Lamivudine (3TC) – Lamivudine Macleods

Thuốc Lamivudine Tablets Macleods là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Lamivudine Tablets Macleods (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Lamivudine (3TC)

Phân loại: Thuốc kháng virus.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J05AF05.

Biệt dược gốc: Zeffix

Biệt dược: Lamivudine Tablets

Hãng sản xuất : Macleods Pharmaceuticals Ltd.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén: 150 mg.

Thuốc tham khảo:

LAMIVUDINE TABLETS 150mg
Mỗi viên nén có chứa:
Lamivudine …………………………. 150 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Lamivudin được chỉ định kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác để điều trị nhiễm virus HIV ở người lớn và trẻ em.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường uống.

Phải dùng lamivudin kết hợp với ít nhất một thuốc kháng retrovirus trong điều trị nhiễm virus HIV, thường kết hợp với zidovudin hoặc stavudin

Lamivudin và chế phẩm kết hợp cố định chứa lamivudin và zidovudine được dùng uống, không cần lưu ý đến các bữa ăn. Với người bệnh điều trị bằng thuốc kháng retrovirus, phải đánh giá liên tục độc tính và tiến triển của bệnh, và thực hiện những thay đổi trong cách dùng thuốc khi có chỉ định. Thời gian có hiệu quả của một kết hợp thuốc kháng retrovirus có thể bị hạn chế, và cần phải xác định, định kỳ đều đặn, mức RNA của HIV-1 và số lượng tế bào TCD4+, để xác định nguy cơ tiến triển của bệnh và để quyết định thay đổi chế độ dùng thuốc kháng retrovirus nếu cần. Duy trì liều lượng tối ưu có tính quyết định để tránh hoạt tính kháng retrovirus dưới mức tối ưu.

Liều dùng:

Liều lượng thuốc kháng retrovirus dựa trên thể trọng và tuổi của người bệnh.

Người lớn và thiếu niên 12 tuổi trở lên: 150 mg lamivudin và 300 mg zidovudin cách 12 giờ một lần cho người cân nặng 50 kg trở lên.

Dạng bào chế này không phù hợp chia liều cho người cân nặng dưới 50 kg thể trọng.

Trẻ dưới 12 tuổi: Dạng bào chế này không phù hợp chia liều cho trẻ dưới 12 tuổi

Liều lương cho người suy giảm chức năng thận: Phải giảm liều ở người bệnh 16 tuổi trở lên có độ thanh thải Creatinin giảm. Ảnh hưởng của suy thận trên thải trừ lamivudin ở trẻ em và thiếu niên dưới 16 tuổi chưa được biết rõ, nên hiện nay chưa có chỉ dẫn về liều cho người bệnh ở nhóm tuổi này có độ thanh thải Creatinin giảm.

Bảng điều chỉnh liều dùng theo độ thanh thải Creatinin:

Độ thanh thải creatinin (ml/phút) Liều dùng lamivudin (cho người 16 tuổi trở lên)
>50 100mg, mỗi ngày 1 lần.
30 – 49 150 mg, ngày 1 lần
15 – 29 Ngày đầu tiên 150 mg, ngày 1 lần; rồi những ngày sau 100 mg, ngày 1 lần.
5 – 14 Ngày đầu tiên 150 mg, rồi những ngày sau 50 mg, ngày 1 lần.
< 5 Ngày đầu tiên 50 mg, rồi những ngày sau 25 mg, ngày 1 lần.

Với những liều nhỏ hơn 150 mg của dạng bào chế này, có thể dùng các loại hàm lượng khác thích hợp hơn (như dạng viên nén 100 mg hoặc dạng dung dịch uống,…) để đảm bảo liều dùng.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với lamivudin hay bất cứ thành phần nào của thuốc

Bệnh thận nặng.

Phụ nữ cho con bú.

4.4 Thận trọng:

Không khuyến cáo dùng lamivudin để điều trị đơn độc.

Nên tư vấn rõ để bệnh nhân biết là các liệu pháp điều trị kháng retrovirus đang được áp dụng, kể cả lamivudin, không được chứng minh là có khả năng phòng ngừa được nguy cơ lây truyền virus HIV cho người khác qua quan hệ tình dục hay truyền máu. cần tiếp tục sử dụng các biện pháp phòng ngừa thích hợp.

Những bệnh nhân đang điều trị với lamivudin hoặc với bất kỳ thuốc kháng retrovirus khác vẫn có thể bị nhiễm khuẩn cơ hội và các biến chứng khác của nhiễm HIV, và do đó những bệnh nhân này nên được theo dõi chặt chẽ về lâm sàng bởi các bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị bệnh liên quan tới nhiễm HIV.

Suy thận

Bệnh nhân suy thận từ vừa đến nặng có nồng độ lamivudin trong huyết tương tăng do độ thanh thải giảm, vì thế nên điều chỉnh liều ở bệnh nhân bị suy thận.

Viêm tụy

Các trường hợp viêm tụy đã xuất hiện ở một số bệnh nhân dùng lamivudin. Tuy nhiên, hiện chưa rõ liệu những trường hợp này là do điều trị với lamivudin hay do bị nhiễm HIV tiềm ẩn. Nên xem xét khả năng bị bệnh viêm tụy khi bệnh nhân đau bụng, buồn nôn, nôn hoặc dấu ấn sinh học tăng cao. Ngưng sử dụng lamivudin cho đến khi đã loại trừ bệnh viêm tụy.

Nhiễm toan lactic và gan to kèm theo nhiễm mỡ trầm trọng

Nhiễm toan lactic và gan to có kèm theo nhiễm mỡ, kể cả những trường hợp có thể dẫn đến tử vong, đã được báo cáo khi dùng thuốc là đồng đẳng nucleoside thuộc nhóm thuốc kháng retrovirus dạng riêng rẽ hoặc phối hợp, kể cả lamivudin. Phần lớn những trường hợp này xảy ra ở phụ nữ.

Những triệu chứng lâm sàng có thể cho thấy tiến triển của nhiễm toan lactic bao gồm suy nhược, chán ăn, sụt cân đột ngột không rõ nguyên nhân, các triệu chứng tiêu hóa và các triệu chứng hô hấp (khó thở và thở nhanh).

Cần thận trọng khi dùng lamivudin cho bất kỳ bệnh nhân nào, đặc biệt là ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ rõ ràng khác của bệnh gan. [Pharmog].Nên ngừng điều trị nếu bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng nhiễm toan lactic hay nhiễm độc gan (bao gồm gan to và nhiễm mỡ ngay cả khi không tăng transaminase đáng kể).

Tái phân bố mỡ/loạn dưỡng mỡ

Tái phân bố mỡ/tích tụ mỡ trong cơ thể gồm béo bụng, tăng tích tụ mỡ ở cổ-lưng (bướu trâu), tay chân khẳng khiu, mặt hốc hác, tích tụ mỡ ở ngực, tăng lượng lipid huyết thanh và hàm lượng đường trong máu đã được quan sát xuất hiện riêng lẽ hay đồng thời trên một vài bệnh nhân dùng trị liệu kháng retrovirus.

Có giả thuyết rằng có mối liên hệ giữa tình trạng tích mỡ nội tạng với các chất ức chế protease (PIs) và tình trạng teo mô mỡ với các chất ức chế men sao chép ngược nucleoside (NRTIs). Ngoài ra, hội chứng loạn dưỡng mỡ có liên quan đến nhiều yếu tố như tỉnh trạng bệnh nhiễm HIV, tuổi cao và thời gian điều trị với thuốc kháng retrovirus, tất cả những yếu tố này đều giữ vai trò quan trọng, có thể là tương tác hiệp đồng lẫn nhau.

Hậu quả lâu dài của những tình trạng này vẫn chưa được biết.

Kiểm tra lâm sàng nên bao gồm việc đánh giá các dấu hiệu cơ thể về tái phân bố mỡ. Cần xem xét đánh giá lipid huyết thanh, đường huyết và kiểm soát rối loạn lipid lâm sàng thích hợp.

Hội chứng phục hồi miễn dịch

Ở bệnh nhân bị nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nghiêm trọng ở thời điểm khởi đầu điều trị bằng liệu pháp kháng retrovirus (ART), phản ứng viêm không đau hay nhiễm khuẩn cơ hội tiềm ẩn có thể xuất hiện và là nguyên nhân gây ra các tình trạng lâm sàng nghiêm trọng hay làm trầm trọng thêm các triệu chứng đã có. Đặc biệt, những phản ứng như vậy được quan sát trong vài tuần hay tháng đầu tiên của quá trình trị liệu với ART. Những ví dụ cùa phán ứng này là viêm võng mạc do nhiễm cytomegalovirus, nhiễm mycobacterial rộng và/hay khu trú và viêm phổi do Pneumocystis jiroveci (P. carinii). Bất kỳ triệu chứng viêm cũng phải được đánh giá và điều trị khi cần thiết.

Bệnh nhân đồng nhiễm HIV và virus gây viêm gan B

Điều trị với lamivudin trên bệnh nhân bị viêm gan B mạn tính (HBV) có thể gặp triệu chứng lâm sàng hoặc xét nghiệm viêm gan tái phát sau khi ngưng dùng lamivudin, và có thê gây ra những hậu quả nghiêm trọng hom đối với bệnh nhân bị xơ gan cổ trướng (xơ gan mất bù). Nếu ngừng uổng lamivudin ở bệnh nhân bị nhiễm đồng thời virus HIV và HBV, nên giám sát định kỳ các kiểm tra chức năng gan và các marker cho sự sao chép của HBV.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Hiện vẫn chưa có những nghiên cứu về ảnh hưởng của lamivudin lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, lamivudin có thể gây ra nhũmg tác dụng không mong muốn như đau đầu, chóng mặt…, vì vậy cần thận trọng khi lái xe và vận hành máy móc sau khi dùng thuốc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Phân loại mức độ C: Chưa có nghiên cứu và kiểm soát đầy đủ về việc dùng lamivudin ở phụ nữ mang thai. Chi nên sử dụng lamivudin khi lợi ích cho mẹ lớn hơn nguy cơ tiềm ẩn cho thai.

Thời kỳ cho con bú:

Có khả năng xảy ra phản ứng không mong muốn nghiêm trọng ở trẻ nhỏ bú sữa và nguy cơ lây nhiễm HIV. Do vậy, người mẹ bị nhiễm HIV-1 đang dùng lamivudin không nuôi con bằng sữa mẹ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Thường gặp, ADR > 1/100:

Thần kinh trung ương: nhức đầu, mất ngủ, khó chịu, mệt mỏi, đau, chóng mặt, trầm cảm, sốt, rét run.

Tiêu hóa: buồn nôn, nôn, tiêu chảy, chán ăn, đau bụng, khó tiêu, tăng amylase.

Thần kinh – cơ và xương: bệnh dây thần kinh ngoại biên, dị cảm, đau cơ, đau khớp.

Hô hấp: dấu hiệu và triệu chứng ở mũi, ho.

Da: ban.

Huyết học: giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu.

Gan: tăng AST, ALT.

Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100:

Tiêu hóa: viêm tụy.

Huyết học: giảm tiểu cầu.

Gan: tăng bilirubin huyết.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Phải ngừng lamivudin ngay nếu có những dấu hiệu lâm sàng, triệu chứng, hoặc kết quả xét nghiệm cho thấy có thể xảy ra viêm tụy.

Phải ngừng lamivudin ngay nếu có những dấu hiệu lâm sàng, triệu chứng, hoặc kết quả xét nghiệm cho thấy nhiễm toan lactic, hoặc bị độc lên gan (gan to, tích mỡ, ngay cả khi transaminase tăng không cao lắm).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Các thuốc chống sự xâm nhập vào tế bào và chống hòa màng của virus HIV (enfuvirtid, maravioc): Có tác dụng hiệp đồng với lamivudin kháng HIV-1.

Các thuốc ức chế integrase của HIV (raltenavir): Không ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng lên dược động học của lamivudin.

Các thuốc ức chế protease HIV (amprenavir/fosamprenavir, nelfinavir, ritonavir, saquinavir, tipranavir): Có tác dụng hiệp đồng (in vitro) với lamivudin. Không có bằng chứng có sự đối kháng giữa lamivudin và atazanavir hoặc darunavir. Không rõ có tương tác về mặt dược động học giữa darunavir được tăng cường bằng ritonavir và lamivudin. Không rõ có tương tác về mặt dược động học giữa chế phấm kết hợp có lopinavir và ritonavir với lamivudin khi được dùng đồng thời. Nồng độ đỉnh huyết tương và AUC của lamivudin tăng khi dùng đồng thời với nelfinavir; tuy nhiên điều này không có ý nghĩa lâm sàng và không cần phải chỉnh liều. Dùng đồng thời tipanavir được tăng cường bằng ritonavir không ảnh hưởng lên dược động học của lamivudin.

Các thuốc ức chế enzym phiên mã ngược không phải nucleosid (delavirdin, efavirenz, nevirapin): Có tác dụng hiệp đồng với lamivudin lên HIV-1. Không cần phải điều chỉnh liều khi dùng đồng thời efavirenz và lamivudin. Không có tương tác dược động học khi dùng đồng thời lamivudin và rilpivirin.

Các nucleosid và nucleotid ức chế enzym phiên mã ngược (abacavir, emtricitabin, stavudin, tenofovir, zidovudin): Nồng độ zidovudin trong huyết tương tăng lên khoảng 13%) khi dùng kết hợp với lamivudin nhưng không cần phải chỉnh liều khi dùng đồng thời. Abacavir, satavudin làm giảm AUC của lamivudin nhưng không có ý nghĩa lâm sàng. Tenofovir làm giảm 24% nồng độ đỉnh huyết tương của lamivudin. Không dùng đồng thời lamivudin và emtricitabin (emtricitabin là chất tương tự lamivudin, dùng đồng thời không có lợi ích vì 2 thuốc bị kháng như nhau và không có tác dụng tăng cường lẫn nhau). Không dùng đồng thời lamivudin và zalcitabin vì lamivudin ức chế mạnh sự phosphoryl hóa zalcitabin ở bên trong tế bào.

Interferon và peginterferon: Dùng đồng thời thuốc kháng retrovirus (có hoặc không có ribavirin) và interferon alpha (hoặc peginterferon alpha) cho người đồng thời có HIV và HCV có thể gây suy gan gây tử vong. Phải theo dõi chặt chẽ người bệnh dùng đồng thời lamivudin và interferon alpha (hoặc peginterferon alpha) có hoặc không có ribavirin về độc tính, nhất là suy gan và phải ngừng thuốc nếu cần. Nếu tình trạng bị độc xấu thêm (ví dụ suy gan trên độ 6 theo thang Child-Pugh) thì có thể phải ngừng hoặc giảm liều interferon alpha (hoặc peginterferon) và/hoặc ribavirin.

Ribavirin: Ribavirin có thể làm giảm phosphoryl hóa lamivudin. Bệnh nhân đồng thời có HIV và HCV có nguy cơ bị suy gan khi dùng đồng thời thuốc kháng retrovirrus và interferon alpha (hoặc peginterferon alpha) có hoặc không có ribavirin.

Methadon: Không ảnh hưởng có ý nghĩa lên dược động học của lamivudin; không cần phải chỉnh liều khi dùng đồng thời. Trimethoprim/sulfamethoxazol làm tăng AUC của lamivudin 43% nhưng không cần phải chỉnh liều.

Buprenorphin: Không có tương tác dược động học có ý nghĩa lâm sàng; không cần chỉnh liều nếu dùng đồng thời.

4.9 Quá liều và xử trí:

Có rất ít thông tin về quá liều. Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Thẩm tách máu hoặc thẩm phân phúc mạc sau 4 giờ chỉ lấy đi được một lượng không đáng kể. Ngộ độc nặng (viêm tuy, bệnh thần kinh ngoại biên, gan nhiễm mỡ, suy thận cấp, nhiễm toan) xảy ra sau điều trị mà không xảy ra ngay sau khi uống quá liều. Dùng lâu dài có thể gây độc cho ty thể dẫn đến nhiễm toan lactic có hoặc không kèm theo nhiễm mỡ vi thể ở gan. Điều trị ngộ độc nặng bao gồm: ngừng thuốc, điều trị hỗ trợ, dùng benzodiazepin để an thần và chống co giật, thuốc chống nôn, điều chỉnh toan máu (truyền natri bicarbonat 1 – 2 mEq/kg, uống hoặc truyền tĩnh mạch riboflavin 50 mg/ngày; truyền L-carnitin 50 mg/kg/ngày chia làm 3 lần, mỗi lần truyền 2 giờ cho bệnh nhân không thẩm phân hoặc truyền liên tục 100 mg/kg/ngày cho bệnh nhân đang thẩm phân); dùng thuốc kích thích tạo bạch cầu hạt (nếu bị nhiễm khuấn có giảm bạch cầu hạt); dùng thuốc gây co mạch nếu bị suy nhiều phủ tạng; theo dõi chặt các dấu hiệu lâm sàng, điện giải, enzym gan, tìm ổ nhiễm khuấn ở bệnh nhân nhất là nếu có giảm bạch cầu trung tính.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Lamivudin là thuốc tổng hợp kháng retrovirus, thuộc nhóm dideoxynucleosid ức chế enzym phiên mã ngược của virus. Để có tác dụng lamivudin phải được enzym tế bào phosphoryl hóa và biến đổi thành một chất chuyển hóa có hoạt tính, chất chuyển hóa 5-triphosphat. [Pharmog].Chất chuyển hóa này có cấu trúc tương tự deoxycytidin triphosphat là cơ chất tự nhiên cho enzym phiên mã ngược. Thuốc có hoạt tính cạnh tranh với deoxycytidin triphosphat tự nhiên để hợp nhất vào DNA của virus bởi enzym phiên mã ngược, gây kết thúc sớm tổng hợp DNA của virus. Lamivudin có độc tính rất thấp đối với tế bào.

Lamivudin có hoạt tính kìm virus HIV type 1 và 2 (HIV-1, HIV-2), và cũng có tác dụng ức chế virus viêm gan B ở người bệnh mạn tính. Tuy được dung nạp tốt, nhưng không được dùng lamivudin đơn độc, vì dễ sinh kháng thuốc. Sự kháng này do đột biến về enzym phiên mã ngược, làm giảm tính nhạy cảm hơn 100 lần và làm mất tác dụng kháng virus trên người bệnh.

Cơ chế tác dụng:

Lamivudin được chuyển hóa nội bào tạo thành dạng triphosphat. Triphosphat này ức chế sự tổng hợp DNA của retrovirus, bao gồm virus HIV, thông qua sự ức chế cạnh tranh với enzym sao chép ngược và sự gắn kết vào DNA của virus. Lamivudin cũng có hoạt tính kháng virus gây viêm gan B.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu

Lamivudin hấp thu tốt qua đường tiêu hoá. Sinh khả dụng theo đường uống của lamivudin ở người lớn thường đạt từ 80-85%. Sau khi dùng đường uống liều 100 mg, thuốc đạt nồng độ tối đa (Cmax) trong huyết thanh khoảng 1,1 – 1,5 mcg/ml sau khoảng thời gian (tmax) 1 giờ.

Uống cùng với thức ăn làm tăng tmax và giảm Cmax (giảm xuống còn 47%). Tuy nhiên, mức độ hấp thu của lamivudin (dựa trên AUC) không bị ảnh hưởng. Chính vì thế có thể uống lamivudin lúc no hoặc đói.

Phân bố:

Theo các nghiên cứu theo đường tiêm tĩnh mạch, thể tích phân bố là 1,3 l/kg. Dược động học của lamivudin không đổi theo liều điều trị và nó liên kết thấp với protein huyết tương và cả albumin.

Không có nhiều thông tin chứng tỏ rằng lamivudin có thể xâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương và dịch não tuỷ (CSF). Tỉ lệ nồng độ lamivudin trong dịch não tuỷ so với nồng độ trong huyết thanh sau khi uống 2-4 giờ là 0,12.

Chuyển hóa

Lamivudin chủ yếu lọc qua thận dưới dạng còn hoạt tính. Khả năng các chất chuyển hoá tương tác với lamivudin là rất thấp vì gan chỉ chuyển hoá một lượng nhỏ (5-10%) và tỉ lệ liên kết với protein huyết tương thấp.

Thải trừ

Độ thanh thải của lamivudin xấp xỉ 0,3 l/giờ/kg. Thời gian bán thải 5-7 giờ. Phần lớn lamivudin thải ra nước tiểu thông qua lọc cầu thận và bài tiết chủ động (hệ thống vận chuyển cation hữu cơ). Khoảng 70% lamivudin được thải trừ qua thận

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Cellulose vi tinh thể (Avicel PH 101), Natri Starch Glycolat (Type A), Cellulose vi tinh thể (RQ 101 ), Magnesi Stearat, Opadry White (13B58802)..

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM