ thuật chuẩn đoán mà không có hỗ trợ thông khí, Thận trọng khi dùng propofol cho bệnh nhân mắc bệnh tim, hô hấp, suy gan hoặc thận. Những người bị giảm thể tích máu và suy kiệt cơ thể cũng là những bệnh nhân có nguy cơ. Do propofol không có hoạt tính ức chế thần kinh phế vị nên có thể xây ra nhịp tim chậm và vô tâm thu. Phải cân nhắc thận trọng khi tiêm tĩnh mạch một thuốc kháng cholinergic trước khi tiến hành khởi mê và duy trì mê đặc biệt khi dùng kết hợp propofol với các thuốc khác có khả năng gây nhịp tim chậm và khi trương lực thần kinh phế vị có nhiều khả năng chiếm ưu thế. Do propofol là một nhũ địch chất béo, cần phải thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân rối loạn chuyển hoá mỡ như bệnh nhân bị mỡ máu. Khi sử dụng propofol cho bệnh nhân có nguy cơ thừa chất béo, cần phải theo dõi nồng độ lipid máu và giảm liều propofol nếu cần. Nếu bệnh nhân sử dụng đồng thời propofol và các nhũ dịch chất béo khác theo đường tĩnh mạch thì cần phải tính đến lượng lipid trong nhũ dịch propofol (0,1 g/ml) khi tính tổng lượng chất béo đưa vào. Đối với những bệnh nhân bị động kinh, propofol có thể gây co giật. Trong trường hợp này tác dụng an thần của propofol là không đủ. Cần sử dụng các thuốc giảm đau để đảm bảo đủ tác dụng giảm đau. Cần lưu ý rằng gây mê làm giảm khả năng của bệnh nhân khi nhận biết các chỉ dẫn sau phẫu thuật..
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Người bệnh cần được khuyến cáo về những hoạt động cần sự điều khiển của trí tuệ như điều khiển máy móc, xe cộ…. có thể thay đổi sau khi gây mê một thời gian ngắn với thuốc propofol.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: C
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Chống chỉ định sử dụng propofol cho phụ nữ có thai và cho con bú.
Thời kỳ cho con bú:
Chống chỉ định sử dụng propofol cho phụ nữ có thai và cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tại chỗ : Propofol thường được dung nạp tốt. Các tác dụng không mong muốn hay gặp nhất là đau tại vị trí tiêm. Có thể giảm đau bằng cách trộn thuốc với lidocain hoặc tiêm thuốc vào một trong các mạch máu lớn hơn ở cánh tay. Hiếm khi xảy ra huyết khối hay viêm tĩnh mạch.
Toàn thân: Hạ huyết áp và ngừng thở thoáng qua: có thể xảy ra khi tiêm khởi mê, và có thể nặng hơn ở những bệnh nhân suy kiệt. Các cử động dạng động kinh, co giật và các phản ứng loạn trương lực đã được báo cáo ở một số ít trường hợp. Đã có báo cáo xảy ra phù phổi. Đau đầu, buồn nôn, và hiếm khi nôn có thể xảy ra ở một số bệnh nhân trong giai đoạn hồi phục. Trong giai đoạn hồi phục có thể xảy ra những khoảng thời gian ngắn bệnh nhân suy giảm ý thức. Phản ứng mẫn cảm: có thể xảy ra ở một số bệnh nhân liên quan đến các phản ứng phản vệ như hạ huyết áp đáng kể, co thắt phế quản, phù và nổi ban da mặt. Trong một số trường hợp xảy ra ngừng tim khi sử dụng propofol. Có thể xảy ra nước tiểu biến màu xanh và nâu đỏ. Điều này là do các chất chuyển hoá quinol của propofol và không gây nguy hiểm. Cũng như các thuốc gây mê khác, có thể gây giảm khả năng tình dục.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Nếu xảy ra hạ huyết áp và/hoặc nhịp tim chậm, điều trị bao gồm tăng tốc độ truyền dịch tĩnh mạch, nâng cao chi dưới, dùng các thuốc nâng huyết áp, hoặc dùng atropin. Có thể giảm tối thiểu đau buốt cục bộ nhất thời ở nơi tiêm nhũ dịch propofol nếu sử dụng những tĩnh mạch lớn ở cẳng tay. Cũng có thể giảm đau khi tiêm tĩnh mạch propofol bằng cách tiêm tĩnh mạch trước đó lidocain (1 ml dung dịch 1%).
Không được ngừng đột ngột tiêm tĩnh mạch nhũ dịch propofol.
Chỉ có thể dùng propofol khi có phương tiện hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn vì nguy cơ suy hô hấp và tuần hoàn rất hay gặp.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Có thể giảm liều nhũ dịch tiêm propofol cần thiết để gây mê ở những người bệnh đã dùng thuốc chuẩn mê tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, đặc biệt đối với thuốc ngủ (ví dụ, morphin, pethidin và fentanyl, v.v.) và đã dùng phối hợp với opioid và thuốc an thần (ví dụ, benzo-
diazepin, barbiturat, cloral hydrat, droperidol,v.v.). Những thuốc này có thể làm tăng tác dụng gây mê hoặc an thần của propofol và cũng có thể dẫn đến hạ rõ rệt hơn huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và huyết áp động mạch trung bình, và cung lượng tim.
Trong khi duy trì mê hoặc an thần, cần điều chỉnh tốc độ tiêm truyền nhũ dịch tiêm propofol tùy theo mức độ mê hoặc an thần mong muốn, và có thể giảm khi có thuốc giảm đau bổ sung (ví dụ, nitrogen dioxyd hoặc opioid). Việc dùng đồng thời những thuốc gây mê hít có tác dụng mạnh (ví dụ, isofluran, enfluran, và halothan) có thể làm tăng tác dụng gây mê hoặc an thần, và tác dụng về tim – hô hấp của propofol.
Propofol không làm thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về thời gian xuất hiện, cường độ hoặc thời gian kéo dài tác dụng của thuốc phong bế thần kinh – cơ thường dùng (ví dụ: Succinylcholin và những thuốc giãn cơ không khử cực).
Theophylin có thể đối kháng với tác dụng của propofol, và như vậy cần phải tăng liều propofol khi dùng đồng thời với theophylin.
4.9 Quá liều và xử trí:
Quá liều có thể gây ức chế hô hấp – tuần hoàn. Điều trị ức chế hô hấp bằng thông khí nhân tạo với oxy, ức chế tuần hoàn được điều trị bằng cách cho bệnh nhân nằm với đầu thấp và kê cao chân bệnh nhân. Nếu cần thiết có thể sử dụng các chất làm tăng áp lực máu và làm giàu huyết tương hoặc các dung dịch chất điện giải loại ringer.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Propofol là thuốc gây mê đường tĩnh mạch có tác dụng nhanh. Tác dụng gây mê toàn thân đạt được trong vòng 30-60 giây ở hầu hết các bệnh nhân. Hầu hết các bệnh nhân đều tỉnh nhanh và không buồn nôn, không lẫn lộn trong quá trình hồi phục. Khi hồi phục, chỉ sau vài phút là bệnh nhân đã tỉnh táo và bình thường sau khoảng 2 giờ. Không giống như phần lớn các thuốc gây mê khác, propofol ít bị tích luỹ khi dùng liều duy trì mê. Do đó nó rất thích hợp cho an thần trong săn sóc đặc biệt.
Cơ chế tác dụng:
Propofol (2, 6-diisopropylphenol) là tác nhân gây mê tổng hợp tác dụng ngắn với khởi phát nhanh trong khoảng 30 giây. Phục hồi nhanh chóng. Cơ chế hoạt động, giống như tất cả các thuốc gây mê khác, chưa rõ. Tuy nhiên, propofol được cho là có tác dụng an thần / gây mê bằng cách ức chế chất dẫn truyền thần kinh GABA thông qua thụ thể GABAA.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Sự phân bố của propofol có thể được miêu tả bằng mô hình mở 3 ngăn: từ máu được nhanh chóng phân bố vào các mô (thời gian bán thải 2-3 phút), chuyển hoá thải trừ nhanh (thời gian bán thải 30-60 phút) và chậm hơn ở giai đoạn cuối cùng khi propofol được thải trừ từ các mô thuốc ít khuếch tán đến. Thuốc có tác dụng nhanh chóng là do propofol là một chất tan trong lipid, dễ dàng qua được hàng rào máu não và được phân bố ở hệ thần kinh trung ương. Propofol được chuyển hoá tại gan thành các chất liên hợp glucuronid và sulphat không có hoạt tính và được thải trừ qua nước tiểu.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: Dầu đậu nành, lecithin, glycerol, natri hydroxyd, nước cất pha tiêm.
6.2. Tương kỵ :
Không trộn propofol với các dung dich hoặc dịch truyền khác ngoại trừ dung dịch dextrose 5% hoặc lidocain 10 mg/ml.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30 oC. Không để thuốc đóng băng.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
HDSD Thuốc Doneson do Popular Infusions Ltd. sản xuất (2014).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM