Oxytocin – Oxytocin Gedeon Richter

Thuốc Oxytocin Gedeon Richter là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Oxytocin Gedeon Richter (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Oxytocin

Phân loại: Thuốc tác động trên tử cung, Thuốc thúc đẻ – Hormon thùy sau tuyến yên.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): H01BB02.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Oxytocin Gedeon Richter

Hãng sản xuất : Gedeon Richter Plc.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm oxytocin 5 IU/ml ( lm; tb)

Dung dịch tiêm oxytocin 10 IU/ml ( lm; tb)

Mỗi ống thuốc tiêm 1 ml có chứa 5 IU hoặc 10 IU oxytocin. Hộp 20 vỉ x 5 ống 1 ml

Thuốc tham khảo:

OXYTOCIN 5IU
Mỗi ống tiêm 1ml có chứa:
Oxytocin …………………………. 5 IU
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Thuốc tiêm Oxytocin là dạng bào chế được dùng để gây tăng co thắt tử cung. Nó có tác động giống như Oxytocin nội sinh được sản xuất ở thùy sau tuyến yên. Thuốc tiêm Oxytocin có thể dùng để gây và giục sinh cũng như hạn chế chảy máu tử cung sau khi sinh. Ngoài ra nó cũng được dùng như điều trị hỗ trợ khi sảy thai không hoàn toàn hoặc bị bỏ quên. Trong trường hợp nghi ngờ có thai, có thể dùng Oxytocin để thực hiện thử nghiệm “ stress Oxytocin”

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng : Xem chi tiết phần liều dùng.

Liều dùng:

Liều dùng phải được điều chỉnh theo yêu cầu của từng cá thể trên cơ sở đáp ứng của mẹ và thai nhi.

Những thông tin về liều lượng sau đây dựa theo những phác đồ và chỉ định chung.

Gây hoặc thúc đẻ

Truyền dịch tĩnh mạch là phương pháp duy nhất được chấp nhận để gây hoặc thúc đẻ. Kiểm soát chính xác tốc độ truyền dịch là điều cần thiết. Một bơm truyền dịch hoặc thiết bị tương tự, giám sát thường xuyên cường độ co thắt tử cung, theo dõi tim thai là những điều cần thiết để gây hoặc thúc đẻ an toàn trong những ca có sử dụng Oxytocin. Nếu sự co thắt tử cung quá mạnh, ngừng truyền dịch ngay thì sự kích thích cơ tử cung của Oxytocin sẽ yếu đi.

(1). Bắt đầu truyền dịch bằng dung dịch không chứa Oxytocin. Phải dùng dung dịch điện giải sinh lý.

(2). Cách thông thường để pha Oxytocin vào dịch truyền: pha 1 ống 1 ml (chứa 5 IU Oxytocin) với 1000ml dung dịch không hydrate hóa, trong điều kiện vô trùng. Dung dịch mới pha này được quay trong một bình truyền dịch để bảo đảm trộn đều 5 mU Oxytocin/ ml. Gắn bình chứa dung dịch Oxytocin đã pha loãng này vào 1 bơm truyền dịch hoặc 1 thiết bị tương tự để kiểm soát chính xác tốc độ truyền dịch.

(3). Liều khởi đầu không cao hơn 0,5-4 mU/ phút. Tăng liều dần cứ mỗi 20-40 phút với gia lượng 1-2mU/phút cho đến khi đặt được hoạt động tử cung thỏa đáng. Khi tần suất co thắt tử cung mong muốn được thiết lập( kiểu tử cung có thể so sánh với kiểu đẻ tự nhiên) mà không có dấu hiệu trụy thai, và sự chuyển dạ tiến triển đến mức giãn 4-6 cm, thì giảm tốc độ truyền dịch Oxytocin với gia lượng tương tự. Lúc đó nếu dùng tốc độ truyền dịch cao hơn thì phải thận trọng, hiếm khi quá 8-9mU/ phút. Trước cuộc đẻ cơ thể cần truyền dịch với tốc độ cao hơn, đôi khi quá 20mU/ phút.

(4). Tim thai, trương lực tử cung lúc nghỉ, thời gian, tần suất và lực co thắt tử cung phải được giám sát.

(5). Phải ngừng truyền dịch Oxytocin ngay trong trường hợp hoạt động tử cung quá mạnh hoặc trụy thai. Cho người mẹ thở Oxygen. Bác sĩ điều trị phải luông giá tình trạng của mẹ và thai nhi.

Kiểm soát xuất huyết tử cung sau sinh:

(A)- Truyền dịch tĩnh mạch: để kiểm soát xuất huyết sau sinh, có thể thêm 10-40 IU Oxytocin vào 1000ml dung dịch không hydrate hóa và truyền với tốc độ 20-40 mU/ phút để kiểm soát trương lực tử cung.

(B)- Dùng đường tiêm bắp: tiêm bắp 1ml(5IU) Oxytocin sau khi xuất nhau.

Điều trị xảy thai không an toàn hoặc không tránh được

Thêm 10 IU Oxytocin vào 500ml nước muối sinh lý hoặc dung dịch 5% dextrose trong nước muối sinh lý và truyền dịch với tốc độ 20-40 giọt/ phút.

Chuẩn đoán suy chức năng tử cung nhau (test Oxytocin )

Truyền dịch tĩnh mạch, khởi đầu 0,5mU/ phút, nếu cần tăng gấp đôi cứ mỗi 20 phút/lần cho đến liều có hiệu quả ( thông thường 5-6mU/ phút tối đa 20mU/ phút). khi gặp 3 cơn có thắt tử cung vừa phải ( trong 40-60 giây) cứ mỗi lần 10 phút/ lần thì ngừng truyền dịch và giám sát các biểu hiện của sự giảm nhịp tim thai muôn hoặc thay đổi.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định thuốc tiêm Oxytocin trong bất kì trường hợp nào sau đây:

Tỷ lệ bào thai và khung chậu bất cân đối; ngôi thai không thận lợi hoặc có dấu hiệu cho thấy không thể đẻ được nếu không đảo ngôi trước khi sinh( ngôi ngang), tức là trong các ca cấp cứu sản khoa mà cán cân lợi/ hại cho thai nhi hoặc cho mẹ nghiên về sử dụng phẫu thuật, trong trường hợp trụy thai mà không chuyển dạ; dùng thuốc kéo dài trong trơ tử cung hoặc nhiễm độc huyết tầm trong; tăng trương lực tử cung; các bệnh nhân quá mẫn cảm với thuốc, gây hoặc thúc đẻ trong trường hợp chống chỉ định đẻ đường âm đạo, như ngôi rốn, nhau tiền đạo hoàn toàn, và mạch tiền đạo.

Chống chỉ định Oxytocin cho bệnh nhân có tiền sử quá mẫn cảm với thuốc

Không được dùng Oxytocin cùng lúc bằng nhiều đường dùng.

4.4 Thận trọng:

Trừ những trường hợp ngoại lệ, không nên dùng Oxytocin trong những trường hợp sau: sinh non, tỷ lệ của thai và khung chậu ở mức giới hạn, đã đại phẫu trước đó trên cổ tử cung hoặc tử cung gồm mổ lấy con, tử cung quá căng, đẻ rất nhiều lần hoặc carcimon cổ tử cung xâm lấn. Không dùng Oxytocin để gây đẻ trước khi biết tỷ lệ đầu thai nhi và khung chậu. Vì sự thay đổi của sự kết hợp các yếu tố có trong các tình trạng nói trên, nên sự xác định “ những trường hợp ngoại lệ “ thuộc sự pháp xét của bác sĩ điều trị. Quyết định chỉ có thể được đưa ra sau khi cân nhắc cẩn thân giữa lợi ích tiềm tàng mà Oxytocin có thể mang lại với khả năng tăng trương lực hoặc co giật kiểu uốn vắn tuy hiếm nhưng có thể xảy ra.

Oxytocin khi được dùng gây hoặc thúc đẻ chỉ được dùng bằng đường tiêm tĩnh mạch và kiểm soát đầy đủ trong bệnh viện. Tất cả các bệnh nhận dùng Oxytocin tiêm tĩnh mạch phải được giám sát liên tục bởi nhân viên được huấn luyện có kiến thức toàn diện về thuốc và có khả năng nhận biết các biến chứng. Phải luôn luôn có bác sĩ có khả năng xử lý nhanh các biến chứng. Trong khi dùng Oxytocin, sự co thắt tử cung, nhịp tim thai và nhịp tim người mẹ, huyết áp người mẹ phải được giám sát liên tục để dự phòng biến chứng. Nếu tử cung hoạt động quá mạnh phải ngừng dùng Oxytocin ngay; sự kích thích co thắt tử cung do Oxytocin thường giảm ngay sai khi ngừng thuốc.

Khi được dùng một cách thích hợp, Oxytocin kích thích co thắt tử cung giống như sự co thắt trong chuyển dạ bình thường. Sự kích thích tử cung do dùng thuốc không đúng có thể gây nguy hiểm cho mẹ và thai nhi. Ngay cả khi dừng dùng và giám sát đầy đủ, cũng gặp sự co thắt quá mạnh ở những bệnh nhân có tử cung quá nhạy cảm với Oxytocin.

Phải chú ý khả năng mất máu và giảm fibrinogen huyết khi dùng Oxytocin

Đã gặp tử vong cho người mẹ do con tăng huyết áp, xuất huyết dưới mạng nhện, vỡ tử cung, và chết thai do các nguyên nhân khác nhau xảy ra cùng lúc với việc dùng Oxytocin đường tiêm để gây hoặc thúc đẻ trong giai đoạn I và II của cuộc đẻ.

Oxytocin có bản chất chống bài niệu, nhờ tăng tái hấp thu nước từ sự lọc cầu thận. Vì thế phải xem xét khả năng ngộ độc nước hoặc thức ăn lỏng.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Thuốc không ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: A

US FDA pregnancy category: X

Thời kỳ mang thai:

Chưa từng có chỉ định dùng Oxytocin trong 3 tháng đầu thai kỳ cho mục đích nào khác hơn là chỉ định liên quan đến nạo và sảy thai. Dựa trên kinh nghiệm rộng rãi với thuốc này và cấu trúc hóa học, đặc tính dược lý của nó, sẽ không có nguy cơ thai bất bình thường nào khi dùng thuốc theo chỉ định.

Thời kỳ cho con bú:

Oxytocin được tìm thấy một lượng nhỏ trong sữa mẹ

Nếu một bệnh nhân cần Oxytocin để kiểm soát xuất huyết trầm trọng, không nên bắt đầu cho con bú đến sau ngày ngừng dùng Oxytocin.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Cũng như tất cả các thuốc khác, thuốc tiêm Oxytocin có thể có các tác dụng không không mong muốn có thể liên quan đến người mẹ hoặc bản thân đứa trẻ.

Khi tiêm quá liều cũng như làm tăng nhạy cảm của tử cung có thể gây tăng trương lực cơ tử cung quá mức hoặc trong trường hợp nghiêm trọng – làm vỡ tử cung. Các phản ứng không mong muốn trên thai gồm có loạn nhịp tim và thay đổi huyết áp.

Xuất huyết sau sinh có thể nặng lên sau khi tiêm Oxytocin. Tuy nhiên, theo dõi cẩn thận quá trình chuyển dạ có thể làm giảm tần suất các xuất huyết máu sau sanh.

Buồn nôn và nôn mửa có thể xảy ra và có thể có u máu phát triển ở khung chậu.

Oxytocin có thể làm giữ nước nhẹ và do đó khi truyền tĩnh mạc kéo dài với thể tích dịch lớn có thể dẫn đến ngộ độc nước.

Thuốc tiêm Oxytocin cũng có thể gây phản ứng quá mãn như bất kì loại thuốc nào.

Tử cung bị thắt quá mức có thể gây loạn nhịp tim thai tạm thời. Đôi khi, thai bị suy kiệt có thể gây thiếu oxy làm tổn hại đến hệ thần kinh trung ương. Vàng da sau sinh, xuất huyết võng mạc và giảm đếm số APGAR 5 phút cũng được ghi nhận khi dùng thuốc tiêm Oxytocin trong quá trình chuyển dạ.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Đã gặp cao huyết áp trầm trọng khi dùng Oxytocin sau 3-4 ngày dùng dự phòng 1 thuốc co mạch cùng với một thuốc gây mê phong bế ống cùng. Thuốc mê cyclopropan có thể làm mạnh tác dụng lên tim mạch của Oxytocin gây kết quả ngoài dự kiến như hạ huyết áp. Nhịp xoang chậm và bất thường nhịp nhĩ thất ở người mẹ đã được ghi nhận khi dùng Oxytocin đồng thời với thuốc mê cyclopropan.

4.9 Quá liều và xử trí:

Quá liều Oxytocin chủ yếu là do sự nhạy cảm của tử cung với Oxytocin – cần phải phân biệt rõ ràng với dị ứng với hoạt chất chính.

Quá liều có thể gây ra cơn đau đẻ đột ngột, vỡ tử cung, chấn thương cổ tử cung và âm đạo, xuất huyết sau sinh, giảm lưu lượng dòng máu tử cung nhau, ảnh hưởng lên nhịp tim thai và gây kiệt sức cho thai.

Các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng khác gồm co thắt cơ ở chi có liên quan đến việc giữ nước do Oxytocin gây ra. Phản ứng này cần được điều trị cấp cứu ngay.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Mã ACT, H01BB02

INN Oxytocin

Những đặc tính dược lý và lâm sàng của Oxytocin giống với nguyên tắc hoạt động của Oxytocin thiên nhiên của thùy sau tuyến yên. Cơ tử cung mang các thụ thể đặc hiệu với Oxytocin, thuộc nhóm các thụ thể gắn kết với Gprotein. Oxytocin kích thích sự co thắt cơ trơn tử cung bằng cách tăng nồng độ calci nội bào, bắt chước sự co thắt của cuộc đẻ tự nhiên bình thường và tạm thời cản trở tuần hòan qua tử cung. Cường độ và thời gian co thắt tử cung tăng làm giãn và nở cổ tử cung. Số lượng thụ thể Oxytocin, cũng là đáp ứng tử cung với Oxytocin tăng trong thai kì, đặt đến đỉnh điểm lúc đẻ. Oxytocin khi dùng với liều thích hợp trong thai kỳ, có khả năng làm tăng co bóp tử cung về tốc độ và lực chuyển động tự nhiên vừa phải đến mức co thắt uốn vắn kéo dài.

Oxytocin làm co các tế bào cơ biểu mô xung quanh các túi nang vú làm thuận lợi tiết sữa.

Oxytocin làm co mạch cơ trơn, tăng tuần hòan qua thận, mạch vành và não. Huyết áp thường không đổi, nhưng sau khi truyền dịch tĩnh mạch một lượng rất lớn dung dịch, hoặc dung dịch không pha loãng, huyết áp có thể giảm thoáng qua, nhịp tim nhanh và cung lượng tim tăng do cảm ứng phản xạ. Sự hạ huyết áp ban đầu thường kèm theo sự tăng áp nhẹ nhưng kéo dài.

Ngược lại với chất co mạch, Oxytocin có tác dụng kháng bài niệu tối thiểu; tuy nhiên sự nhiễmđộc nước có thể xảy ra khi dùng Oxytocin với một lượng thừa chất lỏng tiêm tĩnh mạch không chất điện giải và/ hoặc với tốc độ quá nhanh.

Cơ chế tác dụng:

Oxytocin dùng đế gây sẩy thai, gây chuyển dạ đè hoặc thúc đẻ và đê giảm chảy máu nơi nhau bám. Oxytocin gây co bóp tử cung với mức độ đau thay đôi tùy theo cường độ co bóp tử cung. Oxytocin là một hormon nonapeptid, oxytocin ngoại sinh cũng có tất cà các tác dụng dược lỵ như oxytocin nội sinh. Oxytocin kích thích gián tiếp lên co bóp cơ trơn tử cung bằng cách làm tăng tính thấm natri của sợi tơ cơ tử cung. Nồng độ cao estrogen làm hạ thấp ngưỡng đáp ứng của tử cung với oxytocin. Tử cung đáp ứng với oxytocin tăng theo thời gian mang thai và cao hơn ở người đang chuyển dạ; chi liều rất cao mới gây co bóp tử cung ở đầu thai kỳ. Tử cung đến hạn đẻ co bóp do oxytocin gây ra giống như khi chuyến dạ đè tự nhiên. Ở tử cugn đên hạn đè, oxytocin làm tăng biên độ và tần số cơn co tử cung, đông thời làm giảm hoạt động của cổ tử cung nên làm giãn, làm cố tử cung mở hết và nhât thời cản trở máu tới tử cung. Oxytocin gây co bóp tế bào cơ biểu mô quanh nang tuyến sữa, làm sữa từ các nang tuyến sữa dồn vào các ống dẫn lớn hơn, vì vậy oxytocin làm sữa dễ cháy ra. Oxytocin không phải là chất tăng sinh sữa.

Oxytocin gây giãn mạch, tăng lưu lượng máu tới thận, mạch vành và não. Huyêt áp thường không thay đôi, nhưng sau khi tiêm tĩnh mạch liều cao hoặc dung dịch không pha loãng, huyết áp có thể giảm thoáng qua, tim đập nhanh và cụng lượng tim tăng do phản xạ. Bất kỳ một giảm huyết áp nào lúc đầu thường kéo theo tăng huyết áp nhẹ nhưng kéo dài sau đó.

Trái với vasopressin, oxytocin có tác dụng chống bài niệu yếu; tuy nhiên ngộ độc nước có thê xảy ra khi dùng oxytocin với một thể tích quá nhiều dịch truyen không có chất điện giải và/hoặc tiêm truyền quá nhanh.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Bằng đường tiêm tĩnh mạch, tác dụng lên tử cung hầu như xuất hiện ngay và gảm trong vòng 1 giờ. Sau khi tiêm bắp thịt, tác dụng lên trương lực cơ tử cung xuất hiện trong 3-7 phút, và kéo dài 2-3 giờ.

Giống như những co mạch, Oxytocin được phân bố trong toàn bộ dịch ngoại bào. Một lượng nhỏ Oxytocin có thể qua tuần hoàn thai.

Thời gian bán hủy Oxytocin là 1-6 phút ( giảm trong mang thai quá hạn và thời kỳ nuôi con bú). Hầu hết thuốc được phân hủy nhanh ở gan và thận. Oxytocin bị làm bât hoạt bởi sự thủy phân bằng enzym, chủ yếu bởi Oxytocinase mô. Oxytocioase có trong mô nhau và huyết tương. Chỉ một lượng nhỏ Oxytocin bị thải trừ vào nước tiểu dưới dạng không đổi.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

6.2. Tương kỵ :

Tương kỵ với fibrinolysin, norepinephrin bitartrat, proclorperazin edisylat, và natri warfarin. Oxytocin cũng tương kỵ với nhiều thuốc khác, nhưng sự tương hợp phụ thuộc vào nhiều thông số (nồng độ của thuốc, pH, nhiệt độ).

6.3. Bảo quản:

Bảo quản thuốc ở nhiệt độ 2-15oC, trong bao bì nguyên thủy.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM