1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Irbesartan
Phân loại: Thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II. Thuốc chống tăng huyết áp
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): C09CA04.
Biệt dược gốc: Aprovel
Biệt dược: Trionstrep
Hãng sản xuất : Bluepharma Genericos-Comercio De Medicamenos, S.A.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Hộp 4 vỉ x 7 viên; Hộp 5 vỉ x 7 viên; Hộp 10 vỉ x 7 viên
Mỗi viên: Irbesartan 150mg.
Thuốc tham khảo:
| TRIONSTREP | ||
| Mỗi viên nén có chứa: | ||
| Irbesartan | …………………………. | 150 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Điều trị tăng huyết áp nguyên phát.
Điều trị bệnh thận ở các bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tăng huyết áp với vai trò là một phần của chế độ thuốc chống tăng huyết áp.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng uống. uống kèm với thức ăn hoặc không.
Liều dùng:
Liều khởi đầu và duy trì thường được khuyến cáo là 150mg/1lần/ngày, uống cùng với thức ăn hoặc không. Irbesartan ở liều 150mg/1 lần/ngày thường kiểm soát huyết áp trong 24 giờ tốt hơn liều 75mg,Tuy nhiên, nên khởi đầu điều trị với liều 75mg, nhất là đối với bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo và những bệnh nhân trên 75 tuổi. Những bệnh nhân mà huyết áp không kiềm soát được ở liều 150mg/1 lần/ngày, thì có thể tăng liều lên 300mg, hoặc dùng kết hợp thêm với thuốc điều trị cao huyết áp khác. Đặc biệt khi kết hợp với thuốc lợi tiểu như hydrochlorothiazid thấy làm tăng tác dụng của irbesartan
Đối với bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tăng huyết áp, nên khởi đầu ở liễu 150mg 1 lần/ngày và điều chỉnh lên đến 300mg 1 lần/ ngày như là liều duy trì trong điều trị bệnh thận. Việc phát hiện lợi ích trên thận của irbesartan đối với bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tăng áp là dựa trên các nghiên cứu trong đó irbesartan được dùng kết hợp thuốc điều trị tăng huyết áp khác khi cần thiết để đạt mức huyết áp mong đợi.
Suy thận: không cần phải điều chỉnh liều ở những bệnh nhân bị suy chức năng thận. Nên dùng liều khởi đầu thấp (75 mg) đối với những bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo.
Suy gan: không cần điều chỉnh liều đối với bệnh nhân suy gan nhẹ và trung bình. Chưa có kinh nghiệm lâm sàng đối với bệnh nhân bị suy gan nặng.
Người già: mặc dù nên điều trị với liều khởi đầu là 75 mg đối với bệnh nhân trên 75 tuổi, thường cũng không cần điều chỉnh liều đối với người già.
Trẻ em: irbesartan không được khuyến khich sử dụng ở trẻ và trẻ vị thành niên do dữ liệu về tính hiệu quả và an toàn của Irbesartan không đầy đủ..
4.3. Chống chỉ định:
Dị ứng với các thành phần của thuốc
Phụ nữ có thai (toàn bộ thai kỳ)
Phụ nữ đang cho con bú
4.4 Thận trọng:
Giảm thể tích nội mạch:
Triệu chứng hạ huyết, đặc biệt sau liều đầu tiên, có thể xảy ra ở những bệnh nhân bị giảm thể tích và/hoặc giảm natri do dùng biện pháp lợi tiểu mạnh, ăn kiêng hạn chế muối, tiêu chảy hoặc nôn mửa. Những trường hợp như vậy cần điều chỉnh trước khi bắt đầu trị liệu với irbesartan.
Tăng huyết áp do động mạch thận: có nguy cơ gia tăng tụt huyết áp nặng và suy thận khi bệnh nhân bị hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch của một thận chức năng được điều trị với các thuốc có tác động lên hệ thống renin-angiotensin-aldosterone. Khi chưa có tài liệu dẫn chứng với Irbesartan, những tác động tương tự nên được tiên đoán trước với các đối kháng thụ thể angiotensin-II.
Suy thận và ghép thận:
khi dùng irbesartan cho bệnh nhân suy thận, cần giám sát định kỳ nồng độ kali, creatinin trong huyết thanh. Chưa có kinh nghiệm nào liên quan đến việc dùng irbesartan cho những bệnh nhân mới ghép thận.
Những bệnh nhân tăng huyết áp với đái tháo đường týp 2 và bệnh thận: trong các phân tích tiến hành nghiên cứu đối với những bệnh nhân đã bị bệnh thận, các tác động của irbesartan cả trong các trường hợp thận và tim mạch đã không giống nhau ở các nhóm bệnh nhân.
Tăng kali huyết: cũng như các thuốc có tác động lên hệ thống renin-angiotensin-aldosterone, trong khi điều trị với irbesartan có thể xảy ra tăng kali huyết, nhất là những người đang suy thận, tiểu protein do bệnh thận do đái tháo đường và/hoặc suy tim. Cần theo dõi đầy đủ nồng độ kali trong huyết thanh ở những bệnh nhân có nguy cơ
Lithium: không nên phối hợp lithium với irbesartan
Chứng hẹp van 2 lá và hẹp van động mạch chủ, bệnh cơ tim tắc nghẽn phì đại:
Cũng như với các tác nhân gây giãn mạch khác, đặc biệt thận trọng đối với những bệnh nhân bị chứng hẹp van 2 lá hoặc hẹp van động mạch chủ, hoặc bị bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn.
Tăng aldosteron nguyên phát: nhìn chung những bệnh nhân tăng aldosteron nguyên phát sẽ không đáp ứng với thuốc hạ huyết áp có tác động ức chế hoạt động hệ thống renin-angiotensin. Do đó, không khuyến cáo dùng irbesartan.
Thận trọng chung: ở những bệnh nhân có trương lực mạch máu và chức năng thận phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động của hệ thống renin-angiotensin-aldosterone (ví dụ như những bệnh nhân suy tim sung huyết trầm trọng hoặc bệnh thận, bao gồm cả hẹp động mạch thận), điều trị với thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc đối kháng thụ thể angiotensin-II là những thuốc có ảnh hưởng đến hệ thống này có thể gây ra hạ huyết áp cấp tính, tăng urê huyết, thiểu niệu, hoặc hiếm khi suy thận cấp. Như với bất kỳ thuốc chống tăng huyết áp nào, sự giảm huyết áp quá mức đối với bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh tim mạch thiếu máu cục bộ có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ.
Như các thuốc ức chế men chuyển angiotensin, irbesartan và các chất đối kháng angiotensin khác hình như ít gây hạ huyết áp đối với người da đen hơn người không thuộc nhóm da đen, có thể là do tỷ lệ người có mức renin thấp cao hơn ở dân số người da đen.
Lactose: Thuốc này có chứa đường lactose. Bệnh nhân có vấn đề về đi truyền hiếm gặp không dung nạp đường galactose, thiếu lactase hoặc kém hấp thu glucose-galaetose không được dùng thuốc này,
Trẻ em:
Irbesartan đã được nghiên cứu trên các trẻ em ở độ tuổi 6-16 tuổi, nhưng dữ liệu hiện nay chưa đầy đủ để hỗ trợ cho sử dụng ở trẻ em đến khi có thêm các dữ liệu.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Trong khi điều trị có thể xảy ra tác dụng phụ chóng mặt hoặc mệt mỏi vì vậy khi lái xe hoặc vận hành máy cần lưu ý đến các tác dụng phụ này.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category:
US FDA pregnancy category:
Thời kỳ mang thai:
Không khuyến cáo sử dụng AIIRAs trong thời kỳ đầu của thai kỳ. Chống chỉ định dùng các thuốc AIIRAs cho phụ nữ mang thai trong quý thứ 2 và thứ 3 của thai kỳ.
Những bằng chứng dịch tễ học về nguy cơ gây quái thai sau khi phơi nhiễm các thuốc ức chế men chuyển angiotensin trong thời kỳ đầu của thai nghén chưa được xác định. Tuy nhiên vẫn có sự gia tăng nhẹ đối với nguy cơ này, Trong khi, không có dữ liệu địch tễ học nào được kiểm soát nguy cơ với kháng thụ thể angiotensin II (AIIRAs), các nguy cơ tương tự có thể vẫn tồn tại đối với dạng thuốc này. Trừ phi trị liệu với AIIRA vẫn được xem là cần thiết, các bệnh nhân dự định mang thai nên được chuyển sang trị liệu chống tăng huyết áp thay thế mà dữ liệu về tính an toàn của thuốc cho phụ nữ mang thai đã được thiết lập. Khi được chuẩn đoán có thai, cần ngưng trị liệu với AIIRAs ngay và nên bắt đầu với trị liệu thay thế.
Phơi nhiễm với trị liệu AIIRA trong quý thứ 2 và quý thứ 3 của thai kỳ được biết gây độc cho bào thai (giảm chức năng thận, ít nước ối, chậm cốt hoá xương sọ) và gây độc cho trẻ sau khi sinh (suy thận, hạ áp, tăng kali huyết). Nếu đã dùng thuốc trong quý thứ 2 của thai kỳ, cẩn kiểm tra chụp sọ và chức năng thận bằng siêu âm cho thai nhi.
Các trẻ sơ sinh mà mẹ đã dùng AIIRAs nên được theo dõi hạ huyết áp chặt chẽ.
Thời kỳ cho con bú:
Do không có sẵn các thông tin về sử dụng thuốc trong khí đang cho con bú, irbesartan không được khuyến cáo và nên có trị liệu thay thế mà dữ liệu về tính an toàn của thuốc dùng cho phụ nữ đang cho con bú đã được thiết lập, nhất là đối với trẻ mới sinh hay trẻ đẻ non.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Trong các nghiên cứu có đối chứng với giả dược ở những bệnh nhân tăng huyết áp, tỷ lệ mắc các biến cố nghiêm trọng nói chung không có sự khác biệt giữa các nhóm Irbesartan (56.2%) và giả dược (56.5%). Việc ngưng thuốc do bất kỳ biến cố nghiêm trọng nào về lâm sàng hay xét nghiệm ở nhóm điều trị với Irbesartan (3.3%) là thấp hơn so với nhóm điều trị giả dược (4.5%). Tỷ lệ mắc các biến cố nghiêm trọng không liên quan đến liều dùng (trong giới hạn liều khuyến cáo), giới tính, tuổi tác, chủng tộc hoặc thời gian điều trị.
Ở những bệnh nhân tăng huyết áp có vi đạm niệu và chức năng thận bình thường, chóng mặt tư thế và hạ huyết áp tư thế được báo cáo trong 0.5% (tức là không phổ biến) nhưng cao hơn giả dược.
Danh sách sau đây trình bày phản ứng thuốc bất lợi đã được báo cáo trong các thử nghiệm có đối chứng với giả dược, trong 1.965 bệnh nhân tăng huyết áp dùng Irbesartan. Các thuật ngữ được đánh dấu sao (*) liên quan đến các phản ứng bất lợi đã được báo cáo bổ sung trong >2% bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường với suy thận mãn và protein niệu rõ và cao hơn giả dược.
Tần suất các phản ứng bất lợi được liệt kê dưới đây được xác định sử dụng các quy ước sau:
Rất phổ biến (≥1/10); Phổ biến (≥1/100, <1/10); Không phổ biến (≥1/1,000, <1/100); Hiếm (≥1/10,000, <1/1,000); Rất hiếm (<1/10,000).
Trong mỗi nhóm tần số, các tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần.
Điều tra nghiên cứu
Rất phổ biến: Hyperkalaemia* xảy ra thường xuyên hơn ở những bệnh nhân đái tháo đường được điều trị với Irbesartan so với giả dược. Ở bệnh nhân đái tháo đường tăng huyết áp với vi đạm niệu và chức năng thận bình thường, tăng kali huyết (≥ 5,5mEq/L) xảy ra ở 29,4% bệnh nhân trong nhóm Irbesartan 300 mg và 22% bệnh nhân trong nhóm giả dược. Ở bệnh nhân đái tháo đường tăng huyết áp với suy thận mãn tính và protein niệu rõ, tăng kali huyết (≥ 5,5mEq/L) xảy ra ở 46,3% bệnh nhân trong nhóm Irbesartan và 26,3% bệnh nhân trong nhóm giả dược.
Phổ biến: Tăng creatine kinase huyết tương đáng kể đã được quan sát một cách phổ biến (1,7%) trong các đối tượng được điều trị với Irbesartan. Không tăng các biến cố về cơ xương trên lâm sàng.
Trong 1,7% số bệnh nhân tăng huyết áp với bệnh thận do đái tháo đường tiến triển điều trị với Irbesartan, giảm * hemoglobin, không có ý nghĩa lâm sàng, đã được quan sát.
Rối loạn về tim
Không phổ biến: Nhịp tim nhanh.
Rối loạn hệ thần kinh
Phổ biến: Chóng mặt, chóng mặt tư thế*.
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
Không phổ biến: Ho.
Rối loạn tiêu hóa
Phổ biến: Buồn nôn/Nôn.
Không phổ biến: Tiêu chảy, khó tiêu, ợ nóng.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
Phổ biến: Đau cơ xương*.
Rối loạn mạch
Phổ biến: Hạ huyết áp tư thế.
Không phổ biến: Phát ban.
Rối loạn toàn thân và tình trạng tại nơi sử dụng
Phổ biến: Mệt mỏi.
Không phổ biến: Đau ngực.
Rối loạn hệ sinh sản và vú
Không phổ biến: Rối loạn chức năng tình dục.
Các phản ứng phụ bất lợi sau đây đã được báo cáo sau khi tiếp thị của Irbesartan chúng được bắt nguồn từ các báo cáo tự phát và vì vậy, tần số của những phản ứng bất lợi là không biết đến:
Rối loạn hệ thần kinh: Đau đầu.
Rối loạn tai và mê đạo: Ù tai.
Rối loạn tiêu hóa: Loạn vị giác.
Rối loạn thận và tiết niệu: Suy chức năng thận kể cả các trường hợp suy thận trên các bệnh nhân có nguy cơ.
Rối loạn da và các mô dưới da: Viêm mạch hủy bạch cầu.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết: Đau khớp, đau cơ (trong một số trường hợp có tăng nồng độ creatine kinase huyết tương), chuột rút.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Tăng kali huyết.
Rối loạn hệ miễn dịch: Các phản ứng quá mẫn như phù mạch, phát ban, mề đay.
Rối loạn gan-mật: Viêm gan, chức năng gan bất thường.
Bệnh nhi: Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên của 318 trẻ em và thanh thiếu niên tăng huyết áp từ 6 đến 16 tuổi, các biến cố bất lợi liên quan sau đây đã xảy ra trong pha mù đôi 3 tuần: nhức đầu (7,9%), hạ huyết áp, (2,2%), chóng mặt (1,9 %), ho (0,9%). Trong giai đoạn mở nhãn 26-tuần của thử nghiệm các bất thường xét nghiệm thường gặp nhất được quan sát là tăng creatinin (6,5%) và 2% các trị số CK cao ở trẻ em nhận truyền máu..
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Các ADR ít xảy ra, thường nhẹ không cần xử trí gì đặc biệt. Nếu bắt đầu dùng thuốc nên chú ý điều trị giảm thể tích máu nếu có.
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Các thuốc chống tăng huyết áp khác và thuốc lợi tiểu: các thuốc trị tăng huyết áp khác có thể làm tăng tác động hạ huyết áp của irbesartan; tuy nhiên irbesartan có thể phối hợp an toàn với các thuốc trị tăng huyết áp khác, như thuốc chẹn bêta, thuốc chẹn kênh canxi tác dụng kéo dài, và thuốc lợi tiểu nhóm thiazide. Khi trước đó đã điều trị với thuốc lợi tiểu liều cao có thể dẫn đến sự mất dịch nhiều và do vậy nguy cơ hạ huyết áp dễ xảy ra khi bắt đầu điều trị với irbesartan.
Các thuốc lợi tiểu Kali và bổ sung kali:: dựa trên kinh nghiệm của việc dùng các thuốc có tác dụng trên hệ thống renin-angiotensin khác, dùng chung các thuốc này với các thuốc lợi tiểu giữ kali, chế phẩm bổ sung kali, các muối thay thế có chứa kali hoặc các thuốc khác có thể làm tăng nồng độ kali huyết thanh (như là heparin) có thể làm tăng nồng độ kali huyết tương, do đó không được khuyến cáo.
Lithium:
Tăng thuận nghịch các nồng độ lithi trên huyết tương và độc tính đã được báo cáo khi sử dụng đồng thời lithi với các thuốc ức chế men chuyển angiotensin. Đến nay các tác dụng tương tự đối với irbesartan đã được báo cáo nhưng rất ít. Do đó dạng kết hợp này không được khuyến cáo sử dụng. Nếu dạng kết hợp này là cần thiết, khuyến cáo kiểm tra thận trọng các nồng độ lithi trên huyết tương.
Các thuốc kháng viêm non-steroid:
Khi sử dụng các kháng angiotensin II đồng thời với các thuốc chống viêm không steroid (ví dụ: các thuốc ức chế COX-2 có chọn lọc, acid acetylsalicylie > 3g/ngày) và NSAIDs không chọn lọc, giảm tác dụng chống tăng áp có thể xuất hiện.
Cũng như với các chất ức chế enzym chuyển angiotensin, việc dùng đồng thời các chất đối kháng angiotensin II và các chất chống viêm không steroid không chọn lọc có thể làm tăng nguy cơ tổn thương chức năng thận, có thể dẫn đến suy thận cấp và tăng kali huyết, đặc biệt là ở những người bệnh đã có suy chức năng thận từ trước. Việc phối hợp phải thận trọng, đặc biệt là ở người cao tuổi. Người bệnh phải được uống nước đầy đủ và theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu phối hợp và định kỳ sau đó.
Các thông tin bổ sung về tương tác irbesartan: Trong các nghiên cứu lâm sàng, dược động học của irbesartan không bị biến đổi khi dùng đồng thời với hydroclorothiazid. Irbesartan được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP2C9 và một phần ít hơn bởi quá trình liên hợp glucuronic. Không thấy có tương tác dược động học và dược lực học có ý nghĩa khi irbesartan được dùng đồng thời với warfarin là thuốc được chuyển hóa bởi CYP2C9. Tác dụng của các chất cảm ứng CYP2C9, thí dụ rifampicin trên dược động học của irbesartan chưa được đánh giá. Dược động học của digoxin không bị thay đổi khi uống cùng irbesartan.
4.9 Quá liều và xử trí:
Kinh nghiệm cho thấy những người trưởng thành dùng liều tới 900 mg/ngày trong 8 ngày không bị ngộ độc. Những biểu hiện có thể được nghĩ là do quá liều là hạ huyết áp và tim đập nhanh; nhịp tim chậm cũng có thể xảy ra khi quá liều. Chưa có thông tin cụ thể về việc điều trị quá liều với Irbesartan. Bệnh nhân cần được giám sát chặt chẽ, được điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ. Đề nghị xử trí bao gồm gây nôn và/hoặc rửa dạ dày. Than hoạt có thể được sử dụng trong điều trị quá liều. Irbesartan không bị loại trừ bởi sự thẩm tách máu.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm dược lý trị liệu: Thuộc nhóm chất đối kháng thụ thể angiotensin II.
Mã ATC: C09C A04
Irbesartan là một thuốc đối kháng chọn lọc trên thụ thể angiotensin-II (AT1) dùng đường uống. Thuốc ức chế toàn bộ hoạt động của angiotensin-II qua trung gian thụ thể AT1 bất kể nguồn gốc hoặc đường tổng hợp của angiotensin-II. Đối kháng chọn lọc thụ thể angiotensin-II (AT1) làm tăng nồng độ renin huyết tương và nồng độ angiotensin-II, đồng thời làm giảm nồng độ aldosteron huyết tương. Irbesartan đơn độc ở các liều khuyến cáo không làm ảnh hưởng đến nồng độ kali trong huyết tương. Irbesartan không ức chế men chuyển (kininase-II), là men tạo ra angiotensin-II và cũng không tác động lên sự thoái biến của brandykinin thành chất chuyển hóa không có hoạt tính. Irbesartan không cần phải chuyển hóa thành các chất chuyển hóa để có tác động này.
Hiệu quả lâm sàng:
Tăng huyết áp:
Irbesartan làm hạ huyết áp với thay đổi tối thiểu nhịp tim ở chuột cống. Giảm huyết áp phụ thuộc liều, đạt khuynh hướng ổn định ở liều dùng trên 300 mg dùng một lần/ngày. Các liều 150-300 mg một lần/ngày làm hạ huyết áp đáy đo ở tư thế ngồi và đo ở tư thế nằm (nghĩa là 24 giờ sau khi dùng thuốc) trung bình là 8-13/5-8mmHg (tâm thu/tâm trương) tốt hơn những người dùng giả dược.
Sự giảm của huyết áp đỉnh đạt được trong 3-6 giờ sau khi uống thuốc và tác dụng hạ huyết áp được duy trì ít nhất 24 giờ. Trong 24 giờ, huyết áp hạ 60-70% huyết áp đỉnh tương ứng tâm trương và tâm thu ở liều khuyến cáo. Liều dùng 150mg một lần/ngày làm hạ huyết áp đáy và huyết áp trung bình trong 24 giờ tương tự như khi dùng tổng liều đó nhưng chia làm 2 lần/ngày.
Tác động hạ huyết áp của Irbesartan rõ rệt sau 1-2 tuần, với hiệu quả tối đa xuất hiện sau khi bắt đầu điều trị 4-6 tuần. Các tác động chống lại sự tăng huyết áp được duy trì trong suốt thời gian điều trị. Sau khi ngưng điều trị, huyết áp dần dần trở lại mức ban đầu. Hiện tượng huyết áp dội ngược không xảy ra.
Tác động hạ huyết áp của irbesartan và thuốc lợi tiểu nhóm thiazide bổ sung cho nhau. Ở những bệnh nhân không được kiểm soát tốt huyết áp khi dùng irbesartan một mình, sự kết hợp một lượng nhỏ hydrochlorothiazide (12,5 mg) với irbesartan một lần/ngày làm giảm nhiều hơn mức huyết áp đáy so với giả dược là 7-10/3-6mmHg (tâm thu/tâm trương).
Hiệu quả của Irbesartan không bị ảnh hưởng bởi tuổi tác hoặc giới tính. Cũng như các thuốc tác động trên hệ thống renin-angiotensin, những bệnh nhân tăng huyết áp da đen khi dùng irbesartan đơn trị liệu thì có đáp ứng kém hơn. Khi irbesartan được dùng kết hợp với một lượng nhỏ hydrochlorothiazide (ví dụ 12,5 mg/ngày), đáp ứng hạ huyết áp ở những bệnh nhân da đen tương tự với bệnh nhân da trắng.
Không có tác động lâm sàng quan trọng nào trên acid uric huyết thanh hoặc bài tiết acid uric nước tiểu.
Tăng huyết áp và bệnh thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2:
Nghiên cứu “Irbesartan Diabetic Nephropathy Trial = IDNT” cho thấy irbesartan làm giảm tiến trình của bệnh thận ở bệnh nhân bị suy thận mạn và đã xuất hiện protein niệu. IDNT là một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên có kiểm soát về tỷ lệ tử vong và thương tật nhằm so sánh Irbesartan với Amlodipine và giả dược. Ở 1715 bệnh nhân tăng huyết áp bị đái tháo đường týp 2, có protein niệu ≥ 900 mg/ngày và nồng độ creatinin huyết thanh trong khoảng 1,0-3,0 mg/dl, theo dõi hiệu quả dùng Irbesartan trong dài hạn (trung bình 2,6 năm) trên sự tiến triển của bệnh thận và tử vong do mọi nguyên nhân. Bệnh nhân được điều chỉnh liều từ 75 mg lên đến liều duy trì là 300 mg Irbesartan, từ 2,5 mg đến 10 mg amlopidine, hay giả dược tùy theo mức dung nạp. Bệnh nhân ở tất cả các nhóm điều trị được dùng từ 2 đến 4 loại thuốc hạ áp theo tiêu chuẩn (nghĩa là gồm thuốc lợi tiểu, chẹn bêta, chẹn alpha) để đạt được mức huyết áp mục tiêu dự kiến là ≤ 135/85mmHg hay giảm được 10mmHg huyết áp tâm thu nếu mức huyết áp ban đầu > 160mmHg. 60% bệnh nhân dùng giả dược đạt được mức huyết áp mục tiêu trong lúc tỷ lệ này ở nhóm dùng irbesartan là 76% và nhóm dùng amlodipine là 78%. Irbesartan làm giảm có ý nghĩa thống kê nguy cơ tương đối gộp các tiêu chí chính gồm nồng độ creatinin tăng gấp đôi, suy thận đến giai đoạn cuối hay tử vong do mọi nguyên nhân. Gần 33% bệnh nhân ở nhóm dùng irbesartan gặp nguy cơ gộp tiêu chí chính về thận so với 39% và 41% ở nhóm dùng giả dược và amlodipine [mức giảm nguy cơ tương đối là 20% so với giả dược (p = 0,024) và mức giảm tương đối 23% so với amlodipine (p = 0,006)]. Khi phân tích từng thành phần trong gộp tiêu chí chính, người ta thấy tiêu chí tử vong do mọi nguyên nhân không bị ảnh hưởng, trong lúc các tiêu chí như suy thận giai đoạn cuối có khuynh hướng giảm tốt và tiêu chí tăng gấp đôi nồng độ creatinin giảm có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu “Effects of Irbesartan on Microalbuminuria in Hypertensive Patients with type 2 Diabetes Mellitus = IRMA 2” cho thấy irbesartan dùng ở liều 300mg làm giảm tiến trình dẫn đến protein niệu ở bệnh nhân có albumin niệu vi lượng. IRMA 2 là nghiên cứu mù đôi so sánh với giả dược về tỷ lệ thương tật trên 590 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có albumin niệu vi lượng (30-300 mg/ngày) và có chức năng thận bình thường (creatinine huyết thanh ≤ 1,5 mg/dl ở nam và < 1,1 mg/dl ở nữ). Nghiên cứu theo dõi trong dài hạn (2 năm) hiệu quả của Irbesartan trên tiến trình dẫn đến protein niệu lâm sàng (tỷ lệ bài tiết albumin > 300 mg/ngày, và mức tăng bài tiết albumin ít nhất là 30% so với mức ban đầu). Mức huyết áp dự kiến cần đạt là 135/85mmHg. Có sử dụng kết hợp thêm các thuốc hạ áp khác (ngoại trừ thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II khác và chẹn calcium nhóm dihydropyridine) nếu thấy cần thiết để nhằm đạt được mức huyết áp mục tiêu đã dự kiến. Trong khi mức huyết áp đã được như mong muốn là như nhau ở tất cả các nhóm, có ít bệnh nhân ở nhóm dùng irbesartan 300 mg (5,2%) so với nhóm dùng giả dược (14,9%) hoặc nhóm dùng irbesartan 150 mg (9,7%) tiến triển đến protein niệu, với mức giảm nguy cơ tương đối là 70% so với giả dược (p = 0,0004) ở liều cao. Trong 3 tháng đầu của điều trị người ta không thấy hiện tượng cải thiện độ thanh thải của cầu thận. Hiện tượng làm chậm tiến trình dẫn đến protein niệu lâm sàng càng ngày càng rõ rệt trong 3 tháng đầu của điều trị và tiếp tục duy trì suốt giai đoạn 2 năm theo dõi. Hiện tượng albumin niệu về mức bình thường thường gặp ở nhóm dùng Irbesartan (34%) nhiều hơn là nhóm dùng giả dược (21%).
Cơ chế tác dụng:
Irbesartan là một thuốc dùng đường uống có tác dụng đối kháng chọn lọc trên thụ thể angiotensin-II (phân nhóm AT1).
Irbesartan chẹn thụ thể AT1 của angiotensin-II giúp ngăn chặn toàn bộ tác động của angiotensin-II qua trung gian thụ thể AT1 bất kể nguồn gốc hoặc đường tổng hợp của angiotensin-II. Đối kháng chọn lọc thụ thể của angiotensin-II (AT1) làm tăng renin huyết tương và nồng độ angiotensin-II, làm giảm nồng độ aldosterone huyết tương. Nồng độ kalium trong huyết thanh không bị ảnh hưởng một cách có ý nghĩa bởi Irbesartan với liều khuyến cáo. Irbesartan không ức chế men chuyển (kinase-II) là men tạo ra angiotensin-II và là men tác động lên sự thoái giáng của bradykinin thành các chất chuyển hóa bất hoạt. Irbesartan không cần phải chuyển thành các chất chuyển hóa để có tác động này.
5.2. Dược động học:
Sau khi uống, irbesartan được hấp thu tốt: các nghiên cứu về sinh khả dụng tuyệt đối cho các giá trị khoảng 60-80%. Uống thuốc trong khi ăn cũng không ảnh hưởng đáng kể đến sinh khả dụng của irbesartan. Tỷ lệ gắn kết với protein huyết tương là 96%, gắn kết không đáng kể với các thành phần tế bào máu. Thể tích phân bố là 53-93 lít. Khi dùng Irbesartan có đánh dấu 14C bằng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch 80-85% hoạt tính phóng xạ lưu hành trong huyết tương là của irbesartan dạng không thay đổi. Irbesartan được chuyển hóa bởi gan qua glucurono kết hợp và ôxyt hóa. Chất chuyển hóa lưu hành chính là Irbesartan glucurono kết hợp (gần 6%). Nghiên cứu in vitro cho thấy Irbesartan được ôxyt hóa chủ yếu bởi Cytochrome P450 men CYP2C9, chuyển hóa qua đồng diếu tố CYP3A4 không đáng kể.
Ở những mức liều đi từ 10 đến 600mg tính chất dược động học của Irbesartan biểu thị tuyến tính theo liều. Ở mức liều uống cao hơn 600mg (gấp đôi liều khuyến cáo tối đa) tính chất tuyến tính theo liều này thấp đi, cơ chế của hiện tượng này không rõ. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được ở 1,5-2 giờ sau khi uống thuốc. Độ thanh thải của toàn cơ thể và độ thanh thải qua thận lần lượt là 157-176 và 3-3,5 ml/phút. Thời gian bán hủy thải trừ cuối cùng là 11-15 giờ. Nồng độ thuốc ổn định trong huyết tương đạt được sau 3 ngày kể từ sau khi bắt đầu dùng liều đầu tiên duy nhất. Tích lũy giới hạn của Irbesartan (< 20%) trong huyết tương khi dùng các liều lập lại. Trong một nghiên cứu nồng độ Irbesartan trong huyết tương ở những bệnh nhân nữ có cao hơn một chút. Tuy nhiên, không có khác biệt về thời gian bán hủy và tỷ lệ tích lũy Irbesartan. Do đó không cần thiết phải điều chỉnh liều ở bệnh nhân nữ. Diện tích dưới đường cong và Cmax của Irbesartan cũng đôi khi có cao hơn ở những người già (≥ 65 tuổi) so với những người trẻ tuổi (18-40 tuổi). Tuy nhiên thời gian bán hủy cuối cùng không bị ảnh hưởng rõ rệt do đó không cần thiết phải chỉnh liều ở người già.
Irbesartan và chất chuyển hóa của nó được thải trừ qua cả hai đường mật và thận. Sau khi uống hoặc tiêm tĩnh mạch Irbesartan có đánh dấu 14C có khoảng 20% hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu và phần còn lại trong phân. Có dưới 2% liều dùng được bài tiết qua nước tiểu là Irbesartan dạng không đổi.
Suy thận: ở những bệnh nhân bị suy thận hoặc những bệnh nhân đang thẩm tách máu, các thông số dược lý của Irbesartan không bị ảnh hưởng đáng kể. Irbesartan không bị thẩm phân loại trừ.
Suy gan: ở những bệnh nhân bị xơ gan nhẹ đến trung bình, các thông số dược động học của Irbesartan không bị thay đổi đáng kể.
Chưa có nghiên cứu nào được tiến hành trên các bệnh nhân suy gan nặng.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: lactose monohydrat, microcrystalline cellulose, natri croscarmellose, hypromellose, Silicon dioxid, magnesi stearat, titan dioxid, macrogol 3000, sáp carnauba.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
An toàn tiền lâm sàng
Không có bằng chứng về sự bất thường toàn thân hoặc độc tính trên các cơ quan đích với liều dùng trên lâm sàng. Các nghiên cứu về độ an toàn tiền lâm sàng với liều cao Irbesartan (≥ 250mg/kg/ngày ở chuột và ≥ 100mg/kg/ngày ở khỉ) có thể làm giảm các thông số về hồng cầu (lượng hồng cầu, hemoglobin, hematocrit). Với liều rất cao (≥ 500mg/kg/ngày) gây ra các thoái biến ở thận (như viêm thận mô kẽ, giãn ống thận, kiềm hóa do ống thận, tăng nồng độ urê và creatinin huyết tương) do irbesartan được quan sát thấy trên chuột thí nghiệm và trên khỉ và được xem như là thứ phát từ tác dụng hạ áp của thuốc nên làm giảm sự tưới máu thận. Hơn nữa, irbesartan còn gây ra sự tăng sản/phì đại các tế bào cận quản cầu (ở chuột với liều ≥ 90mg/kg/ngày, ở khỉ với liều ≥ 10mg/kg/ngày). Mọi sự thay đổi này đều được xem như là do tác động dược lý của irbesartan. Với liều điều trị của irbesartan ở người, sự tăng sản/phì đại các tế bào cận quản cầu không thấy xuất hiện ở bất cứ mức độ nào.
Không có bằng chứng về tính sinh đột biến gen, khả năng tách nhiễm sắc thể hoặc khả năng sinh ung thư của thuốc.
Các nghiên cứu ở động vật với irbesartan cho thấy tác động sinh độc tính tạm thời (làm tăng tạo khoang vùng bể thận, ứ nước niệu quản hoặc phù dưới da) ở bào thai chuột và hồi phục sau khi sinh. Ở thỏ, sẩy thai hoặc sinh non có thể dẫn đến tử vong xuất hiện với liều đủ gây ra độc tính ở thỏ mẹ. Không thấy có tác động gây ra quái thai ở chuột hoặc thỏ.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM