Thuốc SANDOSTATIN là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc SANDOSTATIN (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Octreotide acetate
Phân loại: Thuốc Polypeptid tổng hợp ức chế tăng trưởng, tương tự somatostatin (một hormon hạ đồi)..
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): H01CB02.
Brand name: SANDOSTATIN.
Hãng sản xuất : Novartis Pharma
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Dung dịch tiêm: hộp 5 ống tiêm x 1mL, lọ đa liều 5mL.
Mỗi ống: Octreotide 0,05mg, 0,1mg hoặc 0,5mg (dưới dạng peptide tự do).
Mỗi lọ: Octreotide 1mg (dưới dạng peptide tự do).
Dung dịch tiêm (dưới da) hoặc dung dịch đậm đặc để pha dung dịch truyền (truyền tĩnh mạch).
Dung dịch trong suốt và không màu.
Thuốc tham khảo:
| SANDOSTATIN 0,1mg/1 ml | ||
| Mỗi ống 1ml có chứa: | ||
| Octreotide acetate | …………………………. | 0,1 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Kiểm soát các triệu chứng và giảm nồng độ hormone tăng trưởng và IGF-1 trong huyết tương ở những bệnh nhân to viễn cực đáp ứng không đầy đủ với điều trị phẫu thuật hoặc xạ trị. Sandostatin cũng được chỉ định điều trị cho những bệnh nhân to viễn cực không có khả năng hay không muốn phẫu thuật, hoặc trong giai đoạn chờ cho đến khi xạ trị đạt được tác dụng hoàn toàn.
Làm giảm các triệu chứng do khối u chức năng thuộc hệ nội tiết dạ dày-ruột-tụy (GEP):
U carcinoid với các đặc điểm của hội chứng carcinoid.
VIPoma.
U tế bào alpha tiểu đảo tụy (Glucagonoma).
Gastrinomas/hội chứng Zollinger-Ellison thường kết hợp với điều trị ức chế bơm proton, hoặc thuốc kháng H2.
U đảo tụy (insulinoma), trong việc kiểm soát hạ glucose huyết trước khi phẫu thuật và trong điều trị duy trì.
GRFoma.
Sandostatin không phải là trị liệu chống khối u và không chữa khỏi được các bệnh này.
Phòng ngừa các biến chứng sau phẫu thuật tụy.
Điều trị cấp cứu để ngưng chảy máu và tránh xuất huyết tái phát do giãn tĩnh mạch dạ dày-thực quản do xơ gan. Sandostatin được dùng kết hợp với điều trị đặc hiệu như làm liệu pháp xơ hóa qua nội soi.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Tiêm dưới da
Những bệnh nhân tự tiêm thuốc bằng đường tiêm dưới da phải được hướng dẫn chính xác từ bác sĩ hoặc y tá điều trị.
Để giảm bớt những khó chịu tại chỗ, người ta khuyến cáo rằng nên để dung dịch tiêm trở về nhiệt độ phòng trước khi tiêm. Nên tránh tiêm nhắc lại vào chỗ tiêm cũ trong một thời gian ngắn.
Ống tiêm chỉ được mở trước khi dùng, phần thừa còn lại phải bỏ đi.
Để đề phòng nhiễm khuẩn, khuyến cáo rằng không nên lấy thuốc quá mười lần từ lọ đa liều.
Truyền tĩnh mạch
Những thuốc dùng ngoài đường tiêu hóa phải được kiểm tra bằng mắt thường xem có bị mất màu hay có vẩn đục trước khi dùng.
Sandostatin (octreotide acetate) ổn định về mặt vật lý và hóa học trong 24 giờ sau khi được pha với dung dịch nước muối sinh lý vô trùng hoặc dung dịch dextrose (glucose) 5% vô trùng. Tuy nhiên, vì Sandostatin có thể ảnh hưởng đến cân bằng nội môi của glucose, người ta khuyến cáo nên dùng nước muối sinh lý hơn là dung dịch dextrose. Dung dịch đã pha bền vững về mặt vật lý và hóa học trong 24 giờ với nhiệt độ dưới 25oC. Về mặt vi sinh vật, dung dịch truyền nên được dùng ngay. Nếu dịch truyền không được dùng ngay, việc bảo quản trước khi dùng là trách nhiệm của người dùng và nên bảo quản ở nhiệt độ 2-8oC. Trước khi dùng dịch truyền phải được đưa lại về nhiệt độ phòng.
Khoảng thời gian từ khi pha dung dịch truyền bằng chất pha loãng, bảo quản trong tủ lạnh và cho đến khi kết thúc truyền thuốc không được quá 24 giờ.
Trong các trường hợp dùng Sandostatin truyền tĩnh mạch, một ống thuốc 0,5mg thường được hòa tan trong 60mL dung dịch nước muối sinh lý, dung dịch pha loãng cần được truyền với một bơm truyền. Trị liệu này cần được lặp lại thường xuyên nếu cần thiết cho tới khi đạt được thời gian điều trị theo chỉ định. Sandostatin cũng đã được truyền ở các nồng độ thấp hơn.
Thận trọng đặc biệt khi hủy thuốc
Bất cứ thuốc hay chất bỏ đi không dùng đến nào cũng phải được hủy theo các yêu cầu tại địa phương.
Liều dùng:
Đối tượng bệnh nhân chung
Bệnh to viễn cực
Liều ban đầu 0,05-0,1 mg tiêm dưới da mỗi 8 giờ hoặc 12 giờ. Việc điều chỉnh liều nên dựa trên đánh giá mỗi tháng về nồng độ GH và IGF-1 hàng tháng (mục tiêu: GH < 2,5 ng/mL, IGF-1 trong phạm vi bình thường) và các triệu chứng lâm sàng, và khả năng dung nạp thuốc. Đối với hầu hết bệnh nhân, liều dùng hàng ngày tốt nhất là 0,3mg. Không nên dùng quá liều tối đa 1,5 mg/ngày. Đối với các bệnh nhân dùng liều Sandostatin ổn định, việc đánh giá GH nên được tiến hành 6 tháng một lần.
Nếu lượng GH không giảm và các triệu chứng lâm sàng không được cải thiện sau ba tháng điều trị với Sandostatin, thì nên ngừng điều trị.
Khối u thuộc hệ nội tiết đường dạ dày-ruột-tụy
Liều dùng ban đầu 0,05mg một hoặc hai lần hàng ngày tiêm dưới da. Tùy thuộc đáp ứng lâm sàng, nồng độ của các hormone do khối u tiết ra (trong trường hợp khối u carcinoid, dựa vào bài tiết đường tiết niệu của 5-hydroyindole acetic acid), và dựa trên khả năng dung nạp của thuốc, liều có thể tăng dần lên tới 0,1-0,2 mg; 3 lần/ngày. Trong một số trường hợp ngoại lệ, liều có thể tăng cao hơn. Liều duy trì cần được điều chỉnh tùy theo từng trường hợp.
Trong trường hợp khối u carcinoid, nếu không có đáp ứng có lợi trong vòng một tuần điều trị bằng Sandostatin với liều tối đa dung nạp được, thì nên ngừng điều trị.
Các biến chứng sau phẫu thuật tụy
0,1mg x 3 lần/ngày tiêm dưới da trong 7 ngày liên tiếp, bắt đầu vào ngày phẫu thuật ít nhất 1 giờ trước mổ.
Xuất huyết do giãn tĩnh mạch dạ dày-thực quản
25 μg/giờ truyền tĩnh mạch liên tục trong 5 ngày. Sandostatin có thể được pha loãng với nước muối sinh lý.
Ở bệnh nhân xơ gan bị xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, Sandostatin được dung nạp tốt với liều truyền tĩnh mạch liên tục lên tới 50 μg/giờ trong 5 ngày.
Đối tượng bệnh nhân đặc biệt
Suy gan
Đối với bệnh nhân xơ gan, thời gian bán thải của thuốc có thể kéo dài, điều chỉnh liều duy trì là cần thiết.
Suy thận
Suy giảm chức năng thận không làm ảnh hưởng tới nồng độ toàn thân (AUC) của octreotide dùng đường tiêm dưới da, do vậy không cần điều chỉnh liều Sandostatin.
Nhóm bệnh nhân trẻ em
Kinh nghiệm điều trị Sandostatin ở trẻ em còn rất hạn chế.
Nhóm bệnh nhân người cao tuổi
Hiện chưa có chứng cứ về khả năng dung nạp bị giảm hay cần thay đổi liều dùng ở người cao tuổi được điều trị với Sandostatin.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với octreotide hoặc với bất kỳ thành phần nào của tá dược (xem phần “Tá dược”).
4.4 Thận trọng:
Thuốc này chỉ sử dụng theo sự kê đơn của bác sĩ.
Thận trọng chung
Do khối u tuyến yên bài tiết GH đôi khi có thể phát triển gây các biến chứng nặng (như giảm thị trường), cần theo dõi tất cả các bệnh nhân cẩn thận. Nếu có các dấu hiệu khối u tăng trưởng kích thước, có thể lựa chọn phương thức điều trị khác.
Các lợi ích điều trị của việc làm giảm lượng hormone tăng trưởng (GH) và bình thường hóa nồng độ yếu tố tăng trưởng giống insulin 1 (IGF-1) ở những bệnh nhân nữ bị to viễn cực có thể khôi phục khả năng sinh sản. Các bệnh nhân nữ có khả năng sinh đẻ nên được khuyên sử dụng thuốc tránh thai đầy đủ nếu cần trong quá trình điều trị với octreotide (xem phần Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú).
Chức năng tuyến giáp nên được giám sát ở những bệnh nhân điều trị kéo dài với octreotide.
Các biến cố liên quan đến tim mạch
Đã có báo cáo về các trường hợp nhịp tim chậm (tần suất: thường gặp). Có thể cần phải điều chỉnh liều của các thuốc như thuốc chẹn beta, thuốc chẹn kênh calci hoặc thuốc kiểm soát cân bằng dịch và chất điện giải.
Túi mật và các biến cố liên quan
Sự hình thành sỏi mật được ghi nhận từ 15-30% bệnh nhân dùng Sandostatin. Tỷ lệ này trong quần thể chung là từ 5-20%. Do đó kiểm tra siêu âm túi mật trước và trong quá trình điều trị Sandostatin mỗi 6-12 tháng được khuyến cáo. Bệnh nhân đang được điều trị Sandostatin có sỏi túi mật thì phần lớn là không có biểu hiện, nếu có triệu chứng thì nên được điều trị bằng trị liệu làm tan sỏi bằng acid mật hoặc phẫu thuật. Những thông tin thêm có thể được Novartis cung cấp.
Khối u thuộc hệ nội tiết đường dạ dày-ruột-tụy
Trong điều trị khối u thuộc hệ nội tiết dạ dày-ruột-tụy, có một vài trường hợp hiếm không kiểm soát được các triệu chứng bằng Sandostatin, với biểu hiện tái phát nhanh các triệu chứng nặng.
Chuyển hóa glucose
Do tác dụng ức chế của thuốc trên hormone tăng trưởng, glucagon và insulin; Sandostatin có thể ảnh hưởng đến sự điều hòa glucose. Sự dung nạp glucose sau bữa ăn có thể bị giảm và trong một số trường hợp, có thể xảy ra tình trạng tăng đường huyết dai dẳng do việc dùng thuốc kéo dài. Tình trạng hạ đường huyết cũng đã được báo cáo.
Ở những bệnh nhân u đảo tụy, do có tác dụng ức chế bài tiết hormone tăng trưởng và glucagon tương đối mạnh hơn là insulin và bởi vì có thời gian ức chế hoạt động của insulin ngắn hơn, octreotide có thể làm tăng mức độ và thời gian bị hạ đường huyết. Những bệnh nhân này cần được theo dõi chặt chẽ khi bắt đầu điều trị với Sandostatin và mỗi khi thay đổi liều dùng. Những biến đổi về nồng độ glucose trong máu có thể được hạn chế bằng việc dùng những liều nhỏ và thường xuyên hơn.
Nhu cầu insulin ở những bệnh nhân điều trị đái tháo đường týp I có thể giảm do dùng kết hợp với Sandostatin. Ở những bệnh nhân không mắc đái tháo đường và đái tháo đường týp II còn một phần tụy lành bài tiết insulin, dùng Sandostatin có thể làm tăng glucose huyết trong bữa ăn. Vì vậy cần theo dõi sự dung nạp glucose và điều trị chống đái tháo đường.
Giãn tĩnh mạch thực quản
Vì sau những đợt chảy máu do giãn tĩnh mạch thực quản có tình trạng tăng nguy cơ đái tháo đường phụ thuộc insulin hoặc các thay đổi về nhu cầu dùng insulin ở những người đã mắc bệnh đái tháo đường từ trước, việc theo dõi chặt chẽ nồng độ glucose trong máu là bắt buộc.
Phản ứng tại chỗ
Trong một nghiên cứu về độc tính kéo dài 52 tuần trên chuột cống, chủ yếu trên chuột đực, u sarcom được phát hiện ở tại chỗ tiêm dưới da chỉ với liều cao nhất (khoảng 40 lần so với liều tối đa dùng cho người). Không thấy có hiện tượng tổn thương tăng sản hoặc sang thương tân sinh tại chỗ tiêm dưới da trong một nghiên cứu độc tính 52 tuần trên chó. Chưa có một báo cáo nào về sự hình thành khối u tại chỗ tiêm đối với những bệnh nhân đã điều trị bằng Sandostatin kéo dài tới 15 năm. Với tất cả các số liệu đã có cho đến hiện tại cho thấy rằng những phát hiện trên chuột cống chuyên biệt theo loài và không có ý nghĩa quan trọng nào cho việc dùng thuốc trên người.
Dinh dưỡng
Ở một số bệnh nhân, octreotide có thể làm thay đổi sự hấp thu chất béo trong chế độ ăn.
Đã quan sát thấy nồng độ vitamin B12 giảm và thử nghiệm Schilling bất thường ở một số bệnh nhân được điều trị bằng octreotide. Nên theo dõi nồng độ vitamin B12 trong khi điều trị bằng Sandostatin ở những bệnh nhân có tiền sử bị thiếu hụt vitamin B12.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa có số liệu nào nói về ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc của Sandostatin.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: C
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Không có các nghiên cứu đầy đủ và được kiểm soát tốt trên phụ nữ có thai. Các dữ liệu trong giai đoạn hậu mãi trên số lượng có hạn phụ nữ có thai đã được báo cáo ở những bệnh nhân bị to viễn cực, tuy nhiên một nửa các trường hợp không biết kết quả thai kỳ. Hầu hết các phụ nữ dùng octreotide trong 3 tháng đầu thai kỳ với liều trong khoảng từ 100-300 μg/ngày Sandostatin tiêm dưới da hoặc 20-30 mg/tháng Sandostatin LAR. Khoảng hai phần ba các trường hợp biết kết quả thai kỳ, các phụ nữ này lựa chọn tiếp tục điều trị với octreotide trong khi có thai. Trong hầu hết các trường hợp biết kết quả thai kỳ, trẻ đẻ ra bình thường được ghi nhận nhưng có một số trường hợp bị sảy thai tự phát trong 3 tháng đầu thai kỳ, và một số trường hợp phá thai.
Không có những bất thường hay dị tật bẩm sinh do sử dụng octreotide ở những trường hợp kết quả thai kỳ được báo cáo.
Các nghiên cứu trên động vật thí nghiệm chưa cho thấy những tác động độc tính sinh sản. Hiện tượng chậm phát triển thoáng qua được quan sát thấy trên chuột con, có thể do đặc tính nội tiết chuyên biệt của loài chuột thử nghiệm (xem phần An toàn tiền lâm sàng).
Sandostatin chỉ nên dùng cho phụ nữ có thai khi thật cần thiết (xem phần Cảnh báo).
Thời kỳ cho con bú:
Chưa rõ liệu octreotide có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy có sự bài tiết của octreotide vào sữa mẹ. Bệnh nhân không nên cho con bú khi đang điều trị với Sandostatin.
Khả năng sinh sản
Chưa rõ liệu octreotide có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của người hay không. Octreotide không làm giảm khả năng sinh sản ở chuột cống đực và cái với liều lên đến 1 mg/kg thể trọng/ngày (xem phần An toàn tiền lâm sàng).
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tóm tắt thông tin an toàn
Các tác dụng phụ được báo cáo thường gặp nhất trong khi điều trị với octreotide bao gồm các rối loạn về tiêu hóa, các rối loạn về hệ thần kinh, các rối loạn về gan mật và các rối loạn về chuyển hóa và dinh dưỡng.
Các phản ứng phụ hay gặp nhất đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng dùng Sandostatin là tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn, đầy hơi, đau đầu, sỏi mật, tăng đường huyết và táo bón. Các tác dụng phụ khác thường được báo cáo là chóng mặt, đau tại chỗ tiêm, bùn mật, rối loạn chức năng tuyến giáp (ví dụ như hormone kích thích tuyến giáp bị giảm, T4 toàn phần bị giảm, và T4 tự do bị giảm), phân lỏng, dung nạp glucose bị suy giảm, nôn, suy nhược và hạ đường huyết.
Trong một số trường hợp hiếm gặp, các tác dụng phụ về tiêu hóa có thể có các triệu chứng giống tắc ruột cấp với chướng bụng tăng dần, đau nhiều vùng thượng vị, nhạy cảm đau và dấu đề kháng khi ấn bụng.
Đau hoặc cảm giác nhói, cảm giác như kim châm hay nóng bỏng tại chỗ tiêm dưới da, sưng và đỏ ít khi kéo dài quá 15 phút. Có thể giảm bớt các khó chịu tại chỗ này bằng cách để dung dịch thuốc lên tới nhiệt độ trong phòng trước khi tiêm hay tiêm với lượng thuốc nhỏ hơn với dung dịch thuốc đặc hơn.
Mặc dù sự bài tiết chất béo qua phân đo được có thể tăng lên, hiện nay chưa có bằng chứng cho thấy việc điều trị kéo dài với octreotide dẫn đến thiếu hụt dinh dưỡng do hấp thu kém.
Sự xuất hiện các tác dụng phụ về tiêu hóa có thể giảm bằng cách không dùng bữa ăn gần lúc tiêm Sandostatin dưới da, có nghĩa là nên tiêm thuốc giữa các bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ.
Trong một số rất ít các trường hợp, viêm tụy cấp đã được báo cáo trong vòng vài giờ hoặc vài ngày đầu điều trị Sandostatin tiêm dưới da và hồi phục khi ngừng dùng thuốc. Ngoài ra, viêm tụy do bệnh sỏi mật cũng được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị Sandostatin tiêm dưới da kéo dài.
Ở cả bệnh nhân to viễn cực và hội chứng carcinoid, các thay đổi về điện tâm đồ (ECG) đã quan sát thấy như khoảng QT kéo dài, thay đổi trục, tái khử cực sớm, điện thế thấp, chuyển tiếp R/S, sóng R sớm và các thay đổi sóng ST-T không đặc hiệu. Mối liên quan giữa các hiện tượng này với octreotide acetate chưa được xác định vì rất nhiều trong số những bệnh nhân này đang có bệnh tim (xem phần Cảnh báo).
Bảng tóm tắt các phản ứng bất lợi của thuốc từ các thử nghiệm lâm sàng
Các phản ứng bất lợi của thuốc (ADR) sau đây được liệt kê trong Bảng 1, đã được thu thập từ các nghiên cứu lâm sàng với octreotide:
Các phản ứng bất lợi của thuốc (Bảng 1) được liệt kê theo phân loại hệ thống cơ quan MedDRA. Trong mỗi nhóm hệ thống cơ quan, các phản ứng bất lợi được xếp theo tần suất xảy ra, phản ứng bất lợi có tần suất cao nhất xếp đầu tiên theo quy ước: rất hay gặp (≥1/10); hay gặp (≥1/100, <1/10); ít gặp (≥1/1.000, <1/100); hiếm gặp (≥1/10.000, <1/1.000); rất hiếm gặp (<1/10.000), bao gồm các báo cáo lẻ tẻ. Trong mỗi nhóm tần suất, các phản ứng phụ được xếp theo thứ tự độ nghiêm trọng giảm dần.
– xem Bảng 1.

Các phản ứng bất lợi từ những báo cáo tự phát và các trường hợp y văn (tần suất không rõ)
Các phản ứng bất lợi của thuốc sau đây có nguồn gốc từ kinh nghiệm hậu mãi với Sandostatin LAR thông qua các báo cáo trường hợp tự phát và các trường hợp trong y văn. Vì những phản ứng này đã được báo cáo tự nguyện từ một nhóm dân số có quy mô không xác định, không thể ước tính đáng tin cậy về tần suất, vì vậy được phân loại là không rõ. Các phản ứng bất lợi của thuốc được liệt kê theo nhóm hệ cơ quan của MedDRA. Trong mỗi nhóm hệ cơ quan, các phản ứng bất lợi của thuốc được trình bày theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần.
– xem Bảng 2.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Tai biến tiêu hóa thường xảy ra trong tuần đầu điều trị và tự mất trong quá trình điều trị. Để giảm tai biến tiêu hóa, nên dùng thuốc xa bữa ăn, vào khoảng giữa các bữa ăn và trước khi đi ngủ. Bên cạnh đó, giảm lượng chất béo trong bữa ăn cũng có tác dụng giảm ADR.
Tai biến gan – mật thường xảy ra (40 – 60%) do thuốc ức chế co bóp túi mật, làm giảm tiết mật, thay đổi về hấp thu chất béo. Cần siêu âm túi mật và đường mật trước khi điều trị và định kỳ 6 tháng một lần trong điều trị. Nếu bị sỏi mật, phải ngừng thuốc. Nếu đau nặng do sỏi mật, phải phẫu thuật lấy sỏi.
Phải theo dõi chức năng tuyến giáp, xác định mỡ trong phân và định lượng caroten trong huyết thanh. Nếu thấy có diễn biến xấu, phải giảm liều. Với bệnh nhân có tiền sử suy giáp, xem xét sử dụng thêm các thuốc hormon tuyến giáp
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Có thể cần phải điều chỉnh liều của các thuốc như thuốc chẹn beta, thuốc chẹn kênh calci hoặc các thuốc để kiểm soát cân bằng dịch và điện giải khi Sandostatin được sử dụng đồng thời (xem phần Cảnh báo).
Có thể cần phải điều chỉnh liều của insulin và các thuốc điều trị bệnh đái tháo đường khi Sandostatin được sử dụng đồng thời (xem phần Cảnh báo).
Sandostatin đã được ghi nhận làm giảm hấp thu ciclosporin từ đường tiêu hóa và làm chậm hấp thu cimetidine đường tiêu hóa.
Dùng phối hợp octreotide và bromocriptine làm tăng sinh khả dụng của bromocriptine.
Những số liệu ít ỏi đã được công bố cho thấy somatostatin analogs có thể làm giảm sự thanh thải chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa bởi men cytochrome P450, điều này có thể gây ra bởi sự ức chế hormone tăng trưởng. Do không thể loại trừ nguyên nhân là do octreotide nên phải thận trọng khi dùng phối hợp các thuốc khác chuyển hóa chủ yếu bởi men CY3A4 và có chỉ số điều trị thấp (ví dụ quinidine, terfenadine).
4.9 Quá liều và xử trí:
Một số ít các trường hợp dùng quá liều Sandostatin một cách ngẫu nhiên ở người lớn và trẻ em được báo cáo. Ở người lớn, liều dùng là trong khoảng từ 2.400-6.000 μg/ngày truyền liên tục (100-250 μg/giờ) hoặc tiêm dưới da (1.500μg, 3 lần/ngày). Các biến cố bất lợi được báo cáo là loạn nhịp, hạ huyết áp, ngừng tim, giảm oxi máu não, viêm tụy, viêm gan thoái hóa mỡ, tiêu chảy, mệt mỏi, ngủ lịm, sút cân, gan to và nhiễm acid lactic.
Ở trẻ em, liều dùng là trong khoảng từ 50-3.000 μg/ngày truyền liên tục (2,1-500 μg/giờ) hoặc tiêm dưới da (50-100 μg). Tác dụng phụ duy nhất được báo cáo là tăng đường huyết nhẹ.
Không có các biến cố bất lợi không định trước được báo cáo ở bệnh nhân ung thư dùng Sandostatin với liều 3.000-30.000 μg/ngày chia liều tiêm dưới da.
Điều trị
Xử trí quá liều là điều trị triệu chứng.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Các tác dụng của Sandostatin trên các loại khối u khác nhau được liệt kê dưới đây:
U carcinoid
Dùng Sandostatin có thể cải thiện được các triệu chứng, đặc biệt các triệu chứng đỏ bừng và tiêu chảy. Trong nhiều trường hợp tác dụng này đi kèm với sự giảm lượng serotonin trong huyết tương và sự giảm bài tiết 5-hydroxyindole acetic acid qua nước tiểu.
VIPoma
Đặc tính sinh hóa của các khối u này là sự sản xuất quá mức các peptide ruột vận mạch (vasoactive intestinal peptide-VIP). Trong hầu hết các trường hợp, dùng Sandostatin làm thuyên giảm tiêu chảy nặng do tăng xuất tiết, nhờ vậy cải thiện được chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Tình trạng mất dịch và điện giải kèm theo (ví dụ hạ kali máu) được cải thiện, cho phép ngừng bồi phụ nước và điện giải qua đường tiêu hóa hoặc ngoài đường tiêu hóa. Ở một số bệnh nhân, chụp cắt lớp điện toán gợi ý cho thấy sự làm chậm lại hay ngừng phát triển của khối u, hoặc thậm chí thu nhỏ lại, đặc biệt trong trường hợp di căn gan. Cải thiện lâm sàng thường đi cùng với sự giảm hoặc thậm chí trở về phạm vi bình thường của nồng độ VIP trong huyết tương.
U tế bào alpha tiểu đảo tụy (Glucagonomas)
Sử dụng Sandostatin cải thiện đáng kể tình trạng ban da hoại tử di trú, đặc trưng cho bệnh lý này trong hầu hết các trường hợp. Ảnh hưởng của Sandostatin lên tình trạng đái đường nhẹ hay gặp là không đáng kể và nói chung không phải giảm liều dùng insulin hay các thuốc hạ đường huyết uống. Sandostatin làm thuyên giảm tiêu chảy và do đó làm tăng cân đối với những bệnh nhân bị mắc bệnh này. Mặc dù dùng Sandostatin thường dẫn tới hiện tượng giảm ngay lượng glucagon trong huyết tương nhưng quá trình này nhìn chung không kéo dài; mặc dù triệu chứng vẫn tiếp tục được cải thiện.
Gastrinoma/hội chứng Zolinger-Ellison
Mặc dù điều trị với các thuốc ức chế bơm proton hoặc các thuốc chẹn thụ thể H2 kiểm soát được bệnh loét dạ dày tái diễn do tăng tiết acid dạ dày mãn tính do kích thích tăng tiết gastrin, những điều trị như vậy có thể không kiểm soát được hoàn toàn. Tiêu chảy có thể là triệu chứng nổi trội không được thuyên giảm khi điều trị bằng phương pháp này. Điều trị Sandostatin đơn thuần hoặc kết hợp với thuốc ức chế bơm proton hoặc thuốc đối kháng thụ thể H2 có thể làm giảm sự tăng tiết quá mức dịch vị và làm giảm các triệu chứng lâm sàng bao gồm cả tiêu chảy. Các triệu chứng khác có thể gặp do khối u làm tăng tiết peptide như nóng bừng cũng có thể thuyên giảm. Ở một số bệnh nhân có sự giảm lượng gastrin trong huyết tương.
U đảo tụy
Dùng Sandostatin có thể làm giảm lượng insulin đo bằng phương pháp miễn dịch trong tuần hoàn, nhưng chỉ trong thời gian ngắn (khoảng 2 giờ). Ở những bệnh nhân có khối u có thể phẫu thuật được, Sandostatin có thể giúp phục hồi và duy trì mức đường huyết bình thường trước mổ. Đối với những bệnh nhân có khối u lành hoặc ác tính không thể phẫu thuật, việc kiểm soát đường huyết có thể được cải thiện mà không kèm theo hiện tượng giảm insulin trong tuần hoàn.
GRFomas
Đây là loại khối u hiếm gặp đặc trưng bởi việc tiết ra yếu tố phóng thích hormone tăng trưởng (GRF: growth hormone releasing factor) riêng rẽ hay kết hợp với các peptide hoạt tính khác. Sandostatin có tác dụng cải thiện tình trạng bệnh và các triệu chứng lâm sàng của bệnh to viễn cực. Điều này có thể do sự ức chế bài tiết GRF và hormone tăng trưởng GH, và kèm theo đó có thể có sự giảm bớt kích thước tuyến yên.
Bệnh nhân bị tiêu chảy kéo dài do hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) không đáp ứng điều trị, Sandostatin kiểm soát được một phần hoặc hoàn toàn lượng phân trên khoảng một phần ba số bệnh nhân mắc tiêu chảy không đáp ứng với thuốc chống nhiễm trùng và/hoặc các thuốc chống tiêu chảy.
Ở những bệnh nhân phẫu thuật tụy, dùng Sandostatin trước và sau mổ làm giảm tỷ lệ biến chứng sau mổ đặc trưng (như dò tụy, áp-xe và nhiễm khuẩn, viêm tụy cấp sau mổ).
Ở bệnh nhân xuất huyết do giãn tĩnh mạch dạ dày-thực quản do xơ gan, sử dụng Sandostatin kết hợp với điều trị đặc hiệu (liệu pháp xơ hóa) sẽ kiểm soát chảy máu và chảy máu tái phát sớm tốt hơn, làm giảm nhu cầu truyền máu và làm tăng tỷ lệ sống sót trong 5 ngày đầu. Mặc dù cơ chế tác dụng cụ thể của Sandostatin chưa được hiểu rõ hoàn toàn, người ta cho rằng Sandostatin làm giảm lượng máu lưu thông nội tạng nhờ ức chế các hormone hoạt mạch (như VIP, glucagon).
Cơ chế tác dụng:
Octreotide là chất octapeptide tổng hợp có tác dụng dược lý tương tự như somatostatin tự nhiên, nhưng có thời gian tác dụng dài hơn đáng kể. Thuốc ức chế sự bài tiết tăng bệnh lý của hormone tăng trưởng (GH) và các peptide và serotonin của hệ nội tiết dạ dày-ruột-tụy (GEP: gastroenteropancreatic).
Ở động vật, octreotide có tác dụng ức chế hormone tăng trưởng, ức chế sự giải phóng glucagon và insulin mạnh hơn somatostatin, cũng như có tác dụng chọn lọc hơn trong việc ức chế GH và glucagon.
Ở người khỏe mạnh, Sandostatin cho thấy các tác dụng ức chế đối với:
Sự giải phóng hormone tăng trưởng (GH) kích thích bởi arginine, hạ đường huyết do hoạt động thể lực và do insulin.
Sự giải phóng insulin, glucagon, gastrin, các peptide khác thuộc hệ nội tiết GEP sau bữa ăn và sự giải phóng insulin và glucagon kích thích bởi arginine.
Sự giải phóng hormone kích thích tuyến giáp (TSH: thyroid stimulating hormone) kích thích bởi hormone giải phóng hướng giáp tố (TRH: thyrotropine-releasing hormone).
Không giống somatostatin, octreotide ức chế bài tiết GH mạnh hơn insulin và việc dùng thuốc không sinh ra sự tăng bài tiết hormone trở lại (có nghĩa là GH ở bệnh nhân to viễn cực).
Ở bệnh nhân to viễn cực, Sandostatin làm giảm nồng độ hormone tăng trưởng GH và IGF-1 trong huyết tương. Việc giảm lượng GH xuống 50% hoặc hơn xảy ra trên 90% bệnh nhân, và sự giảm GH trong huyết thanh < 5ng/mL đạt được với khoảng một nửa số trường hợp. Trên hầu hết bệnh nhân, Sandostatin làm giảm đáng kể các triệu chứng lâm sàng của bệnh, như đau đầu, sưng nề da và các mô mềm, tăng tiết mồ hôi, đau khớp, dị cảm. Ở những bệnh nhân có khối u tuyến yên lớn, điều trị Sandostatin có thể làm khối u nhỏ lại.
Với những bệnh nhân có khối u chức năng hệ nội tiết dạ dày-ruột-tụy (GEP), Sandostatin, do tác dụng nhiều mặt về nội tiết, làm thay đổi nhiều bệnh cảnh lâm sàng. Cải thiện về lâm sàng và lợi ích triệu chứng ở các bệnh nhân vẫn bị các triệu chứng do khối u bất kể các điều trị trước đó bằng phẫu thuật, làm tắc động mạch gan, hóa trị liệu như streptozotocin và 5-fluorouracil.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu: Sau khi tiêm dưới da, Sandostatin được hấp thu nhanh và hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 30 phút.
Phân phối: Thể tích phân phối của thuốc là 0,27 L/kg và hệ số thanh thải toàn bộ là 160 mL/phút. Lượng thuốc gắn với protein huyết tương lên tới 65%. Lượng Sandostatin gắn với tế bào máu là không đáng kể.
Đào thải: Thời gian bán thải sau khi tiêm dưới da là 100 phút. Sau khi tiêm tĩnh mạch, thuốc được thải trừ qua 2 pha với thời gian bán thải là 10 phút và 90 phút. Hầu hết các peptide đều được đào thải qua phân, trong khi đó khoảng 32% được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng không đổi.
Nhóm bệnh nhân đặc biệt
Suy giảm chức năng thận không làm ảnh hưởng tới nồng độ thuốc toàn thân (AUC) của octreotide dùng đường tiêm dưới da.
Khả năng đào thải thuốc có thể bị giảm đối với bệnh nhân xơ gan, nhưng không giảm đối với bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Ống tiêm: Acid lactic, mannitol, natri hydrogen carbonate, nước pha tiêm.
Lọ đa liều: Lactic acid, phenol, mannitol, natri hydrogen carbonate, nước pha tiêm.
6.2. Tương kỵ :
Octreotide acetate không ổn định trong dung dịch dinh dưỡng dùng ngoài đường tiêu hóa hoàn toàn (TPN).
6.3. Bảo quản:
Ống tiêm
Bảo quản ống tiêm nguyên trong hộp carton để tránh ánh sáng.
Bảo quản dài ngày, ống tiêm Sandostatin phải được giữ ở nhiệt độ 2-8°C.
Không được làm đông lạnh.
Đối với việc dùng thuốc hàng ngày có thể để thuốc ở nhiệt độ dưới 30°C trong 2 tuần.
Lọ đa liều
Bảo quản lọ đa liều nguyên trong hộp carton để tránh ánh sáng.
Bảo quản dài ngày, lọ đa liều Sandostatin phải được giữ ở nhiệt độ 2-8oC.
Không được làm đông lạnh.
Đối với việc dùng thuốc hàng ngày có thể để thuốc ở nhiệt độ dưới 25oC trong 2 tuần.
6.4. Thông tin khác :
An toàn tiền lâm sàng
Độc tính liều nhắc lại
Một nghiên cứu ban đầu về độc tính đường dùng tĩnh mạch trên chó kéo dài 26 tuần với liều lên tới 0,5 mg/kg, ngày 1 lần cho thấy những thay đổi tăng sinh/thoái hóa ở tế bào có chứa acidophil prolactin của tuyến yên. Những nghiên cứu khác cũng cho thấy những thay đổi này trong vòng phạm vi sinh lý của loài được sử dụng. Loài khỉ cái Rhesus được điều trị với liều 0,5 mg/kg ngày hai lần trong vòng 3 tuần không thấy có sự thay đổi tuyến yên, và cũng không thấy có sự thay đổi nồng độ cơ bản của hormone tăng trưởng, prolactin, hoặc glucose trong huyết tương.
Mặc dù chất dẫn acid lại tạo ra phản ứng viêm và tạo mô sợi khi dùng liều tiêm dưới da nhắc lại trên chuột cống, không có bằng chứng nào cho thấy octreotide acetate gây ra phản ứng quá mẫn chậm khi tiêm trong da dung dịch thuốc 0,1% trong nước muối sinh lý 0,9% trên chuột lang.
Độc tính gen
Không thấy có nguy cơ gây đột biến gen do octreotide và/hoặc chất chuyển hóa của nó khi nghiên cứu in vitro trên hệ thống thử nghiệm vi khuẩn và tế bào của động vật có vú đã được kiểm định. Trong một nghiên cứu, tăng tần suất thay đổi nhiễm sắc thể được quan sát thấy trên tế bào chuột Hamster Trung Quốc V79, mặc dù chỉ xảy ra ở nồng độ cao và nồng độ gây độc tính tế bào. Tuy nhiên sự sai lạc nhiễm sắc thể không thấy tăng lên ở tế bào lympho người được ủ với octreotide acetate. In vivo, không quan sát thấy có hiện tượng gây gãy nhiễm sắc thể ở tủy xương chuột nhắt được điều trị bằng octreotide tĩnh mạch (thử nghiệm nhân nhỏ) và không có bằng chứng độc tính gen ở chuột nhắt đực khi dùng thử nghiệm hồi phục ADN trên đầu tinh trùng.
Khả năng sinh ung thư/độc tính trường diễn
Ở chuột cống được điều trị octreotide acetate với liều hàng ngày lên tới 1,25 mg/kg cân nặng cơ thể, sarcom sợi được quan sát thấy chủ yếu trên một số lượng chuột cống đực, ở tại chỗ tiêm dưới da sau 52, 104 và 113/116 tuần. Khối u tại chỗ cũng được quan sát thấy trên chuột cống kiểm chứng, tuy nhiên sự phát triển của những khối u này là do rối loạn sự tạo mô xơ được tạo thành do tác dụng kích ứng kéo dài tại chỗ tiêm, phản ứng này tăng lên do chất dẫn acid lactic/mannitol. Phản ứng mô không đặc hiệu này có vẻ xuất hiện riêng trên chuột cống. Không quan sát thấy tổn thương khối u cả trên chuột nhắt dùng liều tiêm hàng ngày dưới da octreotide lên tới 2 mg/kg đến 99 tuần, cũng như trên chó dùng cùng liều tiêm dưới da hàng ngày trong 52 tuần.
Trong một nghiên cứu 116 tuần về khả năng sinh ung thư trên chuột cống điều trị octreotide tiêm dưới da thấy có ung thư tuyến nội mạc tử cung, tỷ lệ lên cao đến mức có ý nghĩa thống kê khi dùng tiêm dưới da với liều cao nhất 1,25 mg/kg/ngày. Phát hiện này đi kèm với việc tăng tỷ lệ viêm nội mạc tử cung, giảm số lượng hoàng thể buồng trứng, sự giảm u tuyến vú và sự xuất hiện dãn ống và tuyến tử cung, điều này cho thấy sự mất cân bằng về hormone. Những số liệu đã có cho thấy rõ ràng rằng những phát hiện về khối u qua trung gian nội tiết trên chuột cống đặc hiệu theo loài và không đúng khi dùng thuốc trên người.
Sự sinh sản
Các nghiên cứu về sinh sản đã được thực hiện ở chuột cống và thỏ với liều tiêm dưới da lên tới 1 mg/kg cân nặng/ngày. Sự chậm phát triển sinh lý đã được ghi nhận ở con của chuột cống, thoáng qua và rất có thể là do hoạt động dược lực học quá mức gây ra sự ức chế hormone tăng trưởng (GH). Không có bằng chứng về tác dụng gây quái thai, ảnh hưởng đối với phôi/thai hoặc ảnh hưởng khác đối với sinh sản do octreotide.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM