Thuốc LamiAPC là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc LamiAPC (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Lamivudine (3TC)
Phân loại: Thuốc kháng virus.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J05AF05.
Biệt dược gốc: Zeffix
Biệt dược: LamiAPC
Hãng sản xuất : Công ty cổ phần dược phẩm Ampharco U.S.A
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén bao phim: 100 mg;
Thuốc tham khảo:
| LAMIAPC | ||
| Mỗi viên nén dài bao phim có chứa: | ||
| Lamivudine | …………………………. | 100 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
LamiAPC có chứa hoạt chất lamivudin, được chỉ định mong điều trị viêm gan B mạn tính ở người lớn với:
Bệnh gan còn bù có bằng chứng về sự nhân lên của virus, tăng nồng độ alanin aminotransferase (ALT) trong huyết tương dai dẳng và có bằng chứng mô học của viêm gan tiến triển và/ hoặc xơ gan. Việc điều trị khởi đầu với lamivudin chỉ được xem xét khi việc sử dụng thuốc kháng virus thay thế có hàng rào di truyền cao hơn không có sẵn hoặc không thích hợp.
Bệnh gan mất bù: phối hợp lamivudin với một thuốc khác mà không đề kháng chéo với lamivudin
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng bằng đường uống.
Lamivudin có thể uống kèm hoặc không kèm thức ăn.
Điều trị với lamivudin chỉ nên được khởi đầu bởi bác sỹ có kinh nghiệm trong điều trị bệnh viêm gan B mạn tính.
Liều dùng:
Người lớn
Liều khuyến cáo của lamivudin là 100 mg/ ngày.
Với những bệnh nhân bị bệnh gan mất bù, thì nên dùng phối hợp lamivudin với một thuốc khác mà không kháng chéo với lamivudin để giảm nguy cơ kháng thuốc và nhanh chóng ức chế được virus.
Thời gian điều trị:
Thời gian điều trị tối ưu hiện nay chưa rõ
Ở những bệnh nhân bị viêm gan B mạn tính có HBeAg dương tính không kèm theo xơ gan, thì nên điều trị ít nhất là 6-12 tháng sau khi chuyển đảo huyết thanh HBeAg (HBeAg và ADN HBV biến mất và thay vào đó là sự xuất hiện của HBeAb) được xác nhận, để hạn chế nguy cơ táí nhiễm virus hoặc cho tới khi chuyển đẩo huyết thanh HBeAg hoặc thuốc không còn hiệu quả. Nồng độ ALT và ADN HBV trong huyết tương nên được theo dõi thường xuyên sau khi ngừng điều trị để phát hiện sớm sự tái nniễm virus.
Ở những bệnh nhân có HBeAg âm tính CHB (đột biến precore) không kèm theo xơ gan, nên điều trị cho đến khi chuyển đổi huyết thanh HBs hoặc thuốc không còn hiệu quả. Khi điều trị kéo dài, thì nên tái khám thường xuyên để xác nhận xem liệu pháp điều trị đã được chọn còn phù hợp với bệnh nhân hay không.
Ở những bệnh nhân bị bệnh gan mất bù, bị xơ gan hoặc ghép gan, việc ngừng điều trị là không được khuyến cáo. Nếu ngừng dùng lamivudin, thì bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ để phát hiện bằng chứng tái nhiễm viêm gan.
Đề kháng thuốc trên làm sàng:
Ỡ những bệnh nhân có HBeAg dương tính và HBeAg âm tính CFIB, thì sự phát triển của đột biến HBV YMDD (tyrosine-methionine-aspartate-aspartate) có thể làm giảm sự đáp ứng điều trị với lamivudin, được báo hiệu bởi sự tăng ADN HBV và ALT so với mức trước khi điều trị. Để giảm nguy cơ kháng thuốc ở những bệnh nhân dùng lamivudin riêng lẻ, thì dựa theo hướng dẫn điều trị để xem xét nên chuyển thuốc hay dùng thêm thuốc không kháng chéo với lamivudin nếu ADN HBV huyết thanh vẫn được phát hiện sau 24 tuần điều trị.
Để điều trị cho những bệnh nhân đồng thời bị nhiễm HIV và hiện đang được điều trị hoặc có ý định điều trị với lamividin, hoặc phối hợp lamividin với zidovudin, thì liều dùng của lamivudin cho nhiễm HIV (thường là 150 mg x 2 lần/ ngày dùng phối hợp với các thuốc kháng retrovirus khác) nên được duy trì.
Những đối tượng đặc biệt:
Suy thận
Nồng độ lamividin trong huyết tương (AUC) tăng lên ở những bệnh nhân bị suy thận vừa đến nặng do giảm độ thanh thải ở thận. Vì vậy nên giảm liều ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 50 ml/ phút. Khi liều lamivudin <100 mg thì nên dùng dưới dạng dung dịch uống (xem ở bảng 1).
Bảng 1: : Liều dùng cita lamivudin cho những bệnh nhân có độ thanh thải ở thận giảm:
| Độ thanh thải creatinin (ml/phút) | Liều khởi đầu của lamivudin dạng dung dịch uống* | Liều duy trì một lần mỗi ngày |
| 30 < Clcr < 50 | 20 ml (100 mg) | 10 ml (50 mg) |
| 15 < Clcr < 30 | 20 ml (100 mg) | 5 ml (25 mg) |
| 5 < Clcr < 15 | 7 ml (35 mg) | 3 ml (15 mg) |
| Clcr < 5 | 7 ml (35 mg) | 2 ml (10 mg) |
*Dung dịch uống lamivudin chứa 5 mg/ ml.
Dữ liệu sẵn có ở những bệnh nhân chạy thận nhân tạo liên tục (< 4 giờ lọc máu/ lần, 2-3 lần/ tuần) cho thấy sau khi giảm liều ban đầu của lamivudin để phù hợp với độ thanh thải creatinin của bệnh nhân, không cần điều chỉnh liều thêm khi đang lọc thận.
Suy gan
Dữ liệu thu được ở những bệnh nhân suy gan, bao gồm cả những bệnh nhân có bệnh gan giai đoạn cuối đang chờ ghép gan, cho thấy dược động học của lamivudin không bị ảnh hưởng đáng kể bởi rối loạn chức năng ở gan. Dựa vào những dự liệu này, thì việc điều chỉnh liều là không cần thiết ở những bệnh nhân bị suy gan trừ khi kèm theo suy thận.
Người già
Ở những bệnh nhân lớn tuổi, sự lão hóa kèm theo sự suy giảm ở thận không ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng tới sự tiếp xúc của lamivudin, ngoại trừ những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <50 ml/ phút.
Trẻ em
Độ an toàn và hiệu quả của lamivudin ở trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác định. Vì vậy, LamiAPC không khuyến cáo cho những đối tượng này.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn cảm với các hoạt chất hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào được liệt kê ở mục 1- Thành phần, phần A.
4.4 Thận trọng:
Nhiễm acid lactic và gan to kèm theo nhiễm mỡ nặng
Nhiễm acid lactic (trong trường hợp không thiếu oxy máu), có thể gây tử vong, thường kết hợp với gan to và gan nhiễm mỡ, đã được báo cáo khi sử dụng các chất tương tự nucleosid. Do lamivudin cũng là một chất tương tự nucleosid nên nguy cơ này không thể loại trừ. Nên ngừng điều trị với các chất tương tự nucleosid khi có nồng độ aminotransferase tăng nhanh, gan to tiến triển nhiễm toan chuyển hóa/ acid lactic mà không rõ nguyên nhân. Các triệu chứng nhẹ trên đường tiêu hóa như: buồn nôn, nôn và đau bụng, có thể là dấu hiệu của nhiễm acid lactic. Các trường hợp nặng, có thể gây ra tử vong, có kèm theo viêm tụy, suy gan/ gan nhiễm mỡ, suy thận và nồng độ lactat trong huyết thanh cao. cần thận trọng khi kê đơn các chất tương tự nucleosid cho những bệnh nhân (đặc biệt là phụ nữ béo phì) có: gan to, viêm gan hoặc các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh gan hoặc gan nhiễm mỡ (bao gồm cả thuốc và rượu). Bệnh nhân đồng thời nhiễm virus viêm gan C và được điều trị với alpha interferon và ribavirin có thể là một nguy cơ đặc biệt. Các bệnh nhân này nên được theo dõi chặt chẽ.
Bùng phát viêm gan
Các đợt kịch phát xảy ra trong thời gian điều trị.
Các đợt kịch phát tự phát của viêm gan B mạn tính thì tương đối thường gặp và được đặc trưng bởi sự gia tăng tạm thời ALT trong huyết thanh. Khi bắt đầu điều trị với thuốc kháng virus, ALT huyết thanh có thể tăng ở một số bệnh nhân do nồng độ ADN HBV trong huyết thanh giảm. Ở những bệnh nhân bị bệnh gan còn bù, sự tăng ALT huyết thanh nói chung không kèm theo sự tăng nồng độ bilirubin máu hoặc các dấu hiệu của gan mất bù.
Những phân nhóm virus HBV giảm nhạy cảm với lamivudin (HBV đột biến YMDD) đã được xác định khi điều trị kéo dài. ở một vài bệnh nhân, sự phát triển của HBV đột biến YMDD có thể dẫn tới các đợt kịch phát của viêm gan, và chủ yếu được phát hiện dựa vào sự tăng ALT huyết thanh và sự xuất hiện lại của ADN HBV. Ở những bệnh nhân có HBV đột biến YMDD, thì nên xem xét để chuyển thuốc hoặc dùng thêm thuốc thay thế không đề kháng chéo với lamivudin dựa theo hướng dẫn điều trị.
Các đợt kịch phát xảy ra sau khi ngừng điều trị.
Đợt kịch phát cấp của viêm gan đã được thấy ở những bệnh nhân ngưng điều trị viêm gan B và thường đuyc phát hiện dựa trên sự tăng ALT huyết thanh và sự xuất hiện lại của ADN HBV. Trong những thử nghiệm được kiểm soát ở pha III với sự theo dõi điều trị không thụ động, tỷ lệ tăng ALT sau điều trị (cao gấp 3 lần so với mức chuẩn) thì cao hơn ở những bệnh nhân đã được điều trị với lamivudin (21%) so với những bệnh nhân dùng giả dược (8%).[Pharmog]. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân sau khi điều trị có ALT và bilirubin tăng là thấp hoặc là tương tự nhau ở cả 2 nhóm điều trị. Ở những bệnh nhân được điều trị với lamivudin, đa số sự tăng ALT xuất hiện từ 8-12 tuần sau khi điều trị. Hầu hết các trường hợp đã tự giới hạn, tuy nhiên một số trường hợp tử vong đã được ghi nhận. Nếu ngừng dùng lamivudin, thì bệnh nhân nên được theo dõi định kỳ về cả lâm sàng và cả các xét nghiệm huyết thanh để đánh giá chức năng gan (nồng độ ALT và bilirubin), tối thiếu là 4 tháng sau khi ngưng thuốc và sau đó thì theo chỉ định lâm sàng.
Các đạt kịch phát xảy ra ở những bệnh nhân xơ gan mất bù. Ở những bệnh nhân ghép gan và xơ gan mất bù thì có nguy cơ cao với hoạt động nhân lên của virus. Do nhũng bệnh nhân này có chức năng gan kém, nên sự tái phát bệnh viêm gan khi ngừng dùng lamivudin hoặc mất hiệu lực trong quá trinh điều trị có thể làm trầm trọng thêm sự mất bù, thậm chí là gây tử vong. Những bệnh nhân này nên được theo dõi các thông số lâm sàng, virus học và huyết thanh học liên quan tới viêm gan B, chức năng gan và thận, và đáp ứng kháng virus trong quá trình điều trị (ít nhất là hàng tháng) và nếu ngừng điều trị vì bất kỳ lý do nào, thì phài theo dõi ít nhất là 6 tháng sau khi điều trị. Các thông số xét nghiệm tối thiểu cần được theo dõi bao gồm: ALT, bilirubin, albumin huyết thanh, urea nitrogen trong máu, creatinin và tình trạng virus: kháng nguyên HBV/ kháng thể, và nồng độ ADN HBV trong huyết thanh khi có thể. Nên theo dõi thường xuyên ở những bệnh nhân có dấu hiệu suy gan trong hoặc sau khi điều trị.
Ở những bệnh nhân có bằng chứng tái nhiễm viêm gan sau điều trị, thì không có đủ dữ liệu về lợi ích của việc bắt đầu điều trị lại với lamivudin.
Rối loan chức năng của ty thể:
Các chất tương tự nucleosid và nucleotid đã được chứng minh trong nghiên cứu in vitro và in vivo là gây ra tổn thương ty thể ở các mức độ khác nhau. Đã có báo cáo về rối loạn chức năng của ty thể ở trẻ sơ sinh tiếp xúc trong tử cung và/ hoặc sau khi sinh với các chất tương tự nucleosid. Các tác dụng phụ chủ yếu được báo cáo là rối loạn huyết học (thiếu máu, giảm bạch cầu), rối loạn chuyển hóa (tăng lipase máu). Một số rối loạn khởi phát muộn trên hệ thần kinh cũng được báo cáo (tăng trương lực cơ, co giật, hành vi bất thường). Các rối loạn trên hệ thần kinh có thể xảy ra tạm thời hoặc lâu dài. Bất kỳ trẻ em nào tiếp xúc với các chất tương tự nucleosid và nucleotid trong tử cung, thì cần phải theo dõi lâm sàng và các xét nghiệm, và các trường hợp có dấu hiệu hoặc triệu chứng liên quan thì nên được kiểm tra kỹ càng về chức năng ty lạp thể.
Trẻ em
Lamivudin đã từng được chỉ định ở trẻ em từ 2 tuổi trở lên và thanh thiếu niên bị bệnh viêm gan B còn bù. Tuy nhiên do còn giới hạn về dữ liệu nên việc chỉ định lamivudin cho đối tượng này hiện nay không được khuyến cáo.
Viêm gan Delta hoăc viêm gan c.
Hiệu quả của lamivudin ở những bệnh nhân đồng thời bị nhiễm viêm gan delta hoặc viêm gan c chưa được xác định nên cần phải thận trọng.
Các điều trị ức chế miễn dịch.
Dữ liệu hạn chế về việc sử dụng lamivudin ở những bệnh nhân có HBeAg âm tính (đột biến pre-core) và hiện đang tiếp nhận các chế độ điều trị ức chế miễn dịch, bao gồm hóa trị liệu ung thư. Lamivudin nên được dùng thận trọng ở những bệnh nhân này.
Theo dõi tình trạng bệnh
Trong thời gian điều trị với lamivudin, bệnh nhân nên được theo dõi thường xuyên. Nồng độ ALT và ADN HBV trong huyết thanh cần được theo dõi trong các khoảng thời gian là 3 tháng và ở những bệnh nhân có HBsAg dương tính, thì cần phải đánh giá lại HBsAg mỗi 6 tháng.
Đồng thời nhiễm HIV
Để điều trị cho những bệnh nhân đồng thời bị nhiễm HIV và hiện đang được điều trị hoặc có kế hoạch điều trị với lamivudin hoặc phối hợp lamivudin với zidovudin, liều dùng của lamivudin để điều trị HIV (thường là 150 mg/ lần X 2 lần/ ngày kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác) nên được duy trì. Đối với những bệnh nhân dồng thòi bị nhiễm HIV không yêu cầu điều trị kháng retrovirus, thì có nguy cơ đột biến virus HIV khi sử dụng lamivudin riêng lẻ để điều trị viêm gan B mạn tính.
Sự lây truyền của bệnh viêm gan B
Không có thông tin sẵn có về việc lây truyền virus viêm gan B từ mẹ sang con ở phụ nữ có thai đang được điều trị với lamivudin. Các tiêu chuẩn đề ra trong quy trình chủng ngừa virus viêm gan B cho trẻ sơ sinh nên được tiến hành.
Bệnh nhân nên được thông báo là điều trị với lamivudin không được chứng minh là giảm nguy cơ lây truyền virus viêm gan B cho người khác, nên vẫn cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa thích hợp.
Tương tác với các thuốc khác
Lamivudin không nên dùng chung với các thuốc có chứa lamivudin hoặc các thuốc có chứa emtricitabin (xem mục 9- Tương tác thuốc, phần B).
Sự phối hợp lamivudin với cladribin không được khuyến cáo (xem mục 9 – Tương tác thuốc, phần B).
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Bệnh nhân nên được thông báo rằng tình trạng khó chịu và mệt mỏi đã được báo cáo trong thời gian điều trị với lamivudin. Tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và các tác dụng phụ của lamivudin nên được tính đến khi xem xét khả năng lái xe và vận hành máy móc của bệnh nhân.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
Các nghiên cứu trên động vật với lamivudin cho thấy sự gia tăng tỷ lệ tử vong phôi sớm ở thỏ nhưng không thấy ở chuột. Việc chuyển lamivudin qua nhau thai đã được chứng minh là xảy ra ở người.
Dữ liệu có sẵn trên người từ cơ sở dữ liệu dùng thuốc kháng retrovirus trong thai kỳ thì có hơn 1.000 kết quả về việc phơi nhiễm với lamivudin trong 3 tháng đầu của thai kỳ và hơn 1.000 kết quả về việc phơi nhiễm với lamivudin trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ ở phụ nữ có thai cho thấy không có tác động gây dị tật hay tác động trên phôi thai/ trẻ sơ sinh. [Pharmog].Chỉ có dưới 1% trong số những phụ nữ này được điều trị HBV, trong khi đa số được điều trị H1V ở liều cao hơn và dùng cùng với các thuốc khác. Do đó, lamivudin có thể được sử dụng trong thời gian mang thai nếu cần thiết. Với những bệnh nhân đang được điều trị với lamivudin và sau đó mang thai, nên cân nhắc khả năng tái nhiễm lại viêm gan khi ngừng dùng lamivưdin.
Thời kỳ cho con bú:
Dựa trên kết quả từ hơn 200 cặp mẹ/ con được điều trị HIV, nồng độ lamivudin trong huyết thanh ở những trẻ bú sữa của mẹ được điều trị HIV là rất thấp (dưới 4% so với nồng độ trong huyết thanh mẹ) và dần dần giảm xuống mức không phát hiện được khi trẻ bú sữa mẹ đến 24 tuần tuổi. Tổng lượng lamivudin đi vào đường tiêu hóa ở những trẻ bú sữa mẹ là rất thấp, và vì vậy có thể dẫn tới sự tiếp xúc với tác dụng kháng virus dưới mức tối ưu. Viêm gan B ở phụ nữ mang thai không phải là chống chỉ định với việc cho con bú nếu trẻ mới sinh được phòng ngừa viêm gan B thích hợp lúc sinh, và không có bằng chứng cho thấy nồng độ lamivudin trong sữa mẹ thấp gây ra các tác dụng phụ cho trẻ bú sữa mẹ. Vì thế cho con bú có thể được xem xét ở những bà mẹ đang cho con bú mà được điều trị HBV bằng lamivudin khi tính đến lợi ích của sữa mẹ cho trẻ và những lợi ích điều trị cho mẹ. Trong những trường hợp có sự lây truyền HBV từ mẹ sang con mặc dù đã được phòng bệnh đầy đủ, thì cần phải cân nhắc tới việc ngừng cho con bú để giảm nguy cơ xuất hiện các chủng đột biến gây đề kháng lamivudin ở trẻ sơ sinh.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tỷ lệ gặp các tác dụng phụ và những bất thường trong các xét nghiệm (ngoại trừ sự tăng lên của ALT và CPK) giống nhau giữa nhóm dùng giả dược và nhóm được điều trị với lamivudin. Các tác dụng phụ thường gặp nhất được báo cáo là khó chịu và mệt mỏi, nhiễm trùng đường hô hấp, khó chịu ở họng và amidan, đau đầu, khó chịu và đau ở bụng, buồn nôn, nôn và tiêu chảy.
Tác dụng phụ rất thường gặp, ADR >1/10
Gan và mật: tăng ALT (các đợt kịch phát của viêm gan B chủ yếu được phát hiện bởi sự tăng ALT, và đã được báo cáo khi đang điều trị và sau khi ngừng dùng lamivudin. Hầu hết các trường hợp đã tự giới hạn, tuy nhiên cũng có các trường hợp tử vong nhưng rất hiếm – xem mục 5- Cảnh báo và thận trọng, phần B)
Tác dụng phụ thường gặp, 1/10 >ADR >1/100
Da và mô dưới da: phát ban và ngứa.
Cơ xương khớp vờ mô liên kết: tăng CPK, đau cơ và chuột rút*
Tác dụng phụ hiếm gặp, 1/1.000 >ADR >1/10.000
Hệ miễn dịch: phù mạch.
Tác dụng phụ có tỷ lệ gặp chưa rõ
Máu và hệ bạch huyết: giảm tiểu cầu.
Cơ xương khớp và mô liên kết: tiêu cơ vân.
* Trong nghiên cứu pha III, tỷ lệ gặp các tác dụng phụ ở nhóm điều trị với lamivudin không cao hơn nhóm dùng giả dược có nhiễm HIV, các trường hợp viêm tụy và bệnh thần kinh ngoại biên cũng đã được báo cáo. Ở nhũng bệnh nhân bị viêm gan B mạn tính thì không có sự khác biệt về tỷ lệ gặp các tác dụng phụ giữa nhóm bệnh nhân dùng giả dược và nhóm bệnh nhân được điều trị bằng lamivudin.
Các trường hợp nhiễm acid lactic, đôi khi gây ra tử vong, thường kết hợp với gan to và gan nhiễm mỡ, đã được báo cáo khi sử dụng kết hợp các chất tương tự nucleosid ở bệnh nhân bị HIV. Hiếm gặp các báo cáo về nhiễm acid lactic ở nhũng bệnh nhân dùng lamivudin để điều trị viêm gan B..
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Phải ngừng lamivudin ngay nếu có những dấu hiệu lâm sàng, triệu chứng, hoặc kết quả xét nghiệm cho thấy có thể xảy ra viêm tụy.
Phải ngừng lamivudin ngay nếu có những dấu hiệu lâm sàng, triệu chứng, hoặc kết quả xét nghiệm cho thấy nhiễm toan lactic, hoặc bị độc lên gan (gan to, tích mỡ, ngay cả khi transaminase tăng không cao lắm).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Các nghiên cứu tương tác thuốc chỉ được thực hiện ở người lớn
Khả năng xảy ra các tương tác chuyển hóa thuốc là thấp do thuốc có sự chuyển hóa và gắn kết với protein huyết tương hạn chế, và hầu như thải trừ hoàn toàn qua thận dưới dạng không đổi.
Lamivudin được thải trừ chủ yếu theo sự bài tiết chủ động cation hữu cơ. Khả năng xảy ra các tương tác với các thuốc được chỉ định đồng thời nên được xem xét, đặc biệt là những thuốc có con đường thải trừ chính là bài tiết chủ động qua thận thông qua hệ thống vận chuyển cation hữu cơ, ví dụ như trimethoprim). Các thuốc khác (ví dụ như ranitidin, Cimetidin) chỉ thải trừ một phần theo cơ chế này và không thấy có tương tác với lamivudin.
Những chất được thải trừ chủ yếu thông qua con đường hoạt hóa anion hữu cơ hoặc bởi lọc qua cầu thận thì không xảy ra các tương tác có ý nghĩa lâm sàng với lamivudin.
Việc dùng trimethoprim/ Sulfamethoxazol với liều 160 mg/ 800 mg sẽ làm tăng tiếp xúc của lamivudin lên khoảng 40%. Lamivudin không ảnh hưởng tới dược động học của trimethoprim và Sulfamethoxazol. Trừ những bệnh nhân bị suy thận, thì việc điều chỉnh liều của lamivudin là không cần thiết.
Đã thấy có sự tăng nhẹ Cmax của zidovudin khi dùng chung với lamivudin, những tổng diện tích dưới đường cong thì không thay đổi đáng kể. Zidovudin không ảnh hưởng tới dược động học của lamivudin.
Lamivudin không có tương tác dược động học với alpha- interferon khi hai thuốc được dùng đồng thời. Không cỏ tương tác bất lợi đáng kể nào trên lâm sàng khi bệnh nhân dùng đồng thời lamivudin với các thuốc ức chế miễn dịch thường được sử dụng, ví dụ như cyclosporin A. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu tương tác chính thức nào được thực hiện.
Emtricitabin
Do có sự tương đồng, nên không dùng đồng thời lamivudin với các chất tương tự cytidin, ví dụ như emtricitabin. Bên cạnh đó, không nên dùng lamivudin cùng với các thuốc có chứa lamivudin khác.
Cladribin
Trong in vitro, lamivudin ức chế sự phosphoryl hóa nội bào của cladribin dẫn tới nguy cơ làm mất hiệu lực của cladribin khi dùng phối hợp trên lâm sàng. Một số phát hiện trên lâm sàng cũng chứng minh có sự tương tác giữa lamivudin và cladribin. Do đó, không khuyến cáo dùng đồng thời lamivudin với cladribin.
4.9 Quá liều và xử trí:
Việc dùng lamivudin ở mức liều quá cao trong các nghiên cứu cấp tính trên động vật không gây ra độc tính trên bất kỳ cơ quan nào. Dữ liệu sẵn có về hậu quả của việc dùng quá liều cấp tính ở người vẫn còn hạn chế. Không có trường hợp nào xảy ra tử vong và những bệnh nhân này đều hồi phục lại. Không có dấu hiệu hay triệu chứng cụ thể nào được xác định khi quá liều.
Nếu xảy ra quá liều, thì bệnh nhân nên được theo dõi và điều trị hỗ trợ chuẩn khi cần thiết. Do lamivudin có thể thẩm tách dược nên có thể dùng lọc máu liên tục để điều trị khi bị quá liều, mặc dù phương pháp này chưa được nghiên cứu.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Mã ATC: J05A F05.
Lamivudin là một thuốc kháng virus, có hoạt tính kháng virus viêm gan B trên tất cả các dòng tế bào được thử nghiệm và trên những động vật được gây nhiễm thực nghiệm
Lamivudin được chuyển hóa bởi những tế bào nhiễm bệnh và không nhiễm bệnh để tạo thành dẫn xuất triphosphat (TP) và đây là dạng có hoạt tính của hợp chất ban đầu. Trong in vitro thời gian bán thải nội bào của triphosphat trong tế bào gan là 17-19 giờ. Lamivudin-TP đóng vai trò như một chất nền cho polymerase của virus HBV.
Sự hình thành ADN sau đó của virus bị ức chế bởi sự sát nhập lamivudin-TP vào trong chuỗi và làm kết thúc chuỗi. [Pharmog].Lamivudin-TP không can thiệp vào chuyển hóa deoxynucleotid ở tế bào bình thường. Nó chỉ là một chất ức chế yếu polymerase ADN alpha và beta ở động vật có vú. Do vậy, lamivudin-TP ít ảnh hưởng tới ADN tế bào của động vật có vú.
Trong các thử nghiệm liên quan đến tiềm năng thuốc ảnh hưởng tới cấu trúc, hàm lượng ADN và chức năng ADN trong ty thể, lamivudin không có tác dụng gây độc đáng kể. Tiềm năng làm giảm lượng ADN của ty thể rất thấp, không sát nhập vĩnh viễn vào ADN ty thể, và không có tác dụng ức chế polymerase ADN gamma của ty thể..
Cơ chế tác dụng:
Lamivudin được chuyển hóa nội bào tạo thành dạng triphosphat. Triphosphat này ức chế sự tổng hợp DNA của retrovirus, bao gồm virus HIV, thông qua sự ức chế cạnh tranh với enzym sao chép ngược và sự gắn kết vào DNA của virus. Lamivudin cũng có hoạt tính kháng virus gây viêm gan B.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu: lamivudin được hấp thu tốt ở đường tiêu hóa, và sinh khả dụng của lamivudin ở người lớn dùng bằng đường uống thường là từ 80-85%. Sau khi uống, thời gian trung bình để đạt được nồng độ đỉnh (Cmax) là khoảng một giờ. Ở mức liều điều trị, nghĩa là 100 mg X 1 lần/ ngày, Cmax là 1,1- 1,5 µg/ ml và nồng độ đáy là 0,015-0,020 µg/ ml.
Dùng đồng thời lamivudin với thức ăn làm chậm thời gian đạt tmax và làm giảm Cmax (giảm đến 47%). Tuy nhiên, mức độ hấp thu lamivudin (dựa theo AUC) thì không bị ảnh hưởng, do đó lamivudin có thể được uống kèm hoặc không kèm với thức ăn.
Phân bố: trong các nghiên cứu thuốc tiêm tĩnh mạch, thể tích phân bố trung bình là 1,3 l/kg. Lamivudin thể hiện dược động học tuyến tính trong khoáng liều điều trị và có sự liên kết với protein huyết tương (abumin) thấp.
Các dữ liệu hạn chế cho thấy lamivudin thâm nhập vào hệ thần kinh trung ương và vào được dịch não tủy (CSF). Tỷ lệ nồng độ lamivudin trong CSF/ huyết thanh sau 2-4 giờ uống thuốc trung bình là 0,12.
Chuyển dạng sinh học: lamivudin chủ yếu được thải trừ bởi thận dưới dạng không đổi. Khả năng xảy ra các tương tác giữa thuốc chuyển hóa với lamivudin là thấp do lamivudin được chuyển hóa ở gan thấp và gắn kết với protein huyết tương thấp. Phần lớn lanũvudin được thải trừ dưới dạng không đổi vào nước tiểu thông qua lọc cầu thận và sự bài tiết chủ động (hệ thống vận chuyển cation hữu cơ). Thải trừ qua thận chiếm khoảng 70% sự thải trừ lamivudin.
Thải trừ: thanh thải toàn thân của lamivudln trung bình là khoảng 0,3 l/h/kg. Thời gian bán thải quan sát được là 5-7 giờ. Phần lớn lamivudin được thải trừ ở dạng không đổi trong nước tiểu qua lọc cầu thận và bài tiết chủ động (hệ thống chuyên chờ cation hữu cơ). Thanh thải ở thận chiếm 70% thanh thải của lamivudin.
Những đối tượng đặc biệt:
Những nghiên cứu ở bệnh nhân bị suy thận cho thấy sự thãi trừ lamivudin bị ảnh hưởng bởi những rối loạn chức năng ở thận. Việc giảm liều ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <50 ml/ phút là cần thiết.
Dược động học của lamivudin không bị ảnh hưởng bởi tình trạng suy gan. Dữ liệu hạn chế ở những bệnh nhân ghép gan cho thấy sự suy giảm chức năng gan không ảnh hưởng đáng kể đến dược động học của lamivudin trừ khi có kèm theo những rối loạn chức năng ở thận.
Ở những bệnh nhân cao tuổi, dược động học của lamivudin thấy rằng quá trình lão hóa thường đi kèm với sự suy giảm ở thận không có ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng tới sự tiếp xúc của lamivudin, ngoại trừ những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 50 ml/ phút.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Microcrystallin cellulose PH 102, Natrị starch glycolat, Magnesi stearat, Colloidal Silicon dioxid A200, Hydroxypropyl methylcellulose 15cP, Hydroxypropyl methylcellulose 6cP, Polyethylen glycol 6000, Talc, Titan dioxid, Màu Tartrazin lake, Màu Sunset yellow lake, Màu Red iron oxid.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM