Mycophenolate mofetil (Mycophenolic Acid) – Baxmune

Thuốc Baxmune 500 là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Baxmune 500 (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Mycophenolate mofetil/ Mycophenolic Acid

Phân loại: Thuốc ức chế miễn dịch chọn lọc.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L04AA06 – mycophenolic acid.

Biệt dược gốc: CellCept

Biệt dược: Baxmune 500

Hãng sản xuất : Ranbaxy Laboratories Limited

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 500 mg.

Thuốc tham khảo:

BAXMUNE 500
Mỗi viên nén có chứa:
Mycophenolate mofetil …………………………. 500 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Mycophenolat mofetil được chỉ định phối hợp với ciclosporin và corticosteroid trong phòng ngừa thải ghép cấp tính ở bệnh nhân được ghép thận, tim hoặc gan dị thân..

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng uống.

Liều dùng:

Bắt đầu sử dụng và duy trì sử dụng mycophenolate mofetil nên được quyết định bởi các chuyển gia ghép tạng đã được đào tạo phù hợp.

Sử dụng trong ghép thận

Người trưởng thành: Dùng Mycophenolate Mofetil đường uống khởi đầu trong vòng 72 giờ sau khi ghép. Liều dùng khuyến cáo cho bệnh nhân ghép thận là 1g, 2 lần/ngày (liều hằng ngày là 2g).

Trẻ em và thanh thiếu niên (2 đến 18 tuổi): Liều dùng khuyến cáo của Mycophenolate Mofetil là 600 mg/m² dùng đường uống 2 lần/ngày (tối đa là 2 g hằng ngày). Viên nén Mycophenolate Mofetil chỉ được kê toa cho bệnh nhân có diện tích bề mặt cơ thể trên 1,5 m², với liều dùng 1 g, 2 lần/ngày (liều dùng 2 g hằng ngày). Vì một số phản ứng phụ xảy ra với tần suất cao hơn trong độ tuổi này so với người trưởng thành, giảm liều tạm thời hoặc dùng thuốc gián đoạn; điều này phải cần lưu ý đến các yếu tố tương quan trên lâm sàng gồm cả mức độ trầm trọng của phản ứng.

Trẻ em (< 2 tuổi): Dữ liệu tính an toàn và hiệu quả bị giới hạn ở trẻ em dưới 2 tuổi. Các dữ liệu này không thích hợp để khuyến cáo liều lượng thuốc và vì vậy không khuyến cáo sử dụng thuốc cho độ tuổi này.

Sử dụng trong ghép tim

Người trưởng thành: Dùng Mycophenolate Mofetil đường uống khởi đầu điều trị trong vòng 5 ngày sau khi ghép. Liều lượng khuyến cáo cho bệnh nhân ghép tim là 1,5 g x 2 lần/ngày (liều 3 g hằng ngày).

Trẻ em: Không có dữ liệu thích hợp cho bệnh nhi được ghép tim..

Sử dụng trong ghép gan

Người trưởng thành: Dùng Mycophenolate Mofetil đường tiêm tĩnh mạch trong vòng 4 ngày sau khi ghép gan, với Mycophenolate Mofetil dùng dạng uống thì phải uống sớm ngay sau khi ghép vì nó có thể bị dung nạp thuốc. Liều uống khuyến cáo ở bệnh nhân ghép gan ở 1,5 g x 2 lần/ngày (liều 3 g hằng ngày).

Trẻ em: Không có dữ liệu thích hợp cho bệnh nhi được ghép gan.

Sử dụng ở người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên): Liều khuyên cáo là 1 g x 2 lần/ngày cho bệnh nhân ghép thận và 1,5 g x 2 lần/ngày cho bệnh nhân ghép tim hay bệnh nhân ghép gan..

Sử dụng thuốc khi suy chức năng thận

Ở bệnh nhân ghép thận bị suy chức năng thận nặng, ngoài khoảng thời gian ngay sau khi ghép, nên tránh dùng liều cao hơn 1 g x 2 lần/ngày. Các bệnh nhân này nên được giám sát cẩn thận. Không cần thiết chỉnh liều ở các bệnh nhân có mảnh ghép thận chậm hoạt động sau phẫu thuật. Không có dữ liệu thích hợp cho các bệnh nhân ghép tim hoặc ghép gan bị suy chức năng thận nặng và mãn tính.

Sử dụng thuốc khi suy chức năng gan nặng

Không cần chỉnh liều cho bệnh nhân ghép thận bị bệnh nhu mô gan nặng. Không có dữ liệu thích hợp cho các bệnh nhân ghép tim có bệnh về nhu mô gan nặng.

Điều trị giữa các khoảng thời gian thải ghép

MPA (Acid Mycophenolic) là chất chuyển hóa có hoạt tính của Mycophenolate Mofetil. Thải mảnh ghép thận không dẫn đến thay đổi dược động học của MPA; không yêu cầu giảm liều hoặc sử dụng cách quãng Mycophenolate Mofetil. Không có cơ sở cho sự điều chỉnh liều dùng của Mycophenolate Mofetil sau thải ghép tim. Không có dữ liệu dược động học thích hợp trong thời gian thải ghép gan.

4.3. Chống chỉ định:

Các phản ứng quá mẫn đối với mycophenolate mofetil đã được quan sát. Vì vậy, mycophenolate mofetil chống chỉ định sử dụng cho bệnh nhân quá mẫn với mycophenolate mofetil hoặc với acid mycophenolic.

Mycophenolate mofetil chống chỉ định sử dụng cho phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ.

4.4 Thận trọng:

Bệnh nhân dùng phác đồ ức chế miễn dịch trong đó sử dụng nhiều thuốc, gồm có cả mycophenolate mofetil, bị tăng nguy cơ tiến triển u bạch huyết và các bệnh lý ác tính khác, đặc biệt trên da. Nguy cơ dường như có liên quan đến cường độ và thời gian ức chế miễn dịch hơn là sử dụng bất kỳ thuốc chuyển biệt nào. Thông tin chung để hạn chế tối đa nguy cơ ung thư da, đó là, hạn chế phơi nhiễm với ánh nắng và tia UV bằng cách mặc áo quần bảo vệ và sử dụng sản phẩm chống nắng với yếu tố chống nắng cao.

Nên hướng dẫn bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil phải báo cáo ngay lập tức khi có bất cứ bằng chứng nhiễm trùng, có vết thâm hoặc xuất huyết hoặc bất cứ biến chứng của suy tủy xương không rõ nguyên nhân.

Bệnh nhân được điều trị với ức chế miễn dịch, gồm mycophenolate mofetil, tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội (vi khuẩn, nấm, virus và nguyên bào), nhiễm trùng và các nhiễm trùng gây tử vong. Trong số các nhiễm trùng cơ hội là virus BK liên quan đến bệnh thận và JC virus liên quan đến bệnh lý chất trắng đa ổ tiến triển – progressivề multifocal leukoencephalopathy (PML). Các nhiễm trùng này thường có liên quan đến cường độ ức chế miễn dịch và có thể dẫn đến các tình trạng bệnh trầm trọng hoặc tử vong mà bác sĩ nên cân nhắc trong chẩn đoán phân biệt ở các bệnh nhân bị ức chế miễn dịch có chức năng thận bị suy giảm hoặc có các triệu chứng về thần kinh.

Giảm bạch cầu trung tính nặng [số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) <0,5 x 10^3/mcL] tiễn triển lên đến 2,0% bệnh nhân ghép thận, 2,8% bệnh nhân ghép tim, và lên đến 3,6% bệnh nhân ghép gan sử dụng mycophenolate 3g, hằng ngày. Các bệnh nhân sử dụng mycophenolate mofetil nên được theo dõi về giảm số lượng bạch cầu trung tính, có thể có liên quan do bản thân thuốc mycophenolate mofetil, các thuốc sử dụng đồng thời, nhiễm virus, hoặc một số do tất cả các nguyên nhân này. Bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil nên kiểm tra công thức máu toàn phần hằng tuần trong tháng đầu điều trị, 2 lần/tháng cho tháng thứ hai và thứ ba, sau đó kiểm tra hằng tháng trong năm đầu tiên. Nếu giảm số lượng bạch cầu trung tính tiến triển (số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) < 1,3 x 10^3/mcl), có thể phải dùng thuốc ngắt quãng hoặc dừng sử dụng mycophenolate mofetil. Giảm số lượng bạch cầu trung tính đã được quan sát xảy ra thường xuyên nhất trong khoảng thời gian từ 31 đến 180 ngày sau khi ghép trong điều trị phòng ngừa thải ghép thận, tim và gan.

Các trường hợp bất sản nguyên hồng cầu đã được báo cáo ở các bệnh nhân được điều trị với mycophenolate mofetil phối hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác. Cơ chế bất sản nguyên hồng cầu do mycophenolate mofetil chưa được biết. Bất sản nguyên hồng cầu có thể được giải quyết bằng cách giảm liều dùng hoặc ngừng điều trị với mycophenolate mofetil. Các thay đổi đối với trị liệu mycophenolate mofetil chỉ nên được bảo đảm dưới sự giám sát thích hợp ở người được ghép để làm giảm tối đa nguy cơ thải mảnh ghép.

Bệnh nhân trong giai đoạn điều trị với mycophenolate mofetil, việc chủng ngừa vaccin có thể bị kém hiệu quả, và nên tránh sử dụng các vaccin sống đã giảm độc lực. Chủng ngừa cúm có thể mang lại lợi ích. Nên tham khảo hướng dẫn quốc gia về chủng ngừa cúm.

Vì mycophenolate mofetil có liên quan đến tăng tỉ lệ tác dụng phụ trên hệ tiêu hóa, gồm các trường hợp loét dạ dày ruột, xuất huyết và thủng dạ dày ruột, sử dụng mycophenolate mofetil thận trọng ở bệnh nhân có bệnh về hệ tiêu hóa nặng tiến triển.

Mycophenolate mofetil là một chất ức chế IMPDH (inosine monophosphate dehydrogenase).

Vì vậy, về lý thuyết, nên tránh sử dụng cho bệnh nhân thiếu enzyme hypoxanthine-guanine phosphoribosyl-transferase (HGPRT) di truyền như hội chứng Lesch-Nyhan và KelleySeegmiller.

Không khuyến cáo sử dụng thuốc Mycophenolate đồng thời với azathioprin vì việc sử dụng đồng thời chưa được nghiên cứu.

Vì giảm đáng kể AUC của MPA do cholestyramine, thận trọng khi dùng mycophenolate mofetil đồng thời với các thuốc có chu kỳ gan ruột vì có khả năng làm giảm tác động của mycophenolate mofetil.

Nguy cơ: Lợi ích của mycophenolate mofetil khi sử dụng đồng thời với tacrolimus hoặc sirolimus chưa được thiết lập.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có các nghiên cứu về tác động trên khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Dữ liệu dược lực học và các phản ứng phụ đã được báo cáo cho thấy không có tác động nào trên các khả năng này.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Mycophenolate mofetil (MMF) có thể gây hại cho thai nhi khi sử dụng thuốc này cho phụ nữ có thai.

Sử dụng MMF trong thai kỳ có liên quan đến tăng nguy cơ sẩy thai trong tam cá nguyệt thứ nhất và tăng nguy cơ dị tật bầm sinh, đặc biệt dị tật tai ngoài và các bất thường khác ở mặt như hở hàm ếch và dị tật các chi, tim, thực quản và thận.

Ở các nghiên cứu độc tính trên sinh sản ở động vật, cho thấy tăng tỉ lệ hư thai và dị tật khi không có ngộ độc ở con vật mẹ. Chuột cống và thỏ cái được dùng mycophenolate mofetil (MME) tương đương với 0,02 đến 0,9 lần liều khuyến cáo cho người cho bệnh nhân ghép thận và tim, dựa theo sự chuyển đổi diện tích bề mặt. Ở chuột cống con, dị tật gồm không có nhãn cầu, tật không có hàm dưới và tràn dịch não. Ở thỏ con, các dị tật bao gồm lạc vị tim, lạc vị thận, thoát vị hoành và thoát vị rốn.

Khuyến cáo không được bắt đầu sử dụng mycophenolate mofetil cho đến khi có kết quả xét nghiệm thai âm tính. Phải dùng biện pháp ngừa thai hiệu quả trước khi bắt đầu trị liệu với mycophenolate mofetil, trong khi trị liệu và trong suốt 6 tuần sau khi dừng trị liệu. Bệnh nhân nên bắt đầu sử dụng biện pháp tránh thai 4 tuần trước khi bắt đầu trị liệu bằng mycophenolate, trừ khi dùng biện pháp kiêng quan hệ tình dục. Nên tiếp tục sử dụng biện pháp tránh thai trong khi điều trị và trong suốt 6 tuần sau khi dừng sử dụng mycophenolate. Bệnh nhân nên được thông báo rằng mycophenolate làm giảm nồng độ hormon trong máu của viên thuốc ngừa thai dùng đường uống và về lý thuyết có thể làm giảm hiệu quả của thuốc ngừa thai. Bệnh nhân nên báo cho bác sĩ ngay lập tức khi xảy ra có thai.

Không khuyến cáo sử dụng mycophenolate mofetil trong thai kỳ và nên được để dành cho các trường hợp mà không có điều trị thay thế thích hợp. Mycophenolate mofetil chỉ nên được sử dụng cho phụ nữ có thai chỉ khi lợi ích cao hơn nguy cơ xảy ra cho thai nhi. Dữ liệu có hạn từ việc sử dụng mycophenolate mofetil ở phụ nữ có thai. Tuy nhiên, dị tật bẩm sinh gồm bất thườngở tai, như bất thường hình dạng hoặc thiếu tai ngoài/tai giữa, đã được báo cáo ở trẻ là con của các bệnh nhân đã phơi nhiễm với Mycophenolate khi phối hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác trong thai kỳ. Các trường hợp xảy thai tự phát đã được báo cáo ở các bệnh nhân có phơi nhiễm với mycophenolate mofetil. Các nghiên cứu ở động vật cho thấy có xảy ra độc tính trên sinh sản.

Thời kỳ cho con bú:

Mycophenolate mofetil đã được báo cáo là bài tiết qua sữa ở chuột cống cho con bú. Không biết chất này có bài tiết qua sữa người hay không. Vì khả năng xảy ra các phản ứng phụ trầm trọng do mycophenolate mofetil ở trẻ được bú sữa mẹ, chống chỉ định sử dụng mycophenolate mofetil cho người mẹ nuôi con bằng sữa mẹ.

Khả năng gây ung thư, đột biến gen, suy giảm khả năng thụ tinh

Trong các mô hình thử nghiệm, mycophenolate mofetil không có khả năng hình thành khối u. Liều dùng cao nhất được thử nghiệm trong các nghiên cứu khả năng gây ung thư ở động vật cho phơi nhiễm toàn thân (AUC hoặc Cmax) gấp khoảng 2 – 3 lần khi quan sát ở bệnh nhân ghép thận khi dùng liều khuyến cáo trên lâm sàng là 2g/ngày và 1,3 – 2 lần phơi nhiễm toàn thân (AUC hoặc Cmax) khi quan sát được ở bệnh nhân ghép tim dùng liều khuyến cáo trên lâm sàng là 3g/ngày.

Hai thử nghiệm về khả năng gây độc tính gen (thử nghiệm tế bào bạch huyết. chuột nhất trên in viro và thử nghiệm vi nhân tủy xương chuột nhắt trên in vivo) cho thấy mycophenolate mofetil có khả năng gây sai cấu trúc nhiễm sắc thể. Các tác động này có thể liên quan đến cơ chế tác dụng dược lực học, ví dụ ức chế tổng hợp nucleotide ở các tế bào cảm thụ. Các thử nghiệm trên invivo khác để phát hiện đột biến gen không chứng minh hoạt tính gây độc gen.

Mycophenolate mofetil không có tác động trên sự thụ tinh của chuột cống đực ở các liều dùng lên đến 20 mg.kg-1.ngày-1. Phơi nhiễm toàn thân ở liều này thể hiện 2 – 3 lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở liều khuyến cáo trên lâm sàng là 2g/ngày ở bệnh nhân ghép thận và 1,3-2 lần phơi nhiễm lâm sàng ở liều khuyến cáo trên lâm sàng là 3g/ngày ở bệnh nhân ghép tim. Trong nghiên cứu sinh sản và khả năng thụ tinh của chuột cống cái, các liều uống 4,5 mg.kg-1 .ngày-1 gây dị tật (không có nhãn cầu, không có hàm dưới và tràn dịch não) ở thế hệ thứ nhất khi không có ngộ độc ở con vật mẹ. Sự phơi nhiễm toàn thân ở liều này là khoảng 0,5 lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở liều khuyến cáo lâm sàng là 2g/ngày đối với bệnh nhân ghép thận và khoảng 0,3 lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở liều khuyến cáo trên lâm sàng là 3g/ngày đối với bệnh nhân ghép tim. Không có tác động trên sự thụ tinh hoặc các thông số trên sinh sản ở con vật mẹ hoặc thế hệ tiếp theo.

Trong các nghiên cứu gây quái thai ở chuột cống và thỏ, sẩy thai và dị tật đã xảy ra ở chuột cống ở liều 6 mg.kg-1.ngày-1 (không có nhãn cầu, không có hàm dưới và tràn dịch não) và ở thỏ với liều 90 mg.kg-1.ngày-1 (bất thường tim mạch và thận, như lạc vị tim và lac vi thận, và thoát vị hoành và thoát vị rốn) khi không có ngộ độc ở con vật mẹ. Phơi nhiễm toàn thân ở các liều dùng này là tương đương hoặc thấp hơn 0,5 lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở liều dùng khuyến cáo trên lâm sàng là 2g/ngày đối với bệnh nhân ghép thận và khoảng 0,3 lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở liều dùng khuyến cáo trên lâm sàng là 3g/ngày đối với bệnh nhân ghép tim

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các tác dụng không mong muốn sau đây gồm các phản ứng phụ từ các thử nghiệm lâm sàng: Các phản ứng phụ chính liên quan đền việc dùng mycophenolate mofetil khi phối hợp với ciclosporin và corticosteroids gồm tiêu chảy, giảm bạch cầu, nhiễm khuẩn và ói mửa, và có chứng cứ tần suất xảy ra các loại nhiễm trùng cao hơn.

Bệnh lý ác tính: Bệnh nhân dùng phác đồ ức chế miễn dịch gồm phối hợp nhiều thuốc, trong đó có mycophenolate mofetil, thì có nguy cơ cao hơn về tiến triển các u bạch huyết và các bệnh lý ác tính khác, đặc biệt trên da. Tăng sinh mô bạch huyết hoặc u bạch huyết tiến triển ở 0,6 bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil (2g hoặc 3g hằng ngày) phối hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng ở các bệnh nhân ghép thận (dữ liệu 2 g), bệnh nhân ghép tim và bệnh nhân ghép gan sau ít nhất 1 năm. Các carcinom da không phải u hắc sắc tố xảy ra ở 3,6% bệnh nhân; các loại bệnh lý ác tính khác xảy ra ở 1,1% bệnh nhân. Dữ liệu tính an toàn thực hiện trong 3 năm ở bệnh nhân ghép thận và ghép tim không cho thấy bất cứ thay đổi nào về tỉ lệ mắc bệnh lý ác tính không rõ nguyên nhân so với dữ liệu trong 1 năm. Bệnh nhân ghép gan được theo dõi trong ít nhất 1 năm, nhưng dưới 3 năm.

Các nhiễm trùng cơ hội: Các bệnh nhân được ghép tạng tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội; nguy cơ tăng khi chất ức chế miễn dịch hoàn toàn. Các nhiễm trùng cơ hội phổ biến nhất ở bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil (2g hoặc 3g hằng ngày) với các chất ức chế miễn dịch khác trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng khác ở bệnh nhân ghép thận (dữ liệu 2g), bệnh nhân ghép tim và ghép gan được theo dõi trong ít nhất 1 năm là nhiễm candida niêm mạc da, nhiễm virus CMV máu/hội chứng nhiễm CMV và Herpes simplex. Tỉ lệ bệnh nhân nhiễm virus CMV máu/hội chứng nhiễm CMV là 13,5 %.

Trẻ em và thanh thiếu niên (2 đến 18 tuổi): Loại và tần suất phản ứng phụ trong một nghiên cứu lâm sàng, gồm 92 bệnh nhi từ 2 đến 18 tuổi dùng mycophenolate mofetil dạng uống với liều 600 mg/m2, ngày 2 lần, thông thường tương tự như phản ứng phụ quan sát được ở bệnh nhân là người trưởng thành dùng 1 g mycophenolate mofetil, ngày 2 lần. Tuy nhiên, các tác dụng phụ liên quan đến điều trị sau đây thường xảy ra hơn ở đối tượng bệnh nhi, đặc biệt là trẻ em dưới 6 tuổi, khi so với người trưởng thành: tiêu chảy, nhiễm trùng, giảm bạch cầu, thiếu máu và nhiễm trùng.

Bệnh nhân cao tuổi (> 65 tuổi): Bệnh nhân cao tuổi (> 65 tuổi) có thể thường tăng nguy cơ phản ứng phụ do sự ức chế miễn dịch. Bệnh nhân cao tuổi dùng Mycophenolate mofetil là một thành phần trong phác đồ ức chế miễn dịch phối hợp, có thể tăng nguy cơ của một số nhiễm trùng (gồm bệnh xâm lấn mô do cytomegalovirus) và có khả năng xảy ra xuất huyết dạ dày ruột và phù phổi, so với các bệnh nhân trẻ hơn.

Các phản ứng phụ khác: Các phản ứng phụ, có thể hoặc có có liên quan đến mycophenolate mofetil, được báo cáo ở >1/10 và ở >1/100 đến <1/10 số bệnh nhân được điều trị với mycophenolate mofetil trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng ở bệnh nhân ghép thận (dữ liệu 2 g), bệnh nhân ghép tim và gan được liệt kê trong bảng sau đây.

Các phản ứng phụ, có thể hoặc có khả năng liên quan đến Mycophenolate mofetil, được báo cáo ở các bệnh nhân được điều trị với Mycophenolate mofetil trong các thử nghiệm lâm sàng trên thận, tim và gan khi sử dụng phối hợp với Ciclosporin và Corticosteroids

Trong mỗi hệ cơ quan, các tác dụng không mong muốn được liệt kê theo các mức tần suất sau đây: Rất thường xuyên (≥ 1/10); thường xuyên (≥ 1/100 đến < 1/10); không thường xuyên (≥ 1/1.000 đến < 1/100); hiếm (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm (< 1/10.000) và không biết (không thể đánh giá từ dữ liệu sẵn có). Trong mỗi nhóm tần suất, các tác dụng không mong muốn được sắp xếp theo thứ tự giảm dần mức độ nghiêm trọng.

Nhóm cơ quan hệ thống Tần suất Phản ứng phụ của thuốc
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng

 

Rất thường gặp Nhiễm khuẩn, nhiễm nấm Candida đường tiêu hóa, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm herpes simplex, nhiễm herpes zoster
Thường gặp Viêm phổi, cúm, nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh do Monilla đường hô hấp, nhiễm trùng đường tiêu hóa, bệnh nấm Candida, viêm dạ dày-ruột, nhiễm trùng, viêm phế quản, viêm họng, viêm xoang, nhiễm nấm da, nhiễm Candida da, bệnh nấm Candida âm đạo, viêm mũi
Khối u tân sinh lành tính, ác tính và không xác định (bao gồm nang và polyp)

 

Rất thường gặp
Thường gặp Ung thư da, khối u tân sinh lành tính ở da
Rối loạn máu và hệ bạch huyết

 

Rất thường gặp Giảm bạch cầu, giảm tiều cầu, thiếu máu
Thường gặp Giảm toàn thể huyết cầu, tăng bạch cầu
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng

 

Rất thường gặp
Thường gặp Nhiễm acid, tăng kali huyết, giảm kali huyết, tăng glucose huyết, giảm magnesi huyết, giảm calcị huyết, tăng cholesterol huyết, tăng lipid huyết, giảm phosphate huyết, tăng acid uric huyết, bệnh gout, chán ăn
Rối loạn tâm thần Rất thường gặp
Thướng gặp Kích động, trạng thái lú lẫn, trầm cảm, lo âu, suy nghĩ bất thường, mất ngủ
Rối loạn hệ thần kinh Rất thường gặp
Thường gặp Có giật, tăng trương lực, run, buồn ngủ, hội chứng nhược cơ, choáng váng, nhức đầu, dị cảm, rối loạn vị giác
Rối loạn tim Rất thường gặp
Thường gặp Nhịp tim nhanh
Rối loạn mạch Rất thường gặp
Thường gặp Hạ huyết áp, tăng huyết áp, giãn mạch
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất Rất thường gặp
Thường gặp Tràn dịch màng phổi, khó thở, ho
Rối loạn tiêu hóa Rất thường gặp Nôn, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn
Thường gặp Xuất huyết tiêu hóa, viêm màng bụng, tắc ruột, viêm đại tràng, loét dạ dày, loét tá tràng, viêm dạ dày, viêm thực quản, viêm miệng, táo bón, khó tiêu, đầy hơi, ợ hơi
Rối loạn gan mật Rất thường gặp
Thường gặp Viêm gan, bệnh vàng da, tăng bilirubin huyết
Rối loạn da và mô dưới da Rất thường gặp
Thường gặp Chứng tăng sản của da, nổi ban, mụn trứng cá, rụng tóc
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết Rất thường gặp
Thường gặp Đau khớp
Rối loạn thận và tiết niệu Rất thường gặp
Thường gặp Suy thận
Rối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ dùng thuốc Rất thường gặp
Thường gặp Phù, sốt, ớn lạnh, đau, khó chịu, suy nhược
Xét nghiệm Rất thường gặp
Thường gặp Tâng enzyme gan, tăng creatinine huyết, tăng lactate dehydrogenase huyết, tăng urê huyết, tăng phosphatase kiềm huyết, giảm cân

Lưu ý: 501 (2 g Mycophenolate mofetil hàng ngày), 289 (3g mycophenolate mofetil hàng ngày) và 277 (hàng ngày dùng 2g tiêm tĩnh mạch / 3g dạng uống, Mycophenolate mofetil) bệnh nhân được điều trị trong nghiên cứu pha III để phòng ngừa thải ghép trong ghép thận, tim và gan.

Các tác dụng không mong muốn sau đây gồm các phản ứng phụ từ kinh nghiệm sau khi đưa thuốc ra thị trường:

Các loại phản ứng phụ trong thời gian sau khi đưa thuốc ra thị trường của mycophenolate mofetil là tương tự với các phản ứng phụ quan sát được trong các nghiên cứu ghép thận, tim và gan có đối chứng. Các phản ứng phụ bổ sung được báo cáo trong thời gian sau khi đưa thuốc ra thị trường được mô tả dưới đây với tần suất được báo cáo đặt trong dấu ngoặc đơn nếu được biết.

Dạ dày ruột: tăng sản lợi (>1/100 đến <1/10), viêm ruột kết gồm viêm ruột kết do cytomegalovirus (>1/100 đến <1/10), viêm tụy (>1/100 đến <1/10) và teo nhung mao ruột.

Các rối loạn liên quan đến sự ức chế miễn dịch: Các nhiễm trùng nặng đe dọa tính mạng gồm viêm màng não, viêm màng trong tim, nhiễm lao và nhiễm mycobacterium không điển hình.

Các trường hợp virus BK liên quan đến bệnh thận, cũng như các trường hợp virus JC liên quan đến bệnh lý chất trắng đa ổ tiến triển, đã được báo cáo ở các bệnh nhân được điều trị với các chất ức chế miễn dịch, gồm mycophenolate mofetil.

Mất bạch cầu hạt (>1/1000 đến <1/100) và giảm bạch cầu trung tính đã được báo cáo; vì vậy, thường xuyên theo dõi bệnh nhân dùng mycophenolate mofetil. Có các báo cáo về thiếu máu bất sản và suy tủy xương ở những bệnh nhân được điều trị với mycophenolate mofetil, một số trong số bệnh nhân này đã tử vong.

Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Các trường hợp bất sản nguyên hồng cầu đã được báo cáo ở bệnh nhân được điều trị với mycophenolate mofetil.

Các trường hợp được phân lập về hình thái bạch cầu trung tính bất thường, gồm bất thường Pelger-Huet mắc phải, đã được quan sát ở các bệnh nhân được điều trị với mycophenolate mofetil. Các thay đổi này không liên quan đến giảm chức năng bạch cầu. Các thay đổi này có thể gợi ý một tình trạng tăng số lượng bạch cầu chưa thành thục trong sự thành thục của bạch cầu trong các điều tra nghiên cứu huyết học, điều mà có thể bị diễn giải sai là dấu hiệu của nhiễm trùng ở các bệnh nhân bị ức chế miễn dịch dùng mycophenolate mofetil.

Quá mẫn : Các phản ứng quá mẫn gồm phù nề thần kinh mạch và phản ứng phản vệ đã được báo cáo.

Rối loạn hô hấp, tuyến tức và trung thất: Có các báo cáo được phân lập về bệnh phổi kẽ và xơ hóa phổi ở các bệnh nhân được điều trị với mycophenolate mofetil phối hợp với các ức chế miễn dịch khác, một số bệnh nhân đã tử vong.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Các nghiên cứu tương tác chỉ được thực hiện ở người trưởng thành.

Aciclovir: Nồng độ huyết tương của aciclovir cao hơn khi sử dụng. đồng thời với mycophenolate mofetil so với khi sử dụng aciclovir riêng lẻ. Sư thay đồi về dược động học của MPAG (dạng liên hợp glucuronid của MPA) (MPAG tăng 8%) là tối thiểu và không được coi là đáng kể trên lâm sàng. Vì nồng độ huyết tương của MPAG tăng khi bị suy chức năng thận, cũng như các nồng độ của acyclovir, khả năng hiện có đối với mycophenolate mofetil và aciclovir, hoặc các tiền dược của chúng, như valaciclovir, cạnh tranh tiết qua ống thận và tăng hơn nữa nồng độ của cả hai chất có thể xảy ra.

Thuốc kháng acid có magnesium và aluminium hydroxides: Sự hấp thu của mycophenolate mofetil bị giảm khi dùng chung với thuốc kháng acid.

Cholestyramine: Sau khi dùng liều đơn 1,5g mycophenolate mofetil cho người bình thường khỏe mạnh trước khi điều trị với liều 4g cholestyramine, 3 lần/ngày trong 4 ngày, giảm 40 % AUC của MPA. Thận trọng khi sử dụng đồng thời vì khả năng giảm hiệu quả của mycophenolate mofetil.

Các thuốc can thiệp vào chu kỳ gan ruột: Thận trọng với các thuốc can thiệp vào chu kỳ gan ruột vì khả năng làm giảm hiệu quả của mycophenolate mofetil.

Ciclosporin A: Dược động học của ciclosporin A (CsA) không bị ảnh hưởng do mycophenolate mofetil. Ngược lại, nếu điều trị đồng thời với ciclosporin bị dừng, AUC của MPA tăng khoảng 30%.

Ganciclovir: Dựa vào kết quả của nghiên cứu dùng liều duy nhất của liều khuyến cáo của mycophenolate dùng đường uống và ganciclovir dùng đường tiêm tĩnh mạch và các tác động được biết của suy chức năng thận trên dược động học của mycophenolate mofetil và ganciclovir, lường trước được rằng sử dụng đồng thời các thuốc này (cạnh tranh trên cơ chế tiết qua ống thận) sẽ dẫn đến tăng nồng độ MPAG và ganciclovir. Không có sự thay đổi quan trọng nào về dược động học của MPA được lường trước và không cần thiết chỉnh liều của mycophenolate mofetil. Ở các bệnh nhân suy chức năng thận sử dụng đồng thời mycophenolate mofetil và ganciclovir hoặc các tiền dược như valganciclovir, nên tuân theo khuyến cáo liều dùng của ganciclovir và nên theo dõi bệnh nhân cẩn thận. (

Thuốc ngừa thai dùng đường uống: Dược động học và dược lực học của thúốc ngừa thai của thuốc ngừa thai dùng đường uống không bị ảnh hưởng khi dùng đồng thời với mycophenolate mofetil.

Rifampicin: Ở các bệnh nhân không đang sử dụng ciclosporin, dùng đồng thời mycophenolate mofetil và rifampicin làm giảm phơi nhiễm MPA (AUC0-12h) 18% đến 70%. Khuyến cáo theo dõi nồng độ phơi nhiễm MPA và điều chỉnh liều dùng của mycophenolate mofetil theo sự duy trì tác động lâm sàng khi dùng đồng thời với rifampicin.

Sirolimus: Ở bệnh nhân ghép thận, sử dụng đồng thời mycophenolate mofetil và CsA dẫn đến giảm phơi nhiễm MPA 30 – 50% so với bệnh nhân dùng thuốc phối hợp gồm sirolimus và mycophenolate mofetIl.

Sevelamer: Giảm Cmax và AUC0-12h của MPA lần lượt 30% và 25%, được quan sát khi dùng Mycophenolate mofetil đồng thời với sevelamer mà không có bất kỳ hậu quả nào trên lâm sàng (như thải ghép). Tuy nhiên, khuyến cáo dùng Mycophenolate mofetil trước ít nhất một giờ hoặc sau ba giờ dùng sevelamer để hạn chế tối đa tác động trên sự hấp thụ của MPA. Không có dữ liệu về mycophenolat mofetil với các thuốc gắn kết phosphate ngoài sevelamer.

Trimethoprim/sulfamethoxazole: Không có tác động trên sinh khả dụng của MPA.

Norfloxacin và metronidazole: Ở người tình nguyện khỏe mạnh, không có tương tác đáng kể khi dùng mycophenolate mofetil đồng thời với norfloxacin và metronidazole riêng lẻ. Tuy nhiên, phối hợp giữa norfloxacin và metronidazole làm giảm phơi nhiễm MPA khoảng 30% sau khi dùng mycophenolate mofetil liều duy nhất.

Ciprofloxacin và amoxicillin + clavulanic acid: Giảm nồng độ MPA (vùng lõm) trước khi dùng thuốc khoảng 50% đã được báo cáo ở người được ghép thận trong những ngày sau khi khởi đầu ciprofloxacin đường uống hoặc amoxicillin + clavulanic acid đường uống. Tác động này có khuynh hướng giảm khi tiếp tục sử dụng kháng sinh và tác động dừng trong vòng vài ngày dừng sử dụng thuốc. Sự thay đổi nồng độ trước khi dùng thuốc có thể không thể hiện chính xác sự thay đổi sự phơi nhiễm MPA tổng thể. Vì vậy, thay đổi liều dùng của mycophenolate mofetil thông thường không cần thiết khi thiếu chứng cứ của rối loạn mảnh ghép. Tuy nhiên, giám sát chặt chẽ trên lâm sàng trong thời gian phối hợp thuốc và thời gian ngắn sau điều trị với kháng sinh.

Tacrolimus: Ở bệnh nhân ghép gan khởi đầu dùng mycophenolate mofetil và tacrolimus, AUC và Cmax của MPA, chất chuyển hóa có hoạt tính của Mycophenolate mofetil, không bị ảnh hưởng đáng kể khi dùng đồng thời với tacrolimus. Ngược lại, tăng khoảng 20 % về AUC của tacrolimus khi dùng đa liều mycophenolate mofetil (1,5g, ngày 2 lần) đồng thời với tacrolimus. Tuy nhiên, ở bệnh nhân ghép thận, nồng độ tacrolimus dường như không bị thay đổi do mycophenolate mofetil.

Các tương tác khác: Sử dụng đồng thời probenecid với mycophenolate mofetil ở khi làm tăng AUC trong huyết tương của MPAG gấp 3 lần. Vì vậy, các chất khác được biết là tiết qua ống thận có thể cạnh tranh với MPAG, và vì vậy tăng nồng độ huyết tương của MPAG hoặc các chất tiết qua ống thận.

Vaccin sống: Các vaccin sống không nên sử dụng cho bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch suy giảm. Đáp ứng kháng thể với các vaccin khác có thể bị giảm.

4.9 Quá liều và xử trí:

Các báo cáo quá liều xảy ra với mycophenolate mofetil từ các thử nghiệm lâm sàng và từ kinh nghiệm sau khi đưa thuốc ra thị trường. Trong nhiều trường hợp này, không có tác dụng phụ nào được báo cáo. Trong các trường hợp quá liều trong đó tác dụng phụ đã được báo cáo, các tác dụng phụ nằm trong dữ liệu tính an toàn đã được biết của thuốc.

Người ta cho rằng quá liều mycophenolate mofetil có khả năng ức chế quá mức hệ miễn dịch và làm tăng tính nhạy cảm với nhiễm trùng và suy tủy xương. Nếu giảm bạch cầu trung tính tiến triển, nên dùng Mycophenolate mofetil ngắt quãng hoặc giảm liều.

Thẩm phân máu không loại bỏ lượng thuốc đáng kể trên lâm sàng của MPA hoặc MPAG. Tác nhân giữ acid mật, như cholestyramine, có thể loại bỏ MPA bằng cách làm giảm chu kỳ gan ruột của thuốc.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Cơ chế tác dụng

Mycophenolate mofetil là ester 2-morpholinoethyl của MPA. MPA là một chất ức chế chọn lọc, không cạnh tranh và có hồi phục của men inosine monophosphate dehydrogenase, vì vậy, ức chế đường tổng hợp nucleotide guanosine trên de novo mà không sát nhập vào DNA. Vì sự tăng sinh tế bào lympho T và B phụ thuộc chặt chẽ vào sự tổng hợp purines trên de novo trong khi các loại tế bào khác có thể tận dụng cơ chế tái sử dụng nhân purine, MPA có khả năng tác động kìm tế bào trên các tế bào lympho đáng kể hơn hẳn so với các tế bào khác..

Cơ chế tác dụng:

Mycophenolate sodium là muối Na của mycophenolic acid (MPA). MPA là chất ức chế men inosine monophosphophate dehydrogenase (IMPDH) có chọn lọc, không cạnh tranh và có thể đảo ngược được, chất này ức chế quá trình tổng hợp nucleotide guanosin theo con đường mới mà không gắn vào DNA.

MPA có tác dụng kiềm chế tế bào trên tế bào lympho mạnh hơn những tế bào khác do nhân purin của nó. Ngược với những loại tế bào chúng sử dụng các con đường ức chế khác, sự tăng sinh của lympho T và B bị phụ thuộc đáng kể vào sự tổng hợp theo con đường mới. Vì vậy, kiểu hoạt động của MPA bổ sung cho tác dụng của những chất ức chế calcineurin mà những chất này can thiệp vào quá trình sao chép cytokin và các lympho bào T trong pha nghỉ.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Sau khi uống, mycophenolate mofetil được hấp thu nhanh chóng và phần lớn qua chuyển hóa lần đầu hoàn toàn thành chất chuyển hóa có hoạt tính, MPA. Vì có chứng cứ của ức chế thải ghép câp sau khi ghép thận, hoạt tính ức chế miễn dịch của Mycophenolate mofetil có liên quan đến nồng độ MPA. Sinh khả dụng trung bình của mycophenolate mofetil dạng uống, dựa vào diện tích dưới đường cong của MPA, là 94 % tương đối với mycophenolate mofetil dạng tiêm tĩnh mạch. Thức ăn không ảnh hừởng đến mức độ hấp thu (MPA AUC) của mycophenolate mofetil khi được dùng các liều 1,5g x 2 lần/ngày cho bệnh nhân ghép thận. Tuy nhiên, Cmax của MPA giảm 40% khi có sự hiện diện của thức ăn. Mycophenolate mofetil không được phát hiện trong huyết tương sau khi uống. MPA ở nồng độ thích hợp trên lâm sàng, 97% gắn kết với protein albumin huyết tương.

Vì có chu kỳ gan ruột, đỉnh thứ hai của MPA thường được quan sát sau 6 — 12 giờ sau khi dùng thuốc. Giảm AUC của MPA khoảng 40% có liên quan đến việc sử dụng đồng thời với cholestyramine (4 g x 3 lần/ngày), cho thấy rằng có một lượng đáng kể của chu kỳ gan ruột.

MPA được chuyển hóa chủ yếu bởi men glucuronyl transferase thành dạng phenolic glucuronide của MPA (MPAG), chất không có hoạt tính dược lý.

Một lượng không đáng kể được bài tiết ở dạng MPA (< 1 % liều dùng) trong nước tiểu. Dùng dạng uống mycophenolate mofetil đánh dấu phóng xạ dẫn đến hồi phục hoàn toàn liều đã dùng với 93% liều dùng được hồi phục trong nước tiểu và 6% liều đã dùng hồi phục trong phân. Hầu hết (khoảng 87 %) liều đã dùng được bài tiết trong nước tiểu ở dạng MPAG. Các nồng độ phát hiện được trên lâm sàng, MPA và MPAG không được loại khỏi cơ thể bằng thẩm phân máu. Tuy nhiên, tại nồng độ huyết tương cao của MPAG (> 100mcg/ml), một lượng nhỏ MPAG được loại khỏi cơ thể.

Trong giai đoạn sớm sau khi ghép tạng (< 40 ngày sau khi ghép), bệnh nhân được ghép thận, tim và gan có AUCs trung bình của MPA là thâp hơn khoảng 30% và có Cmax thấp khoảng 40 % so với khoảng thời gian muộn sau khi ghép (3 – 6 tháng sau khi ghép).

Suy chức năng thận

Trong một nghiên cứu dùng liều duy nhất (6 bệnh nhân/nhóm), AUC của MPA trung bình trong huyết tương quan sát được ở các bệnh nhân suy chức năng thận nặng mãn tính (tỉ lệ lọc cầu thận < 25 ml.phút-1.1,73 m-2) cao hơn 28 – 75 % so với AUC trung bình quan sát được ở người bình thường khỏe mạnh hoặc so với các bệnh nhân suy chức năng thận ở mức độ nhẹ hơn. Tuy nhiên, AUC của MPAG trung bình khi dùng liều duy nhất cao hơn 3 – 6 lần ở bệnh nhân suy chức năng thận nặng so với người suy chức năng thận nhẹ hoặc người bình thường khỏe mạnh, phù hợp với đào thải qua thận đã được biết của MPAG. Liều đa của mycophenolate mofetil khi dùng cho bệnh nhân suy chức năng thận nặng mãn tính chưa được nghiên cứu. Không có dữ liệu thích hợp cho bệnh nhân ghép tim hoặc ghép gan bị suy chức năng thận nặng mãn tính chưa được nghiên cứu. Không có dữ liệu thích hợp cho bệnh nhân ghép tim hoặc ghép gan bị suy chức năng thận nặng mãn tính.

Mảnh ghép thận chậm hoạt động

Ở bệnh nhân có mảnh ghép chậm hoạt động sau khi ghép, AUC 0-12h trung bình của MPA có thể so sánh được với AUC quan sát được ở bệnh nhân được ghép cơ quan có tiến triển bình thường AUC0-12h của MPAG trung bình trong huyết tương cao gấp 2-3 lần so với các bệnh nhân sau ghép cơ quan có tiến triển bình thường. Tăng nhẹ phần tự do và nồng độ huyết tương của MPA ở bệnh nhân có mảnh ghép thận chậm hoạt động. Điều chỉnh liều của mycophenolate mofetil dường như không cần thiết.

Suy chức năng gan

Ở người tình nguyện bị xơ gan do rượu, quá trình glucuronide hóa MPA ở gan không bị ảnh hưởng một cách tương đối do bệnh nhu mô gan. Tác động của bệnh gan trên quá trình này có khả năng phụ thuộc vào bệnh riêng biệt. Tuy nhiên, bệnh gan kèm tốn thương mật, như xơ gan mật tiên phát, có thể cho tác động khác nhau.

Trẻ em và thanh thiếu niên (tuổi từ 2 đến 18)

Các thông số dược động học được lượng giá ở 49 bệnh nhi ghép thận dùng 600 mg/m2 mycophenolate mofetil bằng đường uống, ngày 2 lần. Liều này cho AUC của MPA tương tự như AUC quan sát được ở bệnh nhân là người trưởng thành được ghép thận dùng Mycophenolate mofetil với liều 1g, 2 lần/ngày trong khoảng thời gian sớm và muộn sau khi ghép. Giá trị AUC của MPA trong các nhóm theo tuổi tác là tương tự trong khoảng thời gian sớm và muộn sau khi ghép.

Bệnh nhân cao tuổi (>65 tuổi)

Tác động dược động học của mycophenolate mofetil ở người cao tuổi chưa được lượng giá một cách chính thức.

Thuốc ngừa thai dùng đường uống

Dược động học của thuốc ngừa thai dùng đường uống không bị ảnh hưởng khi dùng đồng thời với mycophenolate mofetil. Một nghiên cứu dùng đồng thời mycophenolate mofetil (1g, 2 lần/ngày) và thuốc ngừa thai dùng đường uống chứa ethinylestradiol (0,02mg đến 0,04mg) và levonorgestrel (0,05mg đến 0,15mg), desogestrel (0,15mg) hoặc gestodene (0, 05mg đến 0,10mg) tiến hành ở 18 phụ nữ không ghép tạng (không dùng các thuốc ức chế miễn dịch khác) trên 3 chu kỳ kinh nguyệt cho thấy không có sự ảnh hưởng tương quan trên lâm sàng của Mycophenolate mofetil trên sự ức chế rụng trứng của thuốc ngừa thai đường uống. Nồng độ huyết thanh của LH, FSH và progesterone không bị ảnh hưởng đáng kể..

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

 

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM