Thuốc Micocept là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Micocept (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Mycophenolate mofetil/ Mycophenolic Acid
Phân loại: Thuốc ức chế miễn dịch chọn lọc.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L04AA06 – mycophenolic acid.
Biệt dược gốc: CellCept
Biệt dược: Micocept
Hãng sản xuất : Sandoz Private Limited
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nang cứng 250mg..
Viên nén 500mg
Thuốc tham khảo:
| MICOCEPT 250 | ||
| Mỗi viên nang có chứa: | ||
| Mycophenolate mofetil | …………………………. | 250 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| MICOCEPT 500 | ||
| Mỗi viên nén có chứa: | ||
| Mycophenolate mofetil | …………………………. | 500 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Mycophenolate mofetil được chỉ định phối hợp với ciclosporin và corticosteroid để dự phòng thải ghép cấp tính trên bệnh nhân được ghép thận, tim hoặc gan cùng loài.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Thuốc dùng đường uống.
Liều dùng:
Việc điều trị bằng Micocept 250 nên được khởi đầu và duy trì bởi một chuyển gia có đầy đủ trình độ thích hợp về ghép tạng.
Sử dụng trong ghép thận:
Người lớn: Mycophenolate mofetil dùng đường uống nên được bắt đầu trong vòng 72 giờ sau khi ghép. Liều khuyến cáo trên bệnh nhân ghép thận là 1g, dùng 2 lần/ngày (tổng liều 2 g/ngày).
Trẻ em và thiếu niên (từ 2-18 tuổi): Liều mycophenolate mofetil khuyến cáo là 600 mg/m2 dùng đường uống 2 lần/ngày (cho đến liều tối đa 2 g/ngày). Viên nén mycophenolate mofetil 250 mg chỉ nên được kê đơn cho bệnh nhân có diện tích bề mặt cơ thể cao hơn 1.5 m2., với liều 1 g 2 lần/ngày (tổng liều 2 g/ngày). Do một số phản ứng phụ xảy ra với tần suất cao hơn ở nhóm tuổi này (xem phần TÁC DỤNG NGOẠI Ý) so với nhóm người lớn, có thể cần phải tạm thời giảm liều hoặc ngưng sử dụng thuốc, điều này cần căn cứ trên các yếu tố lâm sàng liên quan. bao gồm cả mức độ nặng của phản ứng phụ.
Trẻ em (< 2 tuổi): Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả ở trẻ em dưới 2 tuổi còn hạn chế. Các dữ liệu này không đủ để đưa ra liều khuyến cáo, vì vậy không khuyến cáo dùng thuốc ở nhóm tuổi này.
Sử dụng trong ghép tim:
Người lớn: Micocept 250 nên được bắt đầu trong vòng 5 ngày sau khi ghép. Liều khuyến cáo ở bệnh nhân ghép tim là 1.5 g, dùng 2 lần/ngày (tổng liều 3 g/ngày).
Trẻ em: không có dữ liệu đối với bệnh nhân trẻ em ghép tim.
Sử dụng trong ghép gan:
Người lớn: Nên dùng mycophenolate mofetil đường tĩnh mạch trong 4 ngày đầu sau khi ghép gan. Nếu dung nạp tốt, ngay sau đó nên sử dụng sớm mycophenolate mofetil đường uống..
Liều uống khuyến cáo ở bệnh nhân ghép gan là 1,5 g„ dùng 2 lần/ngày (tông liều 3 g/ngày).
Trẻ em: Không có dữ liệu đối với bệnh nhân trẻ em ghép gan.
Sử dụng ở người cao tuổi (> 65 tuổi): Liều khuyến cáo là 1g, dùng 2 lần/ngày cho bệnh nhân ghép thận và 1,5 g, 2 lần/ngày cho bệnh nhân ghép tim hoặc gan là thích hợp đối với người cao tuổi.
Sử dụng trong suy thận: Ở bệnh nhân ghép thận có suy thận mạn tính nặng (tốc độ lọc cầu thận < 25 m/phút/1,73 m2), ngoài thời gian ngay sau ghép, nên tránh dùng liều cao hơn 1g, 2 lần/ngày. Những bệnh nhân này cần được theo dõi cân thận.
Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thận ghép sau phẫu thuật (delayed renal graft function) (xem phần CÁC ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC). Không có dữ liệu đối với bệnh nhân ghép tim hoặc gan bị suy thận mạn tính nặng.
Sử dụng trong suy gan nặng: Không cần điều chỉnh liều đối với bệnh nhân ghép thận bị bệnh nhu mô gan nặng. Không có dữ liệu đối với bệnh nhân ghép tim bị bệnh nhu mô gan nặng.
Điều trị trong các tình trạng thải ghép: MPA (acid mycophenolic) là chất chuyển hóa có hoạt tính của mycophenolate mofetil. Thải ghép thận không dẫn đến thay đổi được động học của MPA; không cần giảm liều hoặc tạm ngưng dùng mycophenolate mofetil. Không có cơ sở để điều chỉnh liều mycophenolate mofetil sau thải ghép tim. Không có dữ liệu dược động, học trong thải ghép gan.
4.3. Chống chỉ định:
Phản ứng quá mẫn với mycophenolate mofetil đã được quan sát thấy. Vì vậy chống chỉ định dùng mycophenolate mofetil ở bệnh nhân bị quá mẫn với mycophenolate mofetil hoặc acid mycophenolic.
Chống chỉ định dùng mycophenolate mofetil ở phụ nữ đang cho con bú.
Về thông tin sử dụng ở phụ nữ có thai và các yêu cầu tránh thai, xem phần PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ..
4.4 Thận trọng:
Thuốc này chỉ dùng theo sự kê đơn của bác sĩ.
Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch bao gồm Sự kết hợp các loại thuốc, kể cả mycophenolate mofetil, có tăng nguy cơ phát triển các u lympho hoặc các khối u ác tính khác. đặc biệt ở da (xem phần TÁC DỤNG NGOẠI Ý). Nguy cơ này dường như liên quan đến cường độ và thời gian ức chế miễn dịch hơn là sử dụng một chất cụ thể nào. Lời khuyên chung để giảm thiểu nguy cơ ung thư da là nên hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và tia tử ngoại (UV) bằng cách mặc quan áo bảo vệ và sử dụng kem chống nắng có yếu tố bảo vệ cao.
Bệnh nhân dùng mycophenolate nên được hướng dẫn báo cáo ngay lập tức bất kỳ biểu hiện nào về nhiễm trùng, Bầm tím bất ngờ, chảy máu hoặc bất kỳ biểu hiện nào khác của suy tủy xương.
Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch, bao gồm cả mycophenolate mofetil. Có tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội (vi khuẩn, nấm, virus và động vật đơn bào), nhiễm trùng và nhiễm khuẩn gây tử vong (xem phần TÁC DỤNG NGOẠI Ý). Trong số các loại nhiễm trùng cơ hội, bệnh thận liên quan với virus BK và bệnh não. chất trắng đa ổ tiến triển (PML) liên quan với virus JC. Các nhiễm trùng này thường do hệ miễn dịch bị ức chế ở mức độ cao và có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng hoặc tử vong. do đó bác sĩ cần xem xét chẩn đoán phân biệt ở bệnh nhân đang điều trị ức chế miễn dịch có chức năng thận xấu đi hoặc có các triệu chứng thần kinh.
Trên bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil cần theo dõi tình trạng giảm bạch cầu trung, tính. có thể liên quan với bản thân mycophenolate, các thuốc dùng, đồng thời. nhiễm virus hoặc kết hợp các nguyên nhân này. Bệnh nhân đang dùng mycophenolate nên xét nghiệm công thức máu toàn phần mỗi tuần trong tháng đầu tiên, 2 lần/tháng trong tháng thứ 2 và tháng thứ 3 của việc điều trị, sau đó xét nghiệm hàng tháng suốt năm đầu tiên. Nếu có giảm bạch cầu trung tính (số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối < 1,3 x 10^3mcl), thì có thể phải tạm ngừng hoặc ngừng. điều trị bằng mycophenolate.
Các trường hợp bất sản đơn thuần dòng hồng cầu (PRCA) đã được báo cáo ở bệnh nhân được điều trị bằng mycophenolate mofetil phối hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác. Cơ chế mycophenolate mofetil gây ra bất sản đơn thuần dòng hồng cầu chưa được biết. Bất sản đơn thuần dòng hồng cầu có thể qua đi khi giảm liều hoặc ngừng điều trị bằng mycophenolate. Ở bệnh nhân ghép tạng để giảm thiêu nguy cơ thải ghép thay đổi liệu pháp mycophenolate chỉ nên được thực hiện dưới sự giám sát thích hợp (xem phần TÁC DỤNG NGOẠI Ý).
Nên khuyên bệnh nhân là trong thời gian điều trị bằng mycophenolate, việc tiêm chủng có thể kém hiệu quả và nên tránh sử dụng vaccin sống (xem phần TƯƠNG TÁC VỚI CÁC THUỐC KHÁC VÀ CÁC DẠNG TƯƠNG TÁC KHÁC). Tiêm chủng vaccin cúm có thể vẫn có tác dụng. Bác sĩ kê đơn nên tham khảo các hướng dẫn của quốc gia về tiêm chủng Vaccin cúm.
Do mycophenolate có liên quan đến tăng tỷ lệ phản ứng phụ trên hệ tiêu hóa, kể cả các trường hợp ít gặp về loét. xuất huyết và thủng đường tiêu hóa, cần thận trọng khi dùng mycophenolate ở bệnh nhân bị bệnh ở hệ tiêu hóa nặng đang diễn tiến.
Mycophenolate là chất ức chế IMPDH (inosine monophosphate dehydrogenase). Vì vậy ,về mặt lý thuyết, nên tránh dùng thuốc ở bệnh nhân bị thiếu hụt hypoxanthine-guanine phosphoribosyl-transferase (HGPRT) di truyền hiếm gặp như hội chứng Lesch-Nyhan và Kelley-Seegmiller.
Khuyến cáo không được dùng mycophenolate đồng thời với azathioprine vì chưa có nghiên cứu về việc dùng đồng thời này.
Do sự giảm đáng kể diện tích dưới đường cong (AUC) của MPA do colestyramine, nên thận trọng khi dùng đồng thời mycophenolate với các thuốc can thiệp vào chu trình gan-ruột do khả năng làm giảm hiệu quả của mycophenolate.
Nguy cơ: lợi ích của mycophenolate mofetil khi phối hợp với tacrolimus hoặc sirolimus chưa được xác định (xem phần TƯƠNG TÁC VỚI CÁC THUỐC KHÁC VÀ CÁC DẠNG TƯƠNG TÁC KHÁC).
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa có nghiên cứu được thực hiện về tác động trên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Dữ liệu về dược động học và các phản ứng phụ được báo cáo cho thấy không chắc có tác động..
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Không khuyến cáo sử dụng mycophenolate mofetil trong thai kỳ và nên dành cho các trường hợp khi không có phương pháp điều trị thay thế nào thích hợp hon. Mycophenolate chỉ nên sử dụng ở phụ nữ có thai khi lợi ích dự tính vượt quá nguy cơ tiềm ẩn đối với thai. Dữ liệu về việc sử dụng mycophenolate ở phụ nữ mang thai còn hạn chế. Tuy nhiên, đã có báo cáo về các dị tật bâm sinh bao gồm dị tật về tai, (tức là tai ngoài/tai giữa hình thành bất thường hoặc không có) ở con của những bệnh nhân dùng mycophenolate kết hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác trong thời gian mang thai. Các trường hợp sảy thai tự phát đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính đối với sinh sản.
Khả năng sinh sản:
Khuyến cáo không nên khởi đầu điều trị bằng mycophenolate mofetil cho đến khi có kết quả thử nghiệm thai nghén âm tính. Phải sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trước khi bắt đầu điều trị với mycophenolate, trong thời gian điều trị, và trong 6 tuần sau khi ngừng điều trị. Cần hướng dẫn bệnh nhân hỏi ý kiến bác sĩ của họ ngay lập tức khi có thai.
Thời kỳ cho con bú:
Mycophenolate mofetil đã cho thấy được bài tiết vào sữa của chuột cho con bú. Chưa rõ có phải chất này được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Do tiềm năng về các phản ứng có hại nghiêm trọng với mycophenolate mofetil ở trẻ nhỏ được nuôi bằng sữa mẹ, chống chỉ định dùng mycophenolate ở phụ nữ đang cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các tác dụng ngoại ý sau đây bao gồm các phản ứng phụ từ các thử nghiệm lâm sàng:
Các tác dụng ngoại ý chính liên quan với việc sử dụng mycophenolate mofetil phối hợp với ciclosporin và corticosteroid bao gồm tiêu chảy, giảm bạch cầu, nhiễm khuẩn. nôn và có bằng chứng tần suất cao hơn về một số loại nhiễm trùng.
Khối u ác tính:
Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch bao gồm sự kết hợp các loại thuốc, kể cả mycophenolate mofetil, có tăng nguy cơ phát triển các u lympho hoặc các khối u ác tính khác, đặc biệt ở da. Bệnh tăng sinh mô bạch huyết hoặc u lympho phát triển ở 0,6% bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil (2 g hoặc 3 g/ngày) kết hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên bệnh nhân ghép thận (dữ liệu liều 2 g). Ghép tim hoặc ghép gan sau đó ít nhất 1 năm. Các ung thư da không phải u melanin xảy ra ở 3,6% bệnh nhân, các loại u ác tính khác xảy ra ở 1.1% bệnh nhân. Dữ liệu về an toàn trong 3 năm ở bệnh nhân ghép thận và ghép tim cho thấy không có thay đồi bất ngờ nào về tỷ lệ u ác tính so với dữ liệu 1 năm. Bệnh nhân ghép gan được theo dõi ít nhất 1 năm, nhưng dưới 3 năm.
Nhiễm trùng cơ hội:
Tất cả các bệnh nhân ghép tạng đều có tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội: nguy cơ tăng với tổng gánh nặng điều trị ức chế miễn dịch. Các nhiễm trùng cơ hội thường gặp nhất ở bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil (2 g hoặc 3 g/ngày) với các thuốc ức chế miễn dịch khác trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên bệnh nhân ghép thận (dữ liệu liều 2 g), ghép tim hoặc ghép gan sau đó ít nhất 1 năm là nhiễm nấm Candida niêm mạc da. hội chứng/nhiễm cytomegalovirus (CMV) trong máu và Herpes simplex. Tỷ lệ bệnh nhân có hội chứng/nhiễm CMV trong máu là 13,5%.
Trẻ em và thiếu niên (từ 2-18 tuổi):
Loại và tần suất các phản ứng phụ trong một nghiên cứu lâm sàng chọn 92 bệnh nhi từ 2-18 tuổi, cho dùng mycophenolate mofetil liều 600 mg/m2 uống 2 lần/ngày, nói chung cũng tương tự như khi quan sát được trên bệnh nhân người lớn dùng mycophenolate mofetil liều 1 g 2 lần/ngày. Tuy nhiên. các phản ứng phụ sau đây liên quan đến điều trị thường gặp hơn ở nhóm bệnh nhân trẻ em, đặc biệt là ở trẻ em dưới 6 tuổi, khi so với người lớn: tiêu chảy, nhiễm khuẩn, giảm bạch cầu, thiếu máu và nhiễm trùng.
Bệnh nhân cao tuổi (≥65 tuổi)
Bệnh nhân cao tuổi (≥65 tuổi) nói chung có thể tăng nguy cơ gặp các phản ứng phụ do điều trị ức chế miễn dịch. Bệnh nhân cao tuổi dùng mycophenolate mofetil là một phần của chế độ điều trị ức chế miễn dịch dạng phối hợp. có thể tăng nguy cơ gặp một số nhiễm trùng (bao gồm bệnh mô nhiễm cytomegalovirus xâm lấn) và có thể xuất huyết tiêu hóa và phù phổi, khi so với các bệnh nhân trẻ hơn.
Các phản ứng phụ khác
Các phản ứng phụ có thể hoặc có khả năng liên quan đến mycophenolate mofetil, đã được báo cáo ở > 1/10 và > 1/100 đến <1/⁄10 số bệnh nhân được điều trị bằng mycophenolate mofetil trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên bệnh nhân ghép thận (dữ liệu liều 2 g). ghép tim và ghép gan được liệt kê trong bảng sau đây.
Các phản ứng phụ, có thể hoặc có khả năng liên quan đến mycophenolate mofetil, được báo cáo ở bệnh nhân điều trị bằng mycophenolate mofetil trong các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân ghép thận, ghép tim và ghép gan khi được dùng phối hợp với ciclosporin và corticosteroid
Trong các nhóm cơ quan hệ thống, các tác dụng ngoại ý được liệt kê theo nhóm tần suất, sử dụng các loại sau đây: Rất thường gặp (> 1/10), Thường gặp (> 1/100 đến < 1/10), ít gặp (> 1/1,000 đến < 1/100), hiếm gặp (> 1/10.000 đến < 1/1.000) , Rất hiếm gặp (< 1/10.000), không rõ (không thể ước tính từ các dữ liệu hiện có).
Trong mỗi nhóm tần suất, các tác dụng ngoại ý được trình bày theo thứ tự độ nặng giảm dần.
| Nhóm cơ quan hệ thống | Tần suất | Phản ứng phụ của thuốc |
| Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng
|
Rất thường gặp | Nhiễm khuẩn, nhiễm nấm Candida đường tiêu hóa, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm herpes simplex, nhiễm herpes zoster |
| Thường gặp | Viêm phổi, cúm, nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh do Monilla đường hô hấp, nhiễm trùng đường tiêu hóa, bệnh nấm Candida, viêm dạ dày-ruột, nhiễm trùng, viêm phế quản, viêm họng, viêm xoang, nhiễm nấm da, nhiễm Candida da, bệnh nấm Candida âm đạo, viêm mũi | |
| Khối u tân sinh lành tính, ác tính và không xác định (bao gồm nang và polyp)
|
Rất thường gặp | |
| Thường gặp | Ung thư da, khối u tân sinh lành tính ở da | |
| Rối loạn máu và hệ bạch huyết
|
Rất thường gặp | Giảm bạch cầu, giảm tiều cầu, thiếu máu |
| Thường gặp | Giảm toàn thể huyết cầu, tăng bạch cầu | |
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
|
Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Nhiễm acid, tăng kali huyết, giảm kali huyết, tăng glucose huyết, giảm magnesi huyết, giảm calcị huyết, tăng cholesterol huyết, tăng lipid huyết, giảm phosphate huyết, tăng acid uric huyết, bệnh gout, chán ăn | |
| Rối loạn tâm thần | Rất thường gặp | – |
| Thướng gặp | Kích động, trạng thái lú lẫn, trầm cảm, lo âu, suy nghĩ bất thường, mất ngủ | |
| Rối loạn hệ thần kinh | Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Có giật, tăng trương lực, run, buồn ngủ, hội chứng nhược cơ, choáng váng, nhức đầu, dị cảm, rối loạn vị giác | |
| Rối loạn tim | Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Nhịp tim nhanh | |
| Rối loạn mạch | Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Hạ huyết áp, tăng huyết áp, giãn mạch | |
| Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất | Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Tràn dịch màng phổi, khó thở, ho | |
| Rối loạn tiêu hóa | Rất thường gặp | Nôn, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn |
| Thường gặp | Xuất huyết tiêu hóa, viêm màng bụng, tắc ruột, viêm đại tràng, loét dạ dày, loét tá tràng, viêm dạ dày, viêm thực quản, viêm miệng, táo bón, khó tiêu, đầy hơi, ợ hơi | |
| Rối loạn gan mật | Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Viêm gan, bệnh vàng da, tăng bilirubin huyết | |
| Rối loạn da và mô dưới da | Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Chứng tăng sản của da, nổi ban, mụn trứng cá, rụng tóc | |
| Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết | Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Đau khớp | |
| Rối loạn thận và tiết niệu | Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Suy thận | |
| Rối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ dùng thuốc | Rất thường gặp | |
| Thường gặp | Phù, sốt, ớn lạnh, đau, khó chịu, suy nhược | |
| Xét nghiệm | Rất thường gặp | – |
| Thường gặp | Tâng enzyme gan, tăng creatinine huyết, tăng lactate dehydrogenase huyết, tăng urê huyết, tăng phosphatase kiềm huyết, giảm cân |
Luu ý: 501 bệnh nhân (dùng liều 2 g mycophenolate mofetil/ngày) được điều trị trong các nghiên cứu pha II để dự phòng thải ghép trong ghép thận, 289 bệnh nhân (dùng liều 3 g mycophenolate mofetil/ ngày) được điều trị trong các nghiên cứu pha III để dự phòng thải ghép trong ghép tim và 277 bệnh nhân (dùng liều 2 g mycophenolate mofetil đường tĩnh mạch/3 g mycophenolate mofetil đường uống/ ngày) được điều trị trong các nghiên cứu pha III để dự phòng thải ghép trong ghép gan.
Các tác dụng ngoại ý sau đây bao gồm các phản ứng phụ từ kinh nghiệm theo dõi hậu mãi:
Các loại phản ứng phụ được báo cáo trong thời gian theo dõi hậu mãi với mycophenolate mofetil tương tự như các phản ứng phụ thấy trong các nghiên cứu có đối chứng về ghép thận, ghép tim và ghép gan. Các phản ứng phụ bổ sung được báo cáo trong thời gian theo dõi hậu mãi được mô tả dưới đây với tần suất được báo cáo trong ngoặc đơn nếu được biết.
Tiêu hóa: Tăng sản lợi (> 1/100 đến < 1⁄10), viêm đại tràng kể cả viêm đại tràng do cytomegalovirus (> 1/100 đến < 1/10), viêm tụy (> 1/100 đến < 1/10) và teo lông nhung ruột.
Rối loạn liên quan đến ức chế miễn dịch: Nhiễm trùng nghiêm trọng đe dọa tính mạng bao gồm viêm màng não, viêm nội tâm mạc, bệnh lao và nhiễm mycobacterium không điển hình. Các trường hợp bệnh lý thần kinh liên quan đến virus BK, cũng như các trường hợp bệnh lý não chất trắng đa ổ tiến triển (PML) lién quan đến virus JC, đã được báo cáo ở bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch, bao gồm cả mycophenolate mofetil.
Mất bạch cầu hạt (> 1/1.000 đến < 1/100) và giảm bạch cầu trung tính đã được báo cáo; vì vậy nên theo đõi định kỳ những bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil. Đã có báo cáo về thiếu máu bất sản và suy tủy xương ở bệnh nhân được điều trị bằng mycophenolate mofetil, trong đó có một số trường hợp tử vong.
Bệnh lý máu và hệ bạch huyết:
Các trường hợp bất sản đơn thuần dòng hồng cầu (PRCA) đã được báo cáo ở bệnh nhân được điều trị bằng mycophenolate mofetil.
Một số trường hợp riêng lẻ có hình thái bạch cầu trung tính bất thường, bao gồm dị tật Pelger-Huet mắc phải, đã quan sát thấy ở bệnh nhân được điều trị với mycophenolate mofetil. Các thay đổi này không liên quan đến giảm chức năng bạch cầu trung tính. Các thay đổi này có thể gợi ý đến một sự “chuyển trái” trong sự trưởng thành của bạch cầu trung tính ở xét nghiệm huyết học, điều này có thể được diễn dịch sai như là dấu hiệu của nhiễm trùng trên bệnh nhân điều trị ức chế miễn dịch cũng như những người sử dụng mycophenolate mofetil.
Quá mẫn: Phản ứng quá mẫn, bao gồm phù thần kinh mạch và phản ứng phản vệ đã được báo cáo.
Bệnh lý bẩm sinh: Xem chi tiết thêm ở phần PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ.
Bênh lý hô hấp, ngực và trung thất:
Có một số báo cáo riêng lẻ về bệnh phổi mô kẽ và xơ hóa phổi ở bệnh nhân được điều trị bằng mycophenolate mofetil phối hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác, một số trường hợp tử vong.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Các nghiên cứu về tương tác thuốc chỉ mới được thực hiện ở người lớn.
Aciclovir: Nồng độ aciclovir trong huyết tương cao hơn được quan sát thấy khi mycophenolate mofetil được dùng chung với aciclovir so với khi dùng aciclovir đơn độc. Thay đổi về dược động học của MPAG (phenolic glucuronide của MPA) (MPAG tăng 8%) là tối thiểu và không được xem là có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Do nồng độ MPAG trong huyết tương tăng khi bị suy thận cũng như nồng độ aciclovir, có khả năng mycophenolate mofetil và aciclovir hoặc các tiền chất của nó,(ví dụ valaciclovir cạnh tranh bài tiết qua ống thận) và sự tăng thêm nồng độ của cả hai chất này có thể xảy ra.
Thuốc kháng acid có magnesi và nhôm hydroxide: Sự hấp thu của mycophenolate mofetil giảm khi dùng chung với thuốc kháng acid.
Thuốc ức chế bơm proton: Sử dụng đồng thời mycophenolate mofetil và thuốc ức chế bơm proton có thể làm giảm đáng kể nồng độ MPA trong huyết tương.
Colestyramine: Sau khi dùng liều đơn 1,5 g mycophenolate mofetil cho người khỏe mạnh bình thường đã được điều trị trước đó với colestyramine 4 g, 3 lần/ngày trong 4 ngày, có sự giảm 40% AUC của MPA. Cần thận trọng khi sử dụng đồng thời do khả năng làm giảm hiệu quả của mycophenolate mofetil.
Các thuốc gây cản trở chu trình gan-ruột: Cần thận trọng khi dùng các thuốc gây cản trở chu trình gan-ruột do khả năng làm giảm hiệu quả của mycophenolate mofetil.
Ciclosporin A: Dược động học của cielosporin A (CsA) không bị ảnh hưởng bởi mycophenolate mofetil. Ngược lại, nếu ngừng ciclosporin (đang được sử dụng đồng thời), AUC của MPA được dự kiến tăng khoảng 30%.
Ganciclovir: Dựa trên kết quả của một nghiên cứu dùng mycophenolate một lần duy nhất với liều khuyến cáo của đường uống và ganciclovir đường tĩnh mạch và ảnh hưởng đã biết của suy thận trên dược động học của mycophenolate (xem phần LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG) và ganciclovir, có thể dự đoán là việc dùng kết hợp các thuốc này (cạnh tranh về cơ chế bài tiết qua ống thận) sẽ dẫn đến tăng nồng độ MPAG và ganciclovir. Không có sự thay đổi đáng kể nào về dược động học của MPA được dự kiến và không cần điều chỉnh liều mycophenolate. Ở bệnh nhân bị suy thận trong đó mycophenolate và ganciclovir hoặc tiền chất của nó, ví dụ valganciclovir, được dùng kết hợp, cần xem xét lại liều dùng của ganciclovir và theo dõi bệnh nhân cần thận.
Thuốc tránh thai dạng uống: Dược động học và dược lực học của thuốc tránh thai dạng uống không bị ảnh hưởng khi dùng kết hợp với mycophenolate (xem phần CÁC ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC).
Rifampicin: Ở bệnh nhân không dùng ciclosporin, việc sử dụng đồng thờii mycophenolate mofetil và rifampicin dẫn đến giảm mức ngấm thuốc với MPA (AUC0-12h) 18% đến 70%. Khuyến cáo theo dõi mức ngấm thuốc với MPA và điều chỉnh liều mycophenolate mofetil cho phù hợp để duy trì hiệu quả lâm sàng khi rifampiein được dùng đồng thời.
Sirolimus: Ở bệnh nhân được ghép thận. dùng đồng thời mycophenolate mofetil và CsA dẫn đến làm giảm mức ngấm thuốc với MPA 30-50% so với bệnh nhân dùng kết hợp sirolimus và mycophenolate moftil ở liều tương tự
Sevelamer: Đã quan sát thấy giảm nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax của MPA 30% và giảm AUC0-12 25% khi mycophenolate mofetil được dùng đồng thời với sevelamer mà không gây ra hậu quả gì trên lâm sàng (tức là thải ghép). Tuy nhiên, khuyến cáo nên dùng mycophenolate mofetil ít nhất trước 1 giờ hoặc sau 3 giờ uống sevelamer để giảm thiểu tác động trên sự hấp thu của MPA. Không có dữ liệu về mycophenolate mofetil với các chất gắn kết phosphate khác ngoài sevelamer.
Trimethoprim/sulfamethoxazole: Không quan sat thấy anh hưởng trên sinh khả dụng của MPA.
Norfloxacin and metronidazole: Ở những người tình nguyện khỏe mạnh, không quan sát thấy tương tác đáng kể khi mycophenolate mofetil được dùng đồng thời với norfloxacin và metronidazole riêng biệt. Tuy nhiên, dùng kết hợp norfloxacin và metronidazole làm giảm mức ngấm thuốc với MPA khoảng 30% sau khi dùng một liều đơn mycophenolate mofetil.
Ciprofloxacin và amoxicillin cộng acid clavunalic: Đã có báo cáo hiện tượng. giảm nồng độ MPA trước khi dùng liều thuốc (nồng độ đáy) khoảng 50% ở bệnh nhân được ghép thận trong những ngày ngay sau khi bắt đầu uống ciprofloxacin hoặc amoxicillin cộng acid clavunalic. Tác dụng này có xu hướng giảm đi khi tiếp tục dùng kháng sinh và sẽ hết trong vòng vài ngày sau khi ngừng dùng thuốc. Thay đổi nồng độ trước khi dùng liều thuốc có thể không đại diện chính xác cho những thay đổi về toàn bộ mức ngấm thuốc với MPA. Vì vậy, bình thường không cần thiết phải thay đổi liều mycophenolate mofetil nếu không có bằng chứng lâm sàng về rối loạn chức năng tạng ghép. Tuy nhiên, cần tiến hành theo dõi chặt chẽ về lâm sàng trong thời gian điều trị phối hợp và ngay sau khi điều trị kháng sinh.
Tacrolimus: Ở bệnh nhân ghép gan bắt đầu dùng mycophenolate mofetil và tacrolimus, AUC và Cmax của MPA là chất chuyển hóa có hoạt tính của mycophenolate mofetil, không bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự dùng kết hợp với tacrolimus. Ngược lại, có sự tăng AUC của tacrolimus khoảng 20% khi dùng nhiều liều mycophenolate mofetil (1,5 g, 2 lần/ngày) cho bệnh nhân đang dùng tacrolimus. Tuy nhiên. ở bệnh nhân ghép thận, nồng độ tacrolimus dường như không bị thay đổi bởi mycophenolate mofetil.
Các tương tác khác: Dùng. kết hợp probenecid và mycophenolate mofetil ở khi làm tăng AUC của MPAG 3 lần. Vì vậy, các chất khác đã biết là bài tiết qua ống thận có thể cạnh tranh với MPAG. do đó làm tăng nồng độ của MPAG hoặc các chất khác cũng bài tiết qua ống thận.
Vaccin sống: Không nên dùng vaccin sống cho bệnh nhân có suy giảm đáp ứng miễn dịch. Đáp ứng kháng thể với các vaccin khác có thể bị giảm.
4.9 Quá liều và xử trí:
Các báo cáo về quá liều mycophenolate mofetil đã nhận được từ các thử nghiệm lâm sàng và trong thời gian theo doi hậu mãi. Nhiều trường hợp trong số này không có báo cáo về phản ứng phụ. Trong những trường hợp quá liều có báo cáo phản ứng phụ, các phản ứng phụ đó nằm trong dữ liện an toàn đã biết của thuốc.
Quá liều với mycophenolate mofetil được dự kiến là có thể dẫn đến ức chế quá mức hệ thống miễn dịch và làm tăng tính nhạy cảm với nhiễm trùng và ức chế tủy xương. Nếu xuất hiện giảm bạch cầu trung tính, nên tạm ngưng hoặc giảm liều của Micocept® 250.
Thẩm phân máu không loại bỏ được lượng MPA hoặc MPAG có ý nghĩa lâm sàng. Các thuốc gắn acid mật như colestyramine, có thể loại bỏ MPA bằng cách làm giảm chu trình gan-ruột của thuốc (xem phần CÁC ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC).
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm dược lý trị liệu: Thuốc ức chế miễn dịch, thuốc ức chế miễn dịch chọn lọc, mã ATC: L04AA06.
Mycophenolate mofetil là 2-morpholinoethyl ester của MPA. MPA là chất ức chế mạnh, chọn lọc, không cạnh tranh và ức chế có hồi phục của inosine monophosphate dehydrogenase, do đó ức chế con đường tổng hợp guanosine nueleotide mới mà không tích hợp vào DNA.
Do tế bào lympho B và T phụ thuộc vào sự tăng sinh chủ yếu trên sự tổng hợp purine mới trong khi các loại tế bào khác có thể sử dụng các con đường cứu hộ khác, MPA có tác dụng kìm tế bào trên tế bào lympho mạnh hơn so với trên các tế bào khác.
Cơ chế tác dụng:
Mycophenolate sodium là muối Na của mycophenolic acid (MPA). MPA là chất ức chế men inosine monophosphophate dehydrogenase (IMPDH) có chọn lọc, không cạnh tranh và có thể đảo ngược được, chất này ức chế quá trình tổng hợp nucleotide guanosin theo con đường mới mà không gắn vào DNA.
MPA có tác dụng kiềm chế tế bào trên tế bào lympho mạnh hơn những tế bào khác do nhân purin của nó. Ngược với những loại tế bào chúng sử dụng các con đường ức chế khác, sự tăng sinh của lympho T và B bị phụ thuộc đáng kể vào sự tổng hợp theo con đường mới. Vì vậy, kiểu hoạt động của MPA bổ sung cho tác dụng của những chất ức chế calcineurin mà những chất này can thiệp vào quá trình sao chép cytokin và các lympho bào T trong pha nghỉ.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Sau khi uống, mycophenolate mofetil được hấp thu nhanh và mạnh và chuyển hóa hoàn toàn thành MPA (acid mycophenolic) là chất chuyển hóa có hoạt tính trước khi vào hệ tuần hoàn. Hoạt tính ức chế miễn dịch của mycophenolate tương quan với nồng độ MPA, như đã được chứng minh bởi sự ức chế thải ghép cấp sau khi ghép thận. Sinh khả dụng trung bình của mycophenolate mofetil dùng đường uống, dựa trên AUC của MPA, là 94% so với mycophenolate mofetil dùng đường tĩnh mạch. Thức ăn không ảnh hưởng đến mức độ hấp thu (AUC của MPA) của mycophenolate mofetil khi dùng liều 1,5 g, 2 lần/ngày ở bệnh nhân ghép thận. Tuy nhiên, Cmax của MPA giảm 40% khi có sự hiện diện của thức ăn.
Nồng độ mycophenolate mofetil trong hệ thống không thể đo được huyết tương sau khi dùng đường uống. MPA ở nồng độ có ý nghĩa lâm sàng gắn kết 97% với albumin huyết tương.
Như là kết quả của chu trình gan-ruột, tăng thứ phát nồng độ MPA trong huyết tương thường, quan sát được khoảng 6-12 giờ sau khi dùng thuốc. Sự giảm AUC của MPA khoảng 40% có liên quan đến việc dùng kết hợp với colestyramine (4 g. 3 lần/ngày), cho thấy có một lượng đáng kể tham gia vào chu trình gan-ruột.
MPA được chuyển hóa chủ yếu bởi glucuronyl transferase để hình thành phenolic glucuronide của MPA (MPAG) là chất không có hoạt tính dược lý.
Một lượng không đáng kể của chất này được bài tiết dưới dang MPA (< 1% liều) trong nước tiểu. Dùng đường uống mycophenolate mofetil được đánh dấu phóng xạ dẫn đến thu hồi hoàn toàn liều đã dùng, với 93% liều dùng được tìm thấy trong nước tiểu và 6% được tìm thấy trong phân. Hầu hết (khoảng 87%) liều dùng được bài tiết qua nước tiểu đưới dạng MPAG. Ở nồng độ gặp trên lâm sàng, MPA và MPAG không bị loại bỏ bằng thẩm phân máu. Tuy nhiên, ở nồng độ MPAG cao trong,huyết tương (> 100 pg/ml), một lượng nhỏ MPAG bị loại bỏ.
Trong giai đoạn sớm sau khi ghép (< 40 ngày sau ghép), bệnh nhân ghép thận. ghép tim và ghép gan có AUC của MPA trung bình thấp hơn khoảng 30% và Cmax thấp hơn khoảng 40% so với giai đoạn muộn sau khi ghép (3-6 tháng sau ghép).
Suy thận:
Trong một nghiên cứu dùng liều đơn (6 người/nhóm), AUC của MPA trung bình quan sát được ở những người bị suy thận mạn tính nặng (tốc độ lọc cầu thận < 25 ml/phút/1,73 m2) cao hơn từ 28-75% so với AUC của MPA trung bình quan sát được trên những người khỏe mạnh bình thường hoặc những người có mức độ suy thận ít hơn. Tuy nhiên, AUC của MPAG trung bình khi dùng liều đơn cao hơn 3-6 lần ở người bị suy thận nặng so với người bị suy thận nhẹ hoặc người khỏe mạnh bình thường, phù hợp với sự thải trừ qua thận đã biết của MPAG. Chưa có nghiên cứu về dùng nhiều liều mycophenolate mofetil trên bệnh nhân bị suy thận mạn tính nặng. Không có dữ liệu trên bệnh nhân ghép tim hoặc ghép gan bị suy thận mạn tính nặng.
Rối loạn chức năng thận ghép (Delaved renalgraftfunction):
Ở những bệnh nhân có rối loạn chức năng thận ghép sau phẫu thuật, AUC của MPA trung bình (0-12 giờ) tương đương với AUC của MPA trung bình sau khi ghép trên bệnh nhânkhông có rối loạn chức năng thận ghép . AUC của MPAG trong, huyết tương trung bình (0-12 giờ) cao hơn 2-3 lần so với ở bệnh nhân không có rối loạn chức năng thận ghép sau khi ghép. Có thể có tăng thoáng qua phần tự do và nồng độ MPA trong huyết tương ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thận ghép. Việc điều chỉnh liều mycophenolate dường như không cần thiết.
Suy gan:
Ở những người tình nguyện bị xơ gan do rượu, quá trình glucuronide hóa MPA ở gan tương đối không bị ảnh hưởng bởi bệnh nhu mô gan. Ảnh hưởng của bệnh gan trên quá trình nảy có thể tùy thuộc vào một số bệnh đặc biệt. Tuy nhiên, bệnh gan trong trong đó mật bị tổn thương chủ yếu, như xơ gan mật nguyên phát, có thể cho thấy ảnh hưởng khác.
Trẻ em và thiếu niên (từ 2~18 tuổi):
Các thông số được động học đã được đánh giá ở 49 bệnh nhân trẻ em được ghép thận uống 600mg/m2 mycophenolate mofetil 2 lần/ngày. Liều này đạt được các trị số AUC của MPA tương tự như các trị số AUC của MPA đạt được trên người lớn ghép thận dùng mycophenolate liều 1 g, 2 lần/ngày trong giai đoạn sớm và muộn sau ghép. Các trị số AUC của MPA ở các nhóm tuổi tương tự nhau trong giai đoạn sớm và muộn sau ghép.
Bênh nhân cao tuổi (> 65 tuổi):
Hoạt tính dược động học của mycophenolate mofetil trên bệnh nhân cao tuổi chưa được đánh giá chính thức.
Thuốc tránh thai dạng uống:
Dược động học của thuốc tránh thai dạng uống không bị ảnh hưởng khi dùng kết hợp với mycophenolate. Một nghiên cứu về dùng kết hợp mycophenolate (1 g, 2 lần/ngày) với thuốc tránh thai dạng uống chứa ethinylestradiol (0,02 mg – 0.04 mg) và levonorgestrel (0.05 mg – 0,15 mg), desogestrel (0,15 mg) hoặc gestodene (0,05 mg – 0,10 mg) tiến hành trên 18 phụ nữ không ghép tạng (không uống thuốc ức chế miễn dịch) trong suốt 3 chu kỳ kinh liên tiếp cho thấy mycophenolate không có ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng trên hoạt tính ức chế buồng trứng của thuốc tránh thai dạng uống. Nồng độ LH, FSH và progesterone trong huyết thanh không bị ảnh hưởng đáng kể.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tinh bột ngô tiền gelatine hóa, Croscarmellose natri, Povidone , Magnesi stearate…
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
NHỮNG LƯU Ý ĐẶC BIỆT KHI HỦY BỎ
Do mycophenolate mofetil có tác dụng gây quái thai đã được chứng minh trên chuột cống và thỏ. không được mở viên nang hoặc nghiền nát. Tránh hít vào hoặc tiếp xúc trực tiêp với da hoặc niêm mạc chất bột chứa trong viên nang. Nếu có tiếp xúc, rửa sạch với xà phòng và nước, rửa mắt bằng nước sạch.
Bất kỳ thuốc nào không dùng hoặc chất thải phải được hủy bỏ theo quy định của địa phương.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM