Thuốc Mycophenolate mofetil/ Mycophenolic Acid là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Mycophenolate mofetil/ Mycophenolic Acid (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Mycophenolate mofetil/ Mycophenolic Acid
Phân loại: Thuốc ức chế miễn dịch chọn lọc.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L04AA06 – mycophenolic acid.
Brand name: CellCept
Generic : Mycophenolic acid, Mycokem capsules , Mycokem tablets , Ckdmyrept Cap. , Ckdmyrept Tab. , Kupcept, Introcell , Mofilet, Belmyco, Transfonex, Renocell, Myfortic, Mycophenolate mofetil, Micocept , Mycophenolate mofetil Teva, Baxmune
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nang 250 mg.
Viên nén 500 mg.
Hỗn dịch uống 200 mg/ml.
Thuốc tham khảo:
| RENOCELL | ||
| Mỗi viên nén có chứa: | ||
| Mycophenolate mofetil | …………………………. | 500 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Mycophenolate được chỉ định dùng phối hợp với ciclosporin dạng vi nhũ tương và corticosteroid để dự phòng sự thải loại mảnh ghép cấp tính ở bệnh nhân ghép thận dị gen.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng đường uống.
Liều dùng:
Mycophenolate nên được bắt đầu dùng cho bệnh nhân mới ghép trong vòng 48 giờ sau khi ghép. Liều được khuyến cáo là 720 mg (4 viên Mycophenolate không tan trong dạ dày loại 180 mg hoặc 2 viên loại 360 mg), ngày 2 lần (liều mỗi ngày 1440 mg). Ở bệnh nhân đang dùng mycophenolate mofetil 2 g, việc điều trị có thể được thay bằng 720 mg Mycophenolate ngày 2 lần (liều mỗi ngày 1440 mg).
Mycophenolate có thể được uống cùng với thức ăn hoặc không.
Trẻ em : Tính an toàn và hiệu quả ở bệnh nhi còn chưa được xác định. Các tài liệu dược động học hiện có đối với các bệnh nhi ghép thận còn hạn chế (xem mục Dược động học).
Người cao tuổi : Không cần điều chỉnh liều trong nhóm các bệnh nhân này.
Bệnh nhân bị tổn thương thận : Không cần phải điều chỉnh liều ở bệnh nhân đang trải qua thời kỳ chức năng thận ghép chậm hoạt động sau phẫu thuật (xem mục Dược động học). Bệnh nhân bị tổn thương thận mạn tính nặng (tốc độ lọc cầu thận < 25 mL*phút-1*1,73m-2) cần được theo dõi cẩn thận.
Bệnh nhân bị tổn thương gan : Không cần phải điều chỉnh liều đối với bệnh nhân ghép thận bị bệnh nhu mô gan nặng.
Điều trị trong các đợt thải loại: Việc thải loại thận ghép không làm thay đổi dược động học của acid mycophenolic (MPA) nên không cần giảm liều hoặc ngừng dùng Mycophenolate.
4.3. Chống chỉ định:
Mycophenolate chống chỉ định với những bệnh mẫn cảm với mycophenolate sodium, mycophenolate mofetil hoặc với bất thành phần tá dược nào của thuốc, và phụ nữ có thai.
4.4 Thận trọng:
Mycophenolate là chất ức chế IMPDH (inosine monophosphate dehydrogenase). Do vậy không nên dùng cho bệnh nhân bị thiếu hụt hypoxanthine-guanine phosphoribosyl-transferase (HGPRT) như là hội chứng lesch-Nyhan và kelley Seegmiller.
Khuyến cáo là không nên bắt đầu điều trị cho đến khi có kết quả xét nghiệm thai âm tính (xem Lúc có thai và Lúc nuôi con bú).
Bệnh nhân đang được điều trị các thuốc ức chế miễn dịch (kể cả Mycophenolate), đặc biệt là điều trị kéo dài và với liều cao, làm tăng nguy cơ phát triển u limpho hoặc các khối u ác tính khác, đặc biệt trên da (xem Tác dụng ngoại ý). Đối với Mycophenolate có bằng chứng về độc tính gen tế bào. Do vậy lời khuyên chung để làm giảm thiểu nguy cơ gây ung thư da, nên hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và ánh đèn UV bằng cách mặc quần áo bảo vệ và dùng kính bảo vệ.
Ức chế quá mức hệ thống miễn dịch làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng bao gồm các nhiễm trùng cơ hội, nhiễm trùng gây chết và nhiễm khuẩn (xem Tác dụng ngoại ý).
Bệnh nhân dùng Mycophenolate phải kiểm tra sự giảm bạch cầu trung tính, có thể liên quan đến việc điều trị mycophenolic acid, dùng các thuốc phối hợp, nhiễm trùng do virut, hoặc do kết hợp các nguyên nhân này.
Phải kiểm tra công thức máu toàn phần hàng tuần trong tháng đầu tiên điều trị, hai tuần một lần trong tháng thứ hai và tháng thứ ba của đợt điều trị, sau đó mỗi tháng một lần trong năm đầu tiên. Nếu việc giảm bạch cầu trung tính vẫn tiếp tục xảy ra (tổng số bạch cầu trung tính < 1,5×103 /mcl), nên ngừng điều trị hoặc không tiếp tục điều trị bằng Mycophenolate.
Bệnh nhân dùng Mycophenolate phải thông báo ngay lập tức khi có bất cứ biểu hiện nhiễm trùng nào, vết thâm tím bất thường, chảy máu hoặc bất cứ biểu hiện nào của suy tuỷ xương.
Bệnh nhân cần phải biết rằng trong thời gian điều trị bằng mycophenolic acid thì việc tiêm chủng sẽ đạt ít hiệu quả và nên tránh tiêm vacin sống. Sự tiêm chủng vacin cúm có thể đạt được hiệu quả. Thầy thuốc nên tham khảo tài liệu quốc gia về sự tiêm chủng vacin cúm.
Bởi vì mycophenolic acid có liên quan đến tăng tỷ lệ các tác dụng phụ đường tiêu hoá, bao gồm các ca hiếm gặp loét và xuất huyết và thủng đường tiêu hoá, phải cẩn thận khi dùng thuốc trên bệnh nhân đang mắc bệnh đường tiêu hoá nặng.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, Mycophenolate đã được dùng phối hợp với các thuốc: globulin chống tế bào tuyến ức, basiliximab, ciclosporin dạng vi nhũ tương và corticosteroids. Hiệu quả và tính an toàn của Mycophenolate khi phối hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác chưa được tiến hành nghiên cứu (thí dụ như azathioprine, tacrolimus). Do vậy những phối hợp điều trị này chưa được khuyến cáo.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Mycophenolate chống chỉ định dùng cho phụ nữ có thai. Những tác dụng phụ ảnh hưởng trên sự phát triển thai nhi (bao gồm cả dị tật) xảy ra khi dùng thuốc cho chuột cống và thỏ đang mang thai trong giai đoạn hình thành các cơ quan (xem An toàn tiền lâm sàng).
Chưa có kinh nghiệm sử dụng thuốc trên phụ nữ có thai.
Đối với phụ nữ đang ở độ tuổi sinh đẻ, xét nghiệm thử thai âm tính (huyết thanh beta hCG hoặc xét nghiệm nước tiểu) với độ nhạy cảm ít nhất là 50 mIU/ml phải đạt được trong vòng một tuần trước khi bắt đầu điều trị Mycophenolate. Khuyến cáo rằng chỉ nên bắt đầu điều trị bằng Mycophenolate khi có xét nghiệm kết quả thử thai âm tính. Những biện pháp tránh thai có hiệu quả phải được áp dụng trước khi tiến hành điều trị bằng Mycophenolate, trong thời gian điều trị, và sáu tuần sau khi ngừng điều trị, bao gồm cả những phụ nữ có tiền sử vô sinh chỉ trừ trường hợp vô sinh do cắt bỏ tử cung hoặc triệt sản (thắt ống dẫn trứng cả hai bên). Hai biện pháp tránh thai đáng tin cậy phải được áp dụng cùng một lúc, trừ phi không quan hệ tình dục là biện pháp được lựa chọn. Nếu người phụ nữ mang thai trong giai đoạn đang điều trị, người bệnh và bác sĩ của cô ta phải thảo luận về vấn đề mang thai (xem Tương tác thuốc).
Thời kỳ cho con bú:
Người ta không biết liệu MPA có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Việc sử dụng Mycophenolate trong thời kỳ cho con bú không được khuyến cáo.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Những tác dụng không mong muốn dưới đây được quan sát từ hai nghiên cứu lâm sàng có đối chứng với Mycophenolate so với mycophenolate mofetil (lấy ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1:1) kết hợp với ciclosporin dạng vi nhũ tương và corticosteroids trên 423 bệnh nhân mới cấy ghép và 322 bệnh nhân cấy ghép thận trong giai đoạn duy trì (> 6 tháng). Tỷ lệ tác dụng phụ giữa hai nhóm điều trị là tương đương nhau.
Tác dụng phụ phổ biến nhất là giảm bạch cầu (19,2%) và tiêu chảy (23,5%).
Rối loạn cơ chế đề kháng, tăng nguy cơ nhiễm trùng, viêm tá tràng, viêm tụy, teo lông tơ ở ruột, tăng nguy cơ ung thư ở bệnh nhân dùng kèm thuốc ức chế miễn dịch khác, dị tật tai bẩm sinh trên con của bệnh nhân dùng thuốc thời kỳ mang thai, bệnh lý não trắng đa ổ tiến triển (PML). Rối loạn phổi kẽ hiếm khi xảy ra.
Bệnh ác tính:
Bệnh nhân điều trị các thuốc ức chế miễn dịch phối hợp, bao gồm cả MPA, thì làm tăng nguy cơ phát triển các u bạch huyết và các bệnh ác tính khác, đặc biệt hay gặp trên da (xem Chú ý đề phòng). Bệnh tăng sinh mô bạch huyết hoặc u bạch huyết thường chiếm khoảng 0,3% số bệnh nhân điều trị Mycophenolate sau một năm điều trị. Ung thư da không phải do u hắc sắc tố chiếm 0,8%; các bệnh ác tính khác không quan sát thấy.
Các bệnh nhiễm trùng cơ hội:
Tất cả bệnh nhân nhận cấy ghép đều tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng cơ hội; nguy cơ càng cao khi dùng một lượng lớn thuốc ức chế miễn dịch (xem Chú ý đề phòng). Những nhiễm trùng cơ hội thường gặp nhất trên bệnh nhân mới cấy ghép thận điều trị bằng Mycophenolate kết hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng sau một năm điều trị là CMV, nấm candida và herpes đơn. Nhiễm trùng CMV (bệnh huyết thanh, nhiễm trùng huyết do virut) chiếm tới 21,6% bệnh nhân mới nhận cấy ghép và 1,9% bệnh nhân cấy ghép thận trong giai đoạn điều trị duy trì (> 6 tháng).
Người già thường tăng nguy cơ mắc các tác dụng phụ khi dùng thuốc ức chế miễn dịch.
Những tác dụng phụ dưới đây là do các thuốc ức chế miễn dịch khác cùng thế hệ với thuốc tạo nên:
Viêm ruột kết, viêm thực quản (bao gồm viêm ruột kết CMV và viêm thực quản) viêm dạ dày CMV, viêm tuỵ, thủng ruột, xuất huyết đường tiêu hoá, loét dạ dày, loét tá tràng, tắc ruột, nghiêm trọng và đôi khi có những nhiễm trùng nguy hiểm đến tính mạng bao gồm viêm màng não, viêm màng trong tim do nhiễm trùng, lao, và nhiễm trùng do mycobacterial không đặc hiệu, giảm bạch cầu, giảm huyết cầu toàn bộ.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Kháng acid có chứa magnesium và aluminium hydroxides:Dùng phối hợp Mycophenolate với kháng acid có chứa magnesium và aluminium hydroxides sẽ làm giảm 37% khả năng hấp thu toàn thân của MPA và giảm 25% nồng độ tối đa của MPA. Do đó nên tránh dùng phối hợp này.
Cholestyramine và thuốc gây ảnh hưởng tuần hoàn gan ruột: do những thuốc này có khả năng ngăn chặn sự hấp thu thì đầu và do tuần hoàn gan ruột của chúng, cholestyramine làm giảm sinh khả dụng của MPA. Chúng có nguy cơ làm giảm hiệu quả của Mycophenolate, nên khi dùng phối hợp cholestyramine hoặc các thuốc gây ảnh hưởng tuần hoàn gan ruột (ví dụ các loại kháng sinh) phải kiểm tra nồng độ của MPA thường xuyên. Chưa có nghiên cứu nào dùng phối hợp với kháng sinh được tiến hành.
Ciclosporin A: dược động học của Ciclosporin dạng vi nhũ tương không bị ảnh hưởng bởi liều dùng ổn định của Mycophenolate.
Tacrolimus: chưa có số liệu về việc dùng phối hợp tacrolimus với Mycophenolate. Tuy nhiên, tương tác giữa tacrolimus và mycophenolate đã được mô tả trong tài liệu. Do đó khuyến cáo không nên dùng phối hợp chúng.
Aciclovir và các thuốc bài tiết tích cực ở tiểu quản thận có thể dẫn tới cạnh tranh bài tiết với MPAG (mycophenolic acid glucuronide) ở tiểu quản thận. Những bệnh nhân được điều trị phối hợp những thuốc này cần được theo dõi cẩn thận.
Ganciclovir: dược động học của MPA và MPAG không bị ảnh hưởng khi dùng phối hợp với ganciclovir. Hệ số thanh thải của ganciclovir không bị thay đổi khi nồng độ MPA toàn thân ở nồng độ điều trị. Tuy nhiên, trên bệnh nhân suy thận dùng phối hợp Mycophenolate và ganciclovir, liều khuyến cáo đối với ganciclovir nên được kiểm soát và bệnh nhân phải được theo dõi cẩn thận.
Thuốc tránh thai dạng uống: tác dụng của Mycophenolate trên dược động học của thuốc tránh thai dạng uống chưa được biết đến, do đó thuốc có thể ảnh hưởng tới hiệu quả của thuốc tránh thai.
4.9 Quá liều và xử trí:
Chưa có báo cáo nào về các trường hợp sử dụng Mycophenolate quá liều trên người.
Mặc dù việc thẩm tách có thể loại bỏ chất chuyển hóa MPAG bất hoạt, nhưng không loại bỏ được khối lượng chất MPA có hoạt tính.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Phân loại dược trị liệu: Thuốc ức chế miễn dịch.
Mã ATC: L04A A06
Cơ chế tác dụng
Mycophenolat mofetil là dạng este 2-morpholinoethyl của acid mycophenolic (MPA). MPA là một chất ức chế mạnh, chọn lọc, không cạnh tranh và có hồi phục trên inosin monophosphat dehydrogenase và do đó ức chế con đường tổng hợp mới nhân nucleotid của guanosin mà không kết hợp với ADN. Do sự tăng sinh của các tế bào lympho T và B phụ thuộc chặt chẽ vào quá trình tổng hợp mới nhân purin trong khi các dòng tế bào khác có thể tận dụng cơ chế tái sử dụng nhân purin nên MPA có tác dụng kìm hãm tế bào lympho mạnh hơn so với các tế bào khác.
Cơ chế tác dụng:
Mycophenolate sodium là muối Na của mycophenolic acid (MPA). MPA là chất ức chế men inosine monophosphophate dehydrogenase (IMPDH) có chọn lọc, không cạnh tranh và có thể đảo ngược được, chất này ức chế quá trình tổng hợp nucleotide guanosin theo con đường mới mà không gắn vào DNA.
MPA có tác dụng kiềm chế tế bào trên tế bào lympho mạnh hơn những tế bào khác do nhân purin của nó. Ngược với những loại tế bào chúng sử dụng các con đường ức chế khác, sự tăng sinh của lympho T và B bị phụ thuộc đáng kể vào sự tổng hợp theo con đường mới. Vì vậy, kiểu hoạt động của MPA bổ sung cho tác dụng của những chất ức chế calcineurin mà những chất này can thiệp vào quá trình sao chép cytokin và các lympho bào T trong pha nghỉ.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu: Sau khi uống, mycophenolate sodium được hấp thu mạnh. Sinh khả dụng tuyệt đối của mycophenolic acid (MPA) là 71%. Tác dụng bị hạn chế. Nồng độ đỉnh của MPA trong huyết tương đạt được sau 1,5 đến 2 giờ.
So sánh với tình trạng nhịn đói, dùng 720 mg Mycophenolate với bữa ăn có lượng chất béo cao (55 g mỡ, 1000 calo) không làm ảnh hưởng tới diện tích dưới đường cong nồng độ của MPA (AUC). Tuy nhiên người ta quan sát thấy nồng độ tối đa của MPA giảm 33% (Cmax). Nồng độ đỉnh của MPA lần thứ hai đạt được sau 6-8 giờ dùng Mycophenolate, điều này là do tuần hoàn gan ruột.
Phân phối: Thể tích phân phối của MPA ở tình trạng ổn định là 50 lít. Cả mycophenolic acid và mycophenolic acid glucuronic đều gắn kết với protein huyết tương rất mạnh, (tương ứng 97% và 82%). Nồng độ của MPA dạng tự do tăng lên trong một số trường hợp làm giảm protein huyết tương (ure huyết giảm, suy gan, giảm albumin huyết), cũng như khi dùng kết hợp với một số thuốc có khả năng gắn kết với protein huyết tương mạnh. Điều này có thể làm tăng nguy cơ mắc tác dụng phụ do MPA (xem Chú ý đề phòng).
Chuyển hóa: MPA chuyển hoá chủ yếu qua con đường glucuronyl transferase để hình thành mycophenolic acid glucuronic không có hoạt tính sinh học (MPAG).
Đào thải: Phần lớn MPA đào thải qua nước tiểu dưới dạng MPAG. MPAG được bài tiết ở mật chủ yếu là do tuần hoàn gan ruột. Thời gian bán huỷ của MPA là 11,7 giờ và hệ số thanh thải là 8,6 L/giờ. Thời gian bán huỷ của MPAG dài hơn MPA, vào khoảng 15,7 giờ. Hệ số thanh thải là ,45 L/giờ.
Dược động học của nhóm bệnh nhân đặc biệt:
Suy thận: nồng độ của MPA trong huyết tương có thể so sánh trong phạm vi chức năng thận bình thường đến chức năng thận suy giảm (tốc độ lọc cầu thận < 5ml/phút). Nồng độ MPAG toàn thân tăng lên khi chức năng thận suy giảm; với tình trạng vô niệu thì nồng độ của nó tăng cao gấp 8 lần nồng độ bình thường. Sự thanh thải của cả MPA và MPAG không bị ảnh hưởng bởi lọc máu.
Nồng độ của MPA dạng tự do có thể tăng lên đáng kể khi suy thận. Điều này có thể do lượng protein huyết tương gắn kết với MPA bị giảm.
Suy gan: những bệnh nhân tình nguyện mắc bệnh xơ gan do rượu, quá trình glucoronide của MPA tại gan không bị ảnh hưởng khi mắc bệnh nhu mô gan. Tuy nhiên, với những bệnh nhân mắc bệnh gan với tổn thương đường mật là chủ yếu, như xơ gan mật nguyên phát, ảnh hưởng đến tuần hoàn gan ruột là không thể tránh khỏi.
Trẻ em và thanh thiếu niên: những số liệu về việc sử dụng Mycophenolate ở trẻ em và thanh niên còn rất hạn chế.
Giới tính: không có sự khác nhau đáng kể nào về lâm sàng giữa hai giới tính về phương diện dược động học của Mycophenolate.
Người già: dược động học của thuốc trên người già chưa được nghiên cứu một cách cụ thể. Tuổi tác tăng lên không gây ra sự thay đổi đáng kể nào về phương diện lâm sàng trong sinh khả dụng của MPA.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Chưa có thông tin.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM