Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Lamivudine 150mg, Zidovudine 300mg & Nevirapine 200mg Tablets
Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Lamivudine 150mg, Zidovudine 300mg & Nevirapine 200mg Tablets (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Lamivudine + Nevirapine + Zidovudine (LNZ)
Phân loại: Thuốc kháng virus. Dạng kết hợp
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J05AR05.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Lamivudine 150mg, Zidovudine 300mg & Nevirapine 200mg Tablets
Hãng sản xuất : Macleods Pharmaceuticals Ltd.
2. Dạng bào chế Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén. Mỗi viên: Lamivudin 150 mg, nevirapin 200 mg, zidovudin 300 mg.
Thuốc tham khảo:
| LAMIVUDINE 150MG, ZIDOVUDINE 300MG & NEVIRAPINE 200MG TABLETS | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Lamivudine | …………………………. | 150 mg |
| Nevirapine | …………………………. | 200 mg |
| Zidovudine | …………………………. | 300 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Điều trị nhiễm HIV-1 ở người lớn và trẻ có cân nặng trên từ 25kg trở lên. Dạng phối hợp liều cố định này thay thế cho 3 thành phần dùng riêng rẽ với liều tương đương. Phải bắt đầu điều trị với lamivudin, zidovudin và nevirapin riêng rẽ trong 6 – 8 tuần cho tới khí bệnh nhân ổn định với liều nevirapin 200mg x 2 lần/ngày và đã được chứng minh dung nạp tốt với lamivudin, zidovudin và nevirapin.
4.2. Liều dùng Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng đường uống. Thức ăn không ảnh hưởng đến việc hấp thu.
Liều dùng:
Liều khuyến cáo ở người lớn và trẻ có cân nặng từ 25kg trở lên là 1 viên x 2 lần/ngày.
Trong trường hợp ngưng thuốc hoặc giảm liều bất kỳ thành phần nào nếu cần thiết, tham khảo các dạng bào chế riêng rẽ các thành phần hoạt chất.
Trẻ em
Không dùng trẻ em dưới 25kg, do không thể điều chỉnh liều phù hợp.
Người cao tuổi:
Thận trọng do một số thay đổi liên quan như giảm chức năng thận và thay đổi các thông số huyết học.
*Điều chỉnh liều:
Suy thận: Do cần sự điều chỉnh liều cho từng hoạt chất là khác nhau ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 50 ml/phút, khuyến cáo dùng dạng bào chế riêng cho lamivudin, zidovudin và nevirapin.
Suy gan: Không cần điều chỉnh liều đối với suy gan nhẹ tới trung bình. Thuốc chống chỉ định ở bệnh nhân suy gan nặng.
Các phản ứng ngoại ý trên huyết học: Do cần thay thuốc hoặc giảm liều ziđovudin ở những bệnh nhân có nồng độ haemoglobin hoặc bạch cầu trung tính giảm xuống đến mức có ý nghĩa lâm sàng, khuyến cáo sử dụng đạng đơn thành phần lamivudin, nevirapin va zidovudin (nêu phù hợp).
Ngưng thuốc và tái điểu trị: Cần xem xét đừng điều trị bằng viên nén lamivudin 150 mg + nevirapin 200 mg + zidovudin 300 mg an toàn. Đối với bệnh nhân đã ngưng thuốc trong hơn 2 tuần, nên tái điều trị với các dạng bào chế riêng rẽ lamivudin, nevirapin và zidovudin với liều nevirapin 200 mg x 1 lần/ngày trong vòng 14 ngày, sau đó tăng lên 200 mg x 2 lần/ngày. Chỉ tái điều trị bằng viên nén lamivudin 150 mg + nevirapin 200 mg + zidovudin 300 mg khi bệnh nhân đã điều trị ổn định bằng sự kết hợp 3 hoạt chất này.
4.3. Chống chỉ định:
Bệnh nhân quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc,
Không dùng cho người có lượng bạch cầu trung tính thấp, dưới 0,75 x 10^9/L, hoặc có hemoglobin thấp, dưới 7,5 g/dl.
Bệnh nhân đề kháng thuốc, bị béo phì, bệnh nhân cấy ghép phủ tạng, bệnh viêm tụy, bệnh thần kinh ngoại biên, bệnh gan, thận hư, nhiễm acid lactic, suy thận.
Người bệnh đã phải ngừng dùng nevirapin do bị phản ứng với thuốc (dị ứng nặng biểu hiện ở da có kèm theo các triệu chứng toàn thân, có triệu chứng bị viêm gan do nevirapin), người bệnh có suy gan nặng hoặc người bệnh có nồng độ ALAT hoặc ASAT cao trên 5 lần giá trị bình thường hoặc người bệnh có triệu chứng rối loạn chức năng gan với nồng độ enzym gan tăng trên 5 lần giá trị bình thường trong lần dùng nevirapin trước đó và các rối loạn chức năng này tái xuất hiện nhanh chóng khi dùng lại nevirapin.
Trẻ có cân nặng đưới 25 kg.
4.4 Thận trọng:
Đối với zidovudin:
Với người suy giảm chức năng gan hoặc thận.
Cần giảm liều hoặc điều trị ngắt quãng với người thiếu máu và/hoặc giảm bạch cầu bạt (bạch cầu trung tính dưới 1 x 10^9/lít), bệnh cơ.
Với người có bệnh về máu như giảm bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và thiếu máu nặng cần phải truyền máu.
Với người cao tuổi vì chức năng thận giảm.
Đối với lamivudin:
Nhiễm acid lactic, gan to và nhiễm mỡ nặng: Nhiễm acid lactic và gan to nhiễm mỡ nặng (đôi khi gây tử vong) đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng lamivudin. Thường gặp nhất ở phụ nữ, béo phì và dùng các thuốc giống nucleosid (NRTI) dài hạn có thể là yếu tố nguy cơ. Cũng có báo cáo ở bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ đã biết.
Cần thận trọng ở bệnh nhân có nguy cơ đã biết về bệnh gan.
Ngưng thuốc nếu có dấu hiện lâm sàng hoặc xét nghiệm cho thấy nhiễm acid lactic hoặc độc tính gan rõ ràng (ví dụ, gan to và gan nhiễm mỡ thậm chí ngay cả trong trường hợp không có sự gia tăng rõ rệt nồng độ aminotransferase huyết thanh).
Không dùng lamivudin cùng với emtricitabin hoặc các chế phẩm có chứa emtricitabin.
Tác dụng tạo mỡ: Có thể xảy ra tái phân bố hoặc tích lũy mỡ, bao gồm béo phì trung tâm, tăng đệm mỡ sau vai (gù trâu), gầy lớp mỡ ngoại biên (peripheral wasting), nở ngực và xuất hiện hội chứng Cushing nói chung.
Hội chứng phục hồi miễn dịch: Khi khởi đầu điều trị, bệnh nhân có thể có phản ứng viêm do nhiễm trùng cơ hội tiến triển chậm hoặc tồn dư (ví dụ, Mycobacteriun avium complex [MAC], M.tuberculosis, cytomegalovirus [CMV], Pneumocystis jiroveci [formerly P. carinii]; mà có thể cần phải đánh giá và điều trị.
Viêm tụy, đôi khi dẫn tới tử vong, đã được báo cáo ở bệnh nhân nhi nhiễm HIV đã dùng các thuốc kháng retrovirus dạng nueleosid. Cần thận trọng ở bệnh nhi đã tiếp xúc với thuốc kháng retrovirus dạng nucleosid trước đây. Dừng thuốc nếu có triệu chứng, dấu hiệu hoặc bất thường trong các xét nghiệm mà có nghi ngờ có viêm tụy.
Đối với nevirapin:
Phải hết sức thận trọng khi dừng nevirapin cho người bệnh bị suy gan nhẹ hoặc vừa; người bệnh bị suy thận.
Phụ nữ và người bệnh có số lượng tế bào CD4+ cao (nữ có CD4 > 250 tế bào/ml và nam > 400 tế bào/ ml) dễ bị nguy cơ gan nhiễm độc. Phải giám sát chức năng gan cách 2 tuần 1 lần trong 2 tháng đầu điều trị, làm lại vào lúc 3 tháng và sau đó cách 3 – 6 tháng 1 lần. Phải ngừng ngay nevirapin nếu thấy các triệu chứng bất thường vừa hoặc nặng của gan.
Nevirapin không có tác dụng chống lây nhiễm virus HIV từ người nhiễm bệnh sang người khác. Bởi vậy người bệnh được điều trị bằng nevirapin vẫn phải áp dụng các biện pháp thích hợp để tránh lây nhiễm virus sang người khác (không cho máu, sử dụng bao cao su …).
Trong 8 tuần đầu điều trị, phải theo dõi chặt các phản ứng nặng ở da. Nếu có, phải ngừng thuốc ngay.
Thận trọng chung:
Thận trọng khi chỉ định viên nén kết hợp liều cố định lamivudin/zidovudin/nevirapin cho bệnh nhân bị bệnh gan hay bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ bị bệnh gan.
Cần phải giảm liều của cả zidovudin và lamivudin ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <50 ml/phút. Vì thế, lamivudin/zidovudin/nevirapin không được dùng cho bệnh nhân suy thận.
Không có dữ liệu nghiên cứu cho bệnh nhân suy giảm chức năng thận hoặc đang bị thẩm tách.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa có báo cáo liên quan. Tuy nhiên thuốc có thể gây tác dụng phụ buồn ngủ, nhức đầu, chóng mặt do đó nên thận trọng khi lái xe và vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: NA
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
Không có báo cáo về tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh đối với lamivudin, zidovudin hay nevirapin. Tuy nhiên, không thể loại trừ nguy cơ trên thai nhi.
Thời kỳ cho con bú:
Thuốc được bài tiết vào sữa mẹ. Do nguy cơ truyền HIV từ mẹ sang con và các phản ứng ngoại ý do lamivudin và zidovudin trên trẻ bú mẹ, phụ nữ nhiễm HIV không nên cho con bú
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Nhức đầu, khó chịu, mệt mỏi, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, biếng ăn, đau bụng, bị chuột rút và khó tiêu.
Nhiễm acid lactic, chứng gan to và gan nhiễm mỡ, viêm gan tái phát khi ngưng trị liệu.
Trên đường hô hấp: ho, chảy nước mũi và sung huyết mũi.
Bệnh lý thần kinh ngoại biên như chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn giấc ngủ, trầm cảm.
Đau khớp, đau cơ, đau nhức cơ xương và bị rụng tóc.
Huyết học: giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu, giảm tiểu cầu.
Cảm lạnh hay sốt.
Viêm tụy ở trẻ em bị nhiễm HIV, tăng men gan, phát ban da, hội chứng loạn dưỡng lipid, chứng vú to ở phái nam và biếu hiện như bệnh phát phì.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Liên quan với lamivudin:
Nồng độ zidovudin trong huyết tương tăng lên đáng kể (khoảng 39%) khi dùng kết hợp với lamivudin.
Trimethoprim/sulfamethoxazol làm tăng sinh khả dụng của lamivudin (44%) thể hiện qua trị số đo diện tích dưới đường cong nồng độ – thời gian (AUC), và làm giảm độ thanh thải qua thận (30%).
Mặc dù AUC không bị ảnh hưởng nhiều, sự hấp thu lamivudin bị chậm lại và nồng độ đỉnh huyết tương thấp hơn 40% khi cho người bệnh uống thuốc lúc no so với khi uống thuốc lúc đói.
Liên quan với zidovudin
Thuốc làm giảm chuyển hóa zidovudin: Atovaquon, methadon, probenecid, acid valproic.
Thuốc làm giảm bài tiết zidovudin qua thận: Dapson, pentamidin và amphotericin B.
Dùng đồng thời với những thuốc độc với thận, độc với tế bào hoặc thuốc gây suy tủy như: Dapson, pyrimethamin, ganciclovir, flucytosin, ribavirin, interferon, vincristin, vinblastin, doxorubicin sẽ làm tăng nguy cơ phản ứng có hại.
Dùng đồng thời với paracetamol làm tăng tai biến về máu, tăng nguy cơ thiếu máu, giảm bạch cầu/trung tính, đặc biệt khi dùng thời gian dài, có thể do giảm chuyển hóa zidovudin.
Liên quan với nevirapin:
Nevirapin làm nồng độ các thuốc ức chế protease của HIV như indinavir, saquinavir giảm thấp hơn mức có tác dụng nhưng các chất ức chế protease không ảnh hưởng lên dược động học của nevirapin, không cần điều chỉnh liều khi dùng kết hợp nevirapin với các thuốc này.
Cimetidin làm tăng nồng độ nevirapin. Có thể cần phải điều chỉnh liều.
Nevirapin làm giảm nồng độ thuốc tránh thai uống có chứa estrogen. Cần chọn biện pháp tránh thai khác cho phụ nữ dùng nevirapin.
Nevirapin dùng đồng thời với ketoconazol làm giảm nồng độ ketoconazol, làm tăng vừa nồng độ nevirapin. Không nên dùng đồng thời hai thuốc này.
Các thuốc kháng sinh macrolid làm tăng nồng độ nevirapin. Có thể phải điều chỉnh liều.
Nevirapin làm giảm nồng độ methadon. Cần theo dõi người bệnh đang dùng methadon bắt đầu uống nevirapin, có thể phải điều chỉnh liều methadon ở người bệnh này.
Prednison làm tăng tỷ lệ bị phát ban trong 6 tuần đầu dùng nevirapin. Không nên kết hợp hai thuốc này.
Rifabutin làm tăng chuyển hóa nên làm giảm nồng độ của nevirapin xuống khoảng 16%; ngược lại, nevirapin làm chuyển hóa của rifabutin bị chậm lại và làm tăng nồng độ rifabutin. Cần điều chỉnh liều khi kết hợp hai thuốc này.
Rifampicin làm giảm nồng độ nevirapin xuống khoảng 37% dưới mức có tác dụng; ngược lại, nevirapin làm chuyển hóa của rifampicin bị chậm lại và làm tăng nồng độ rifampicin nên làm tăng độc tính của rifampicin. Chỉ kết hợp hai thuốc này nếu thật cần thiết và phải theo dõi chặt chẽ. Trong điều trị đồng nhiễm HIV và lao nên dùng kết hợp rifabutin và nevirapin.
Chế phẩm từ Cỏ ban làm giảm nồng độ nevirapin xuống dưới mức có tác dụng và làm virus tăng kháng thuốc. Không nên kết hợp các chế phẩm này với nevirapin.
4.9 Quá liều và xử trí:
Lamivudin
Có rất ít thông tin về quá liều, mặc dù khi quá liều, không thấy có dấu hiệu lâm sàng hoặc triệu chứng, mặt khác xét nghiệm máu vẫn bình thường. Không có thuốc giải độc. Không biết rõ lamivudin có bị loại trừ bằng thẩm tách màng bụng hoặc thẩm tách máu hay không.
Zidovudin
Những trường hợp quá liều cấp cả ở trẻ em lẫn người lớn, đã được thông báo ở mức liều lên tới 50 g.
Triệu chứng: Buồn nôn, nôn. Thay đổi về máu thường là nhất thời và không nặng. Một số người bệnh có những triệu chứng thần kinh trung ương không đặc hiệu như nhức đầu, chóng mặt, ngủ lơ mơ, ngủ lịm và lú lẫn.
Xử trí: Rửa dạ dày trong vòng 1 giờ hoặc cho dùng than hoạt
Điều trị hỗ trợ: Truyền máu, dùng vitamin B12 giúp cho phòng thiếu máu, có thể điều trị co giật bằng diazepam hoặc lorazepam.
Tăng thải trừ: Dùng nhiều liều than hoạt có thể có hiệu quả. Thẩm tách máu có thể loại được các chất chuyển hóa nhưng không có hiệu quả với zidovudin và nói chung không phải là cách thường dùng.
Nevirapin
Trong một số trường hợp quá liều, dùng liều từ 800 – 1800 mg/ngày trong vòng 15 ngày đã có những biểu hiện sau: Phù, hồng ban nút, suy nhược, sốt, nhức đầu, mất ngủ, buồn nôn, nổi ban da, chóng mặt, nôn, sút cân, thâm nhiễm phổi. Các triệu chứng trên giảm dần rồi mất khi ngưng thuốc.
Không có thuốc đặc trị quá liều. Điều trị triệu chứng.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Lamivudin
Lamivudin là 1 thuốc tổng hợp kháng retrovirus, thuộc nhóm dideoxynucleosid ức chế enzym phiên mã ngược của virus. Để có tác dụng lamivudin phải được enzym tế bào phosphoryl hóa và biến đổi thành một chất chuyển hóa có hoạt tính, chất chuyển hóa 5’ – triphosphat. Chất chuyển hóa này có cấu trúc tương tự deoxycytidin triphosphat là cơ chất tự nhiên cho enzym phiên mã ngược. Thuốc có hoạt tính cạnh tranh với deoxycytidin triphosphat tự nhiên để hợp nhất vào DNA của virus bởi enzym phiên mã ngược, gây kết thúc sớm tổng hợp DNA của virus. Lamivudin có độc tính rất thấp đối với tế bào.
Lamivudin có hoạt tính kìm virus HIV typ 1 và 2 (HIV – 1, HIV- 2), và cũng có tác dụng ức chế virus viêm gan B ở người bệnh mạn tính. Tuy được dung nạp tốt, nhưng không được dùng lamivudin đơn độc, vì dễ sinh kháng thuốc. Sự kháng này do đột biến về enzym phiên mã ngược, làm giảm tính nhạy cảm hơn 100 lần và làm mất tác dụng kháng virus trên người bệnh. Liệu pháp phối hợp lamivudin và zidovudin ở người bệnh chưa được điều trị trước đây, làm giảm khoảng 10 lần mật độ virus trong huyết tương, tác dụng kéo dài hơn l năm, mặc dù có sự đột biến của enzym phiên mã ngược.
Cách dùng thuốc kháng retrovirus: Trong liệu pháp kháng retrovirus, thuốc chọn lọc là những thuốc tương tự nucleosid. Hiện nay chưa biết rõ lúc nào là thời điểm tốt nhất để bắt đầu điều trị với thuốc kháng retrovirus. Liệu pháp kháng retrovirus cũng làm tăng thời gian sống sót ở người bệnh có số lượng tế bào CD4 dưới 500 trong 1mm3. Liệu pháp này cũng có thể dùng cho những người bệnh có mật độ HIV trên 30.000/ml huyết tương, không phụ thuộc vào số lượng tế bào CD4, vì mật độ HIV là một yếu tố tiên lượng sự tiến triển của bệnh. Mật độ virus cao hơn dẫn đến giảm tế bào CD4 nhanh hơn. Mục tiêu điều trị là đạt mật độ HIV ở mức không thể phát hiện được. Liệu pháp chuẩn hiện nay gồm 2 thuốc tương tự nucleosid kháng retrovirus, cùng với một thuốc ức chế protease. Sự tuân thủ điều trị có tính quyết định cho hiệu lực duy trì của thuốc.
Người bệnh điều trị không có kết quả (tăng gấp 3 lần mật độ virus, hoặc giảm số lượng tế bào CD4, hoặc tiến triển thành bệnh AIDS) phải chuyển sang dùng một kết hợp thuốc kháng retrovirus khác.
Phải lựa chọn kết hợp thuốc mới sao cho nguy cơ kháng chéo với những thuốc đã dùng là tối thiểu.
Khi liệu pháp cũ không có tác dụng cần cho thêm thuốc mới, nguyên tắc là cho thêm không chỉ một thuốc, mà kết hợp 2 thuốc mới.
Xem xét nguy cơ của tương tác thuốc khi điều trị với các thuốc kháng retrovirus.
Zidovudin
Zidovudin (azidothymidin, AZT) là một chất tương tự thymidin có tác dụng ức chế in vitro sự sao chép của các retrovirus, bao gồm cả virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Thuốc được chuyển thành zidovudin monophosphat bởi thymidin kinase của tế bào, rồi sau cùng thành zidovudin triphosphat nhờ một số enzym khác của tế bào. Dạng này tác dụng trên polymerase DNA của virus (enzym phiên mã ngược) bằng cách cạnh tranh với các deoxynucleosid khác của tế bào và bằng cách tác dụng như một chất kết thúc chuỗi tổng hợp DNA.
Sự ức chế cạnh tranh enzym phiên mã ngược của retrovirus (HIV) mạnh hơn gấp 100 lần so với sự ức chế polymerase DNA của tế bào.
Kháng thuốc: Một số chủng HIV phân lập từ người bệnh điều trị bằng zidovudin đã thấy giảm nhạy cảm với zidovudin in vitro.
Phân tích di truyền học các chủng cho thấy có đột biến dẫn đến thay thế 5 amino acid trong enzym phiên mã ngược của virus. Hiện tượng kháng thuốc này là một nguy cơ cần phải xem xét để sử dụng zidovudin hợp lý.
Tiềm năng kháng chéo giữa các chất ức chế enzym phiên mã ngược của HIV và các chất ức chế protease thường thấp, vì những thuốc này tác dụng trên những enzym đích khác nhau.
Phối hợp điều trị zidovudin với zalcitabin hoặc didanosin cũng không ngăn chặn được các chủng kháng zidovudin.
Nevirapin:
Nevirapin là thuốc ức chế enzym phiên mã ngược của HIV-1, không nucleosid. Thuốc gắn trực tiếp vào enzym phiên mã ngược của HIV-1, ức chế không cạnh tranh nhưng đặc hiệu với enzym phiên mã ngược của HIV-1, nên làm giảm sự phát triển virus của HIV-1. Thuốc không gắn được vào enzym phiên mã ngược của HIV-2 nên không có tác dụng trên HIV-2.
Nevirapin gắn trực tiếp vào enzym polymerase phiên mã ngược của HIV-1; tuy không gắn trực tiếp vào vị trí xúc tác của enzym nhưng có tác dụng ngăn chặn các hoạt tính của ADN polymerase phụ thuộc ARN và ADN bằng cách làm rối loạn vị trí xúc tác của enzym này, do đó cản trở sự nhân lên của virus. Thuốc không cạnh tranh với khuôn di truyền hoặc với nucleosid triphosphat. Thuốc không ức chế enzym ADN polymerase alpha, beta, gamma hoặc delta của tế bào bình thường ở người, nên ít gây tác dụng độc lên tế bào.
Thuốc được sử dụng để điều trị nhiễm HIV-1, nhưng nếu chỉ được dùng đơn độc thì virus sẽ nhanh chóng kháng thuốc; đã thấy có hiện tượng kháng chéo giữa nevirapin và thuốc kháng virus không nucleosid ức chế enzym phiên mã ngược khác như delavirdin, efavirenz. Bởi vậy nevirapin được sử dụng kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác. Nevirapin có tác dụng hiệp đồng với các nucleosid ức chế enzym phiên mã ngược (abacavrr, didanosin, lamivudin, zidovudin, zidovudin) hoặc với các thuốc ức chế protease (indinavir, saquinavir).
Đáp ứng điều trị phụ thuộc vào lượng ARN virus có trong huyết tương sau những tháng điều trị đầu tiên. Lượng tế bào CD4 không có ý nghĩa tiên đoán đáp ứng điều trị; bởi vậy, trị liệu cần căn cứ vào xét nghiệm ARN của HIV và cả CD4 cũng như tình trạng lâm sàng.
Cơ chế tác dụng:
Lamivudin:
Lamivudin là dẫn chất nucleosid tổng hợp. Trong tế bào, lamivudin bị phosphoryl hóa thành chất chuyển hóa có hoạt tính 5′-triphosphat, lamivudin triphosphat (L-TP). Hoạt tính chính của L-TP là ức chế men sao chép ngược (RT) thông qua việc kết thúc chuỗi DNA sau khi gắn kết vào chuỗi nucleosid. L-TP ức chế yếu DNA polymerase-α và β ở động vật có vú và DNA polymerase-γ ở ty lạp thể.
Nevirapin:
Nevirapin là chất ức chế men sao chép ngược không phải nucleosid (NNRTI) của HIV-1. Nevirapin kết hợp trực tiếp với men ức chế sao chép ngược và ngăn chặn hoạt động của men polymerase phụ thuộc RNA và DNA, làm phá vỡ vị trí xúc tác của các men đó. Hoạt tính của nevirapin không hoàn toàn với dạng nguyên thể hoặc nucleosid triphosphat. Men sao chép ngược của HIV-2 và chuỗi DNA polymerase của tế bào nhân thật (như DNA polymerase-α, β, γ và δ ở người) không bị ức chế bởi nevirapin.
Zidovudin:
Zidovudin là dẫn chất nucleosid tổng hợp. Trong tế bào, zidovudin bị phosphoryl hóa thành chất chuyển hóa có hoạt tính 5′-triphosphat, zidovudin-triphosphat (ZDV-TP). Hoạt tính chính của ZDV-TP là ức chế sao chép ngược qua mã kết thúc DNA sau quá trình tổng hợp nucleosid. ZDV-TP ức chế yếu DNA polymerase-a của động vật có vú và DNA polymerase-γ của ty lạp thể và gắn kết vào DNA của tế bào vi khuẩn cấy.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Lamivudin
Sau khi uống, lamivudin hấp thu nhanh với sinh khả dụng khoảng 80%. Sau khi tiêm tĩnh mạch, thể tích phân bố là 1,3 ± 0,4 lít/kg. Tỷ lệ gắn với protein huyết tương thấp (< 36%). 5 – 6% thuốc được chuyển hóa thành chất trans – sulfoxyd. Nửa đời thải trừ trong huyết tương trung bình là 2,5 giờ và khoảng 70% của liều được thải trừ không thay đổi trong nước tiểu. Nửa đời của lamivudin triphosphat trong tế bào kéo dài, trung bình trên 10 giờ trong tế bào lympho ở máu ngoại biên. Độ thanh thải toàn bộ là 0,37 ± 0,05 lit/giờ/kg.
Zidovudin
Zidovudin được hấp thu qua đường tiêu hóa. Khả dụng sinh học đường uống từ 60 – 70% và có thể bị giảm khi ăn nhiều chất béo. Nồng độ đỉnh huyết thanh xấp xỉ 1,2 mg/lít trong vòng 0,5 – 1,5 giờ sau khi uống liều 250 mg.
Từ 34 – 38% thuốc liên kết với protein; Thể tích phân bố khoảng 1,6 ± 0,6 lít/kg và thấm đáng kể vào dịch não tủy (bằng 60% nồng độ trong huyết tương) sau khi dùng liều uống nhắc lại 5 mg/kg.
Zidovudin chuyển hóa nhanh ở gan thành dẫn xuất glucuronid không hoạt tính. Ở người bệnh xơ gan, chuyển hóa thuốc bị giảm, diện tích dưới đường cong và nửa đời thải trừ tăng lên. Thuốc được bài tiết qua nước tiểu sau khi uống. Khoảng 70% liều uống (40-60% liều tiêm truyền) được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng chuyển hóa và 10 – 20% (15- 30% liều tiềm truyền) dưới dạng không đổi. Độ thanh thải thận 0,2 – 0,3 lít/kg/giờ. Sự bài tiết giảm ở người rối loạn chức năng thận; thẩm tách máu có thể loại được glucuronid zidovudin nhưng không loại được zidovudin.
Nửa đời của thuốc là 1,1 ± 0,2 giờ; 1,4 – 2,1 giờ ở người bệnh urê huyết cao; 2,4 giờ ở người bệnh xơ gan.
Có thể có nguy cơ tích lũy zidovudin và gây phản ứng có hại cả ở người suy thận và người có bệnh gan.
Nevirapin
Nevirapin được dùng theo đường uống. Thuốc được hấp thu nhanh khi được uống vào lúc no cũng như lúc đói. Sinh khả dụng của thuốc trên 90%. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau khi uống 4 giờ. Lượng thuốc gắn vào protein huyết tương vào khoảng 60%. Nevirapin ưa mỡ, không bị ion hóa ở pH sinh lý và được phân bố rộng. Thể tích phân bố là 1,21 lit/kg. Nồng độ thuốc trong dịch não tủy vào khoảng 45% nồng độ trong huyết tương. nevirapin qua nhau thai và có cả trong sữa.
Thuốc được chuyển hóa mạnh ở gan, chủ yếu bởi các isoenzym thuộc họ CYP3A của cytochrom P450. Sự tự kích hoạt của các enzym làm tăng độ thanh thải lên 1,5- 2 lần sau 2- 4 tuần uống thuốc với liều thường dùng và cũng trong khoảng thời gian trên làm giảm nửa đời cuối cùng của thuốc từ 45 giờ xuống còn 25 đến 30 giờ. Ở trẻ em, nửa đời trong giai đoạn ổn định thay đổi theo tuổi: 32 giờ ở trẻ dưới 1 tuổi; 21 giờ ở trẻ từ 1 đến 4 tuổi; 18 giờ ở trẻ 4 – 8 tuổi; 28 giờ ở trẻ trên 8 tuổi. Nếu điều chỉnh theo cân nặng, độ thanh thải cũng thay đổi theo tuổi và độ thanh thải ở trẻ dưới 8 tuổi gấp đôi ở người lớn. Nevirapin được đảo thải chủ yếu theo nước tiểu (91%) dưới dạng các chất chuyển hóa hydroxyl của thuốc được liên hợp với acid glycuronic thành glucuronid; khoảng 10% được đào thải theo phân.
Tổn thương chức năng thận: Suy thận từ nhẹ đến nặng không gây biến đổi nhiều về dược động học. Tuy nhiên ở suy thận giai đoạn cuối, cần phải làm thẩm phân, có thể phải điều chỉnh liều.
Tổn thương chức năng gan: Suy gan nhẹ và vừa không cần điều chỉnh liều. Nếu suy gan nặng, có nguy cơ tích lũy thuốc trong cơ thể. Người cao tuổi (trên 65 tuổi) chưa được nghiên cứu.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tả dược: lactose monohydrat, cellulose vi tinh thé (RQ 101), natri starch glycolat, silic dioxid keo, povidon, cellulose vi tinh thé (RQ 102), magnesi stearat, Opadry white (13B58802).
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
HDSD Thuốc Lamivudine 150mg, Zidovudine 300mg & Nevirapine 200mg Tablets do Macleods Pharmaceuticals Ltd. sản xuất (2016).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM