Thông tin chung của thuốc kết hợp Lamivudine + Nevirapine + Zidovudine (LNZ)
Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc kết hợp Lamivudine + Nevirapine + Zidovudine (LNZ) (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Lamivudine + Nevirapine + Zidovudine (LNZ)
Phân loại: Thuốc kháng virus. Dạng kết hợp
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J05AR05.
Biệt dược gốc:
Thuốc Generic: Nezilamvir, Brofun, DuoAPC Fort, Efeladin, Lamivudine 150mg, Zidovudine 300mg & Nevirapine 200mg Tablets (Macleods), Lamzitrio, Lamivudine/Nevirapine/Zidovudine 150mg/200mg/300mg, Kazumi, Zidorapin, Duovir-N.
2. Dạng bào chế Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén hoặc viên nén bao phim. Mỗi viên: Lamivudin 150 mg, Nevirapin 200 mg, Zidovudin 300 mg.
Thuốc tham khảo:
| LAMIVUDINE/NEVIRAPINE/ZIDOVUDINE 150MG/200MG/300MG | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Lamivudine | …………………………. | 150 mg |
| Nevirapine | …………………………. | 200 mg |
| Zidovudine | …………………………. | 300 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
LNZ được chỉ định điều trị nhiễm HIV ở những bệnh nhân đã điều trị ổn định với liều duy trì nevirapin 200 mg x 2 lần mỗi ngày và được xác định có dung nạp đầy đủ với nevirapin.
4.2. Liều dùng Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng đường uống.
Liều dùng:
Liều uống LNZ chỉ định cho người lớn và vị thành niên (ít nhất 12 tuổi) là 1 viên x 2 lần/ngày.
Theo dõi bệnh nhân:
Kiểm tra lâm sàng và cận lâm sàng, bao gồm các thử nghiệm chức năng gan đặc biệt khi bắt đầu điều trị và trong suốt 18 tuần đầu dùng LNZ. Sau đó, nên tiếp tục theo dõi lâm sàng và cận lâm sàng trong suốt quá trình điều trị với LNZ. Trong một số trường hợp, tổn thương gan tiến triển dù đã ngưng điều trị.
Điều chỉnh liều
Vì LNZ là dạng kết hợp, không nên chỉ định LNZ cho bệnh nhân cần điều chỉnh liều như những bệnh nhân bị giảm chức năng thận (độ thanh lọc creatinin < 50 ml/ phút), bệnh nhân dưới 50 kg hay những người có tiền sử xuất hiện phản ứng có hại.
Cần giảm liều zidovudin cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan nhẹ đến trung bình hay xơ gan mãn tính. Do LNZ là thuốc kết hợp, không thể điều chỉnh liều cho những bệnh nhân này. Vì thế, LNZ không được khuyên dùng cho bệnh nhân suy giảm chức năng gan.
4.3. Chống chỉ định:
Tiền sử biểu hiện lâm sàng phản ứng quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Bệnh nhân vừa mới khởi đầu điều trị với nevirapin liều cố định 200 mg 1 lần/ ngày do trong công thức LNZ chứa nevirapin liều 200 mg dùng 2 lần/ ngày.
4.4 Thận trọng:
Nevirapin: 18 tuần đầu điều trị với nevirapin là giai đoạn cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân để phát hiện các phản ứng da và nguy cơ hại gan với khả năng đe dọa tính mạng. Thực hiện ngay các thử nghiệm chức năng gan nếu bệnh nhân có dấu hiệu hay triệu chứng nghi ngờ bệnh viêm gan, phản ứng quá mẫn, và/ hoặc phát ban.
Nhiễm acid lactic và gan to kèm nhiễm mỡ nặng, bao gồm các trường hợp hoại tử đã được báo cáo khi sử dụng các dẫn chất nucleosid đơn lẻ hay kết hợp bao gồm lamivudin, zidovudin, và các thuốc kháng virus khác.
Bệnh nhân suy giảm chức năng thận: nên giảm liều lamivudin và zidovudin cho bệnh nhân suy thận. Bệnh nhân với độ thanh lọc creatinin < 50 ml/phút không nên dùng LNZ.
Tái cấu trúc chất béo: Sự tái phân bố / tích lũy mỡ trong cơ thể bao gồm béo phì ở giữa, tích tụ mỡ ở lưng, cổ (bướu trâu), biến dạng vùng ngoại vi, vùng mặt, vú to, và hội chứng Cushing đã được quan sát trên những bệnh nhân trị liệu với thuốc kháng virus. Cơ chế và hậu quả lâu dài của các triệu chứng này chưa rõ. Nguyên nhân chưa được xác định.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: NA
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
Chưa có nghiên cứu trên phụ nữ có thai. Chỉ sử dụng LNZ cho phụ nữ đang mang thai sau khi cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ.
Thời kỳ cho con bú:
Zidovudin và Lamivudin bài tiết qua sữa mẹ. Vì nguy cơ lây nhiễm HIV và phản ứng phụ trầm trọng cho trẻ sơ sinh, người mẹ không nên cho con bú nếu đang điều trị bằng LNZ.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Lamivudin
Tác dụng phụ thường xảy ra khi điều trị lamivudin là đau bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau đầu, sốt, phát ban, rụng tóc, khó chịu, mất ngủ, ho, triệu chứng ở mũi, đau khớp, đau dây thần kinh cơ da và thần kinh ngoại biên.
Nevirapin
Hầu hết phản ứng phụ của nevirapin là phát ban da, thường xảy ra ở 6 tuần đầu điều trị.
Phản ứng trên da trầm trọng và đe dọa tính mạng đã xảy ra, gồm hội chứng Stevens-Johnson, nhưng hiếm khi phản ứng trên da gây chết người. Phản ứng nhạy cảm gồm phù mạch, nổi mề đay và quá mẫn.
Độc tính trầm trọng ở gan như viêm gan, hoại tử tế bào gan, đôi khi tử vong có thể xảy ra và thường là ở phụ nữ.
Phản ứng phụ khác gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng, mệt mỏi, choáng váng và đau đầu.
Zidovudin
Tác dụng phụ nguy hiểm thường gặp nhất của zidovudin là thiếu máu và giảm bạch cầu, chủ yếu bạch cầu trung tính, xảy ra ở một vài tuần khi bắt đầu điều trị. Độc tính trên máu thường xảy ra ở bệnh nhân đã có những bất thường về hệ tạo máu, cần ngưng điều trị hay giảm liều và nếu nặng phải truyền máu.
Các phản ứng phụ khác bao gồm suy nhược, sốt, khó chịu, choáng váng, đau đầu, mất ngủ, đau cơ, bệnh cơ, cảm giác châm chích da, khó thở, ho, đau bụng, chán ăn, khó tiêu, thay đổi vị giác, tiêu chảy, buồn nôn, nôn và phát ban. Viêm tụy, co giật, rối loạn màu móng, da và niêm mạc miệng có thể xảy ra.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Lamivudin
Trimethoprim (TMP) 160 mg/ sulfamethoxazol (SMX) 1 lần/ ngày làm tăng nồng độ lamivudin (AUC). Ảnh hưởng của liều cao TMP/SMX trên dược động học lamivudin chưa được nghiên cứu.
Lamivudin và zalcitabin có thể ức chế hoạt tính phosphoryl hóa nội bào lẫn nhau. Do đó, không nên dùng LNZ kết hợp với zalcitabin.
Nevirapin
Fluconazol: Nên thận trọng khi dùng chung nevirapin với fluconazol và theo dõi cẩn thận các phản ứng có hại do nevirapin. Nguy cơ gây độc cho gan có thể tăng khi kết hợp đồng thời các thuốc này.
Itraconazol, ketoconazol: Nên thận trọng khi dùng ketoconazol và itraconazol với nevirapin do nồng độ trong huyết tương và hiệu quả của thuốc kháng nấm có thể giảm và cần phải điều chỉnh liều dùng.
Rifabutin: Nên chú ý khi dùng chung nevirapin và rifabutin. Một số báo cáo lâm sàng cho thấy không cần điều chỉnh liều khi dùng chung các thuốc này.
Rifampin: Không dùng chung rifampin và nevirapin vì nồng độ nevirapin có thể giảm và có nguy cơ gây độc tính gan. Nếu buộc phải dùng chung, cần theo dõi sát bệnh nhân.
Rifapentin: Không nên dùng chung rifapentin với nevirapin.
Các thuốc ức chế HIV protease: Vì nevirapin là thuốc cảm ứng men CYP3A, dùng chung với thuốc ức chế HIV protease có thể dẫn đến giảm nồng độ trong huyết tương của thuốc ức chế HIV protease. Dùng chung với các thuốc như: amprenavir, atazanavir, fosamprenavir, indinavir, lopinavir, nelfinavir, ritonavir, saquinavir, tipranavir không ảnh hưởng đến dược động học của nevirapin.
Các thuốc nhóm macrolid: dùng chung clarithromycin và nevirapin được báo cáo là giảm nồng độ và diện tích dưới đường cong (AUC) của clarithromycin, tăng nồng độ và diện tích dưới đường cong của chất chuyển hóa chính của clarithromycin (14-hydroxyclarithromycin).
Các thuốc ức chế sao chép ngược không phải nucleosid: Dùng chung nevirapin và efavirenz, làm giảm nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 12% và diện tích dưới đường cong của efavirenz giảm 28%.
Các thuốc chống ung thư: Dùng chung nevirapin và cyclophosphamid được cảnh báo gây giảm nồng độ trong huyết tương của thuốc chống ung thư. Nên thận trọng và có thể phải điều chỉnh liều dùng.
Các thuốc tim mạch: Thận trọng khi sử dụng nevirapin ở bệnh nhân đang dùng các thuốc amiodaron, disopyramid hay lidocain. Nồng độ trong huyết tương của các thuốc trị loạn nhịp tim có thể giảm và cần phải điều chỉnh liều dùng.
Methadon: Nevirapin có thể cảm ứng chuyển hóa methadon dẫn tới giảm nồng độ methadon trong huyết tương.
Các thuốc ngừa thai dạng hormon: dùng chung nevirapin và thuốc ngừa thai dạng hormon (thuốc ngừa thai đường uống) chứa ethinyl estradiol và norethindron có thể làm giảm AUC của cả hai hormon này. Nên dùng biện pháp ngừa thai bổ sung khi kết hợp chung thuốc ngừa thai với nevirapin.
Alkaloid, thuốc tiêu hóa, ức chế miễn dịch, warfarin: Dùng chung nevirapin và alkaloid, thuốc tiêu hóa, ức chế miễn dịch, warfarin có thể làm tăng nồng độ của các thuốc này. Nên thận trọng và có thể phải điều chỉnh liều dùng.
Zidovudin
Trị liệu đồng thời với các thuốc ganciclovir, interferon-alpha và các thuốc có khả năng làm suy tủy khác hay các thuốc gây độc tế bào có thể làm tăng độc tính trên máu của zidovudin. Nên tránh dùng đồng thời LNZ với stavudin vì tác dụng đối kháng với zidovudin đã được chứng minh in vitro. Hơn nữa, nên tránh dùng chung zidovudin với doxorubicin hay ribavirin bởi vì có sự đối kháng in vitro.
4.9 Quá liều và xử trí:
Không có thuốc giải độc cho LNZ.
Lamivudin:
Không có dấu hiệu lâm sàng hay những triệu chứng đáng chú ý và thử nghiệm chức năng gan vẫn bình thường. Chưa rõ lamivudin có thể được loại trừ khỏi cơ thể bằng phương pháp thẩm phân màng bụng hay thẩm phân máu hay không.
Nevirapin:
Không có thuốc giải độc cho quá liều nevirapin. Bệnh nhân có các triệu chứng: phù, bướu phát ban, mệt mỏi, sốt, đau đầu, mất ngủ, buôn nôn, thâm nhiễm phổi, phát ban, chóng mặt, nôn và sụt cân. Toàn bộ triệu chứng giảm bớt sau khi ngưng dùng nevirapin.
Zidovudin:
Quá liều cấp được báo cáo xảy ra ở trẻ em và người lớn liên quan tới liều dùng trên 50 g thấy xuất hiện buồn nôn và nôn. Triệu chứng khác: nhức đầu, chóng mặt, ngủ gật, hôn mê và tai biến. Thay đổi huyết học thoáng qua. Tất cả các triệu chứng này đều có khả năng phục hồi. Thẩm phân máu và thẩm phân màng bụng có tác dụng không đáng kể nhằm loại bỏ zidovudin trong khi quá trình đào thải chất chuyển hóa ban đầu tăng lên.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Lamivudin và zidovudin là những dẫn chất nucleosid tổng hợp với hoạt tính kháng virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Nevirapin là chất ức chế men sao chép ngược không nucleosid với hoạt tính kháng virus gây suy giảm miễn dịch ở người týp 1(HIV-1). Nevirapin có cấu trúc thuộc nhóm hợp chất dipyridodiazepinon.
Zidovudin (azidothymidin, AZT) là một chất tương tự thymidin có tác dụng ức chế in vitro sự sao chép của các retrovirus, bao gồm cả virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Thuốc được chuyển thành zidovudin monophosphat bởi thymidin kinase của tế bào, rồi sau cùng thành zidovudin triphosphat nhờ một số enzym khác của tế bào. Dạng này tác dụng trên polymerase DNA của virus (enzym phiên mã ngược) bằng cách cạnh tranh với các deoxynucleosid khác của tế bào và bằng cách tác dụng như một chất kết thúc chuỗi tổng hợp DNA.
Sự ức chế cạnh tranh enzym phiên mã ngược của retrovirus (HIV) mạnh hơn gấp 100 lần so với sự ức chế polymerase DNA của tế bào.
Lamivudin là 1 thuốc tổng hợp kháng retrovirus, thuộc nhóm dideoxynucleosid ức chế enzym phiên mã ngược của virus. Ðể có tác dụng lamivudin phải được enzym tế bào phosphoryl hóa và biến đổi thành một chất chuyển hóa có hoạt tính, chất chuyển hóa 5 – triphosphat. Chất chuyển hóa này có cấu trúc tương tự deoxycytidin triphosphat là cơ chất tự nhiên cho enzym phiên mã ngược. Thuốc có hoạt tính cạnh tranh với deoxycytidin triphosphat tự nhiên để hợp nhất vào DNA của virus bởi enzym phiên mã ngược, gây kết thúc sớm tổng hợp DNA của virus. Lamivudin có độc tính rất thấp đối với tế bào.
Lamivudin có hoạt tính kìm virus HIV typ 1 và 2 (HIV – 1, HIV – 2), và cũng có tác dụng ức chế virus viêm gan B ở người bệnh mạn tính. Tuy được dung nạp tốt, nhưng không được dùng lamivudin đơn độc, vì dễ sinh kháng thuốc. Sự kháng này do đột biến về enzym phiên mã ngược, làm giảm tính nhạy cảm hơn 100 lần và làm mất tác dụng kháng virus trên người bệnh. Liệu pháp phối hợp lamivudin và zidovudin ở người bệnh chưa được điều trị trước đây, làm giảm khoảng 10 lần mật độ virus trong huyết tương, tác dụng kéo dài hơn 1 năm, mặc dù có sự đột biến của enzym phiên mã ngược.
Nevirapin là thuốc ức chế enzym phiên mã ngược của HIV-1, không thuộc nhóm nucleosid. Thuốc có tác dụng đặc hiệu với enzym phiên mã ngược của HIV-1, làm giảm sự phát triển của virus HIV-1, không cạnh tranh với các chất ức chế phiên mã ngược. Cơ chế tác dụng của thuốc khác với các chất ức chế nucleosid là phải chuyển hóa trong tế bào thành các triphosphat có tác dụng cạnh tranh sự tổng hợp của virus. Nevirapin gắn trực tiếp vào enzym polymerase phiên mã ngược của HIV-1, ức chế tác dụng của DNA polymerase phụ thuộc RNA bằng cách làm rối loạn vị trí xúc tác của enzym này, do đó cản trở sự nhân lên của virus. Nevirapin có tác dụng ức chế chọn lọc cao trên enzym phiên mã ngược của HIV-1, và không ức chế enzym của tế bào, bao gồm các polymerase alpha, beta, gamma hoặc delta của tế bào bình thường ở người, nên ít gây tác dụng độc lên tế bào.
Cơ chế tác dụng:
Lamivudin:
Lamivudin là dẫn chất nucleosid tổng hợp. Trong tế bào, lamivudin bị phosphoryl hóa thành chất chuyển hóa có hoạt tính 5′-triphosphat, lamivudin triphosphat (L-TP). Hoạt tính chính của L-TP là ức chế men sao chép ngược (RT) thông qua việc kết thúc chuỗi DNA sau khi gắn kết vào chuỗi nucleosid. L-TP ức chế yếu DNA polymerase-α và β ở động vật có vú và DNA polymerase-γ ở ty lạp thể.
Nevirapin:
Nevirapin là chất ức chế men sao chép ngược không phải nucleosid (NNRTI) của HIV-1. Nevirapin kết hợp trực tiếp với men ức chế sao chép ngược và ngăn chặn hoạt động của men polymerase phụ thuộc RNA và DNA, làm phá vỡ vị trí xúc tác của các men đó. Hoạt tính của nevirapin không hoàn toàn với dạng nguyên thể hoặc nucleosid triphosphat. Men sao chép ngược của HIV-2 và chuỗi DNA polymerase của tế bào nhân thật (như DNA polymerase-α, β, γ và δ ở người) không bị ức chế bởi nevirapin.
Zidovudin:
Zidovudin là dẫn chất nucleosid tổng hợp. Trong tế bào, zidovudin bị phosphoryl hóa thành chất chuyển hóa có hoạt tính 5′-triphosphat, zidovudin-triphosphat (ZDV-TP). Hoạt tính chính của ZDV-TP là ức chế sao chép ngược qua mã kết thúc DNA sau quá trình tổng hợp nucleosid. ZDV-TP ức chế yếu DNA polymerase-a của động vật có vú và DNA polymerase-γ của ty lạp thể và gắn kết vào DNA của tế bào vi khuẩn cấy.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Lamivudin
Lamivudin được hấp thu nhanh bằng đường uống và nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau khoảng 1 giờ. Sự hấp thu bị chậm lại nhưng không bị giảm bởi thức ăn.
Sinh khả dụng từ 80 đến 87%. Trên 36% thuốc gắn kết với protein huyết tương. Lamivudin qua được hàng rào máu não với tỉ lệ giữa dịch não tủy và nồng độ huyết thanh khoảng 0,12. Thuốc qua được nhau thai và vào sữa mẹ.
Lamivudin được chuyển hóa trong tế bào thành dạng triphosphat có hoạt tính kháng virus. Chuyển hóa thấp ở gan và được đào thải chủ yếu dạng không đổi qua thận. Thời gian bán hủy từ 5-7 giờ khi dùng đơn liều.
Nevirapin
Nevirapin hấp thu nhanh bằng đường uống và sự hấp thu không bị ảnh hưởng bởi thức ăn.
Sinh khả dụng trên 90%. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 4 giờ khi dùng đơn liều. 60% nevirapin liên kết với protein huyết tương. Nồng độ trong dịch não tủy khoảng 45% so với trong huyết tương. Nevirapin qua được nhau thai và vào sữa mẹ.
Nevirapin được chuyển hóa mạnh bởi các men gan, chủ yếu do các cytochrom P-450, thuộc họ CYP3A. Sự cảm ứng của các men này dẫn tới kết quả tăng 1,5 đến 2 lần độ thanh lọc biểu kiến sau 2 tới 4 tuần khi dùng liều thông thường, và giảm thời gian bán hủy từ 45 giờ còn 25-30 giờ. Ở trẻ em, thời gian bán hủy khác nhau theo tuổi, 32 giờ ở trẻ dưới 1 tuổi, 21 giờ ở trẻ từ 14 tuổi, 18 giờ ở trẻ từ 4 đến 8 tuổi, và 28 giờ ở trẻ trên 8 tuổi. Độ thanh lọc biểu kiến, điều chỉnh theo thể trọng, cũng thay đổi theo tuổi, ở trẻ dưới 8 tuổi thì gấp 2 lần người lớn.
Nevirapin được đào thải chủ yếu vào nước tiểu dưới dạng liên hợp với glucuronid của chất chuyển hóa hydroxyl.
Zidovudin
Zidovudin hấp thu nhanh ở đường tiêu hóa và bị chuyển hóa lần đầu ở gan với sinh khả dụng khoảng 60 đến 70%. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 1 giờ. Sự hấp thu bị chậm do thức ăn nhưng sinh khả dụng không bị ảnh hưởng. Zidovudin qua được hàng rào máu não với tỉ lệ giữa dịch não tủy và trong huyết tương khoảng 0,5. Thuốc qua được nhau thai và vào sữa mẹ. Thuốc được tìm thấy trong tinh dịch. Khoảng 34 đến 38% thuốc gắn kết với protein huyết tương. Thời gian bán thải trong huyết tương khoảng 1 giờ.
Zidovudin được chuyển hóa nội bào thành dạng triphosphat có hoạt tính kháng virus. Thuốc được chuyển hóa ở gan, chủ yếu liên hợp thành dạng glucuronid bất hoạt, và đào thải vào nước tiểu với dạng không thay đổi và dạng chuyển hóa.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
…
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM