Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Anoro Ellipta
Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Anoro Ellipta (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle
1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Umeclidinium + Vilanterol
Phân loại: Thuốc dự phòng co thắt phế quản.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): R03AL03.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Anoro Ellipta
Hãng sản xuất : Glaxo Operations UK Limited
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Thuốc bột hít phân liều: hộp 1 dụng cụ hít x 30 liều hít.
Mỗi liều phóng thích: umeclidinium 55 mcg (tương đương umeclidinium bromide 65 mcg), vilanterol 22 mcg (dạng trifenatate).
tương ứng:
Mỗi liều chưa phóng thích: umeclidinium 62,5 mcg (tương đương umeclidinium bromide 74,2 mcg), vilanterol 25 mcg (dạng trifenatate).
Thuốc tham khảo:
| ANORO ELLIPTA | ||
| Mỗi liều phóng thích có chứa: | ||
| Umeclidinium | …………………………. | 62,5 mcg |
| Vilanterol | …………………………. | 25 mcg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
ANORO ELLIPTA được chỉ định trong điều trị duy trì giãn phế quản để làm giảm các triệu chứng ở người lớn bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
ANORO ELLIPTA chỉ dùng để hít qua miệng.
ANORO ELLIPTA nên được sử dụng 1 lần duy nhất, vào 1 thời điểm cố định mỗi ngày.
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
– xem Hình 1.


Liều dùng:
Người lớn
Liều được khuyến cáo và là liều tối đa là một liều hít ANORO ELLIPTA 62,5/25 mcg, 1 lần/ngày.
Trẻ em
Dựa vào chỉ định của sản phẩm, việc sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi là không phù hợp
Người cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều ở các bệnh nhân trêm 65 tuổi (xem mục Dược lý – Dược động học – Các đối tượng bệnh nhân đặc biệt)
Suy thận
Không cần điều chỉnh liều ở các bệnh nhân suy thận (xem mục Dược lý – Dược động học – Các đối tượng bệnh nhân đặc biệt).
Suy gan
Không cần điều chỉnh liều ở các bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc trung bình. Việc sử dụng ANORO ELLIPTA chưa được nghiên cứu trên các bệnh nhân suy gan nặng, do vậy nên được sử dụng thận trọng (xem mục Dược lý – Dược động học – Các đối tượng bệnh nhân đặc biệt)
4.3. Chống chỉ định:
Chống chỉ định dùng ANORO ELLIPTA cho các bệnh nhân dị ứng nặng với protein-sữa.
Chống chỉ định cho các bệnh nhân nhạy cảm với các thành phần dược chất và bất kỳ tá dược nào.
4.4 Thận trọng:
Chất chủ vận beta2-adrenergic tác dụng kéo dài (LABA), chẳng hạn như vilanterol, làm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân hen. Một thử nghiệm đối chứng giả dược với một LABA khác (salmeterol) cũng đã cho thấy sự gia tăng các trường hợp tử vong do hen. Tác động này của salmeterol được xem là tác dụng nhóm của tất cả LABA.
Việc sử dụng ANORO ELLIPTA chưa được nghiên cứu ở các bệnh nhân hen, và không được khuyến cáo dùng cho nhóm bệnh nhân này.
ANORO ELLIPTA được sử dụng trong điều trị duy trì COPD. Không nên dùng ANORO ELLIPTA để làm giảm các triệu chứng cấp tính, tức là dùng như thuốc cắt cơn trong điều trị các đợt co thắt phế quản cấp tính. Nên điều trị các triệu chứng cấp tính bằng thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn dạng hít. Việc gia tăng sử dụng thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn để làm giảm các triệu chứng cho thấy rằng tình trạng kiểm soát bệnh xấu đi và khi đó bệnh nhân nên đến bác sỹ khám lại.
Cũng như các liệu pháp đường hít khác, việc sử dụng ANORO ELLIPTA có thể gây co thắt phế quản nghịch lý làm đe dọa tính mạng bệnh nhân. Nên ngừng điều trị bằng ANORO ELLIPTA nếu co thắt phế quản nghịch lý xảy ra và sử dụng liệu pháp thay thế nếu cần.
Các tác động trên tim mạch, ví dụ loạn nhịp tim như rung nhĩ và nhịp tim nhanh, có thể thấy sau khi dùng các thuốc kích thích thần kinh giao cảm và các thuốc đối kháng thụ thể muscarinic, bao gồm ANORO ELLIPTA. Do đó, nên thận trọng khi dùng ANORO ELLIPTA cho các bệnh nhân bị bệnh tim mạch nặng.
Do hoạt tính kháng muscarinic của thuốc, nên thận trọng khi dùng ANORO ELLIPTA cho các bệnh nhân bị bệnh glôcôm góc đóng hoặc bí tiểu.
Việc sử dụng umeclidinium/vilanterol chưa được nghiên cứu trên các bệnh nhân suy gan nặng, do vậy nên được sử dụng thận trọng (xem mục Liều lượng và cách dùng).
Chất chủ vận beta2-adrenergic có thể làm giảm kai huyết đáng kể ở một số bệnh nhân, có khả năng gây ra các tác động tim mạch bất lợi. Sự giảm kali huyết thanh thường là thoáng qua, không cần liệu pháp bổ sung. Không có các tác động liên quan về mặt lâm sàng của giảm kali huyết được quan sát thấy trong các nghiên cứu lâm sàng với umeclidinium/vilanterol ở liều điều trị khuyến cáo. Cần thận trọng khi sử dụng umeclidinium/vilanterol với các sản phẩm thuốc khác cũng có khả năng gây giảm kali huyết (xem mục Tương tác).
Chất chủ vận beta2-adrenergic có thể gây tăng đường huyết thoáng qua ở một số bệnh nhân. Không có các tác động liên quan về mặt lâm sàng lên glucose huyết tương được quan sát thấy trong các nghiên cứu lâm sàng với umeclidinium/vilanterol ở liều điều trị khuyến cáo. Ngay khi bắt đầu điều trị với umeclidinium/vilanterol, cần theo dõi chặt chẽ nồng độ glucose huyết tương ở các bệnh nhân bị tiểu đường.
Thuốc này có chứa lactose. Những bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp như không dung nạp galactose, thiếu hụt Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Cần thận trọng khi sử dụng umeclidinium/vilanterol ở những bệnh nhân bị rối loạn co giật hoặc nhiễm độc giáp, và ở những bệnh nhân thường không đáp ứng với chất chủ vận beta2-adrenergic.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Umeclidinium/vilanterol không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
Không có hoặc có dữ liệu hạn chế về việc sử dụng ANORO ELLIPTA ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy độc tính trên cơ quan sinh sản sau khi dùng vilanterol hít (xem mục An toàn tiền lâm sàng). Chỉ nên sử dụng ANORO ELLIPTA trong thai kỳ nếu lợi ích mong đợi cho người mẹ vượt trội nguy cơ có thể có với thai.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa biết liệu umeclidinium hay vilanterol có được bài tiết qua sữa mẹ hay không. Tuy nhiên, các chất chủ vận beta2 khác đã được phát hiện trong sữa mẹ. Nguy cơ đối với trẻ sơ sinh/trẻ nhỏ bú sữa mẹ không thể được loại trừ.
Nên xem xét lợi ích của việc bú sữa mẹ đối với trẻ và lợi ích của việc điều trị đối với mẹ để quyết định ngừng cho trẻ bú mẹ hoặc ngừng liệu pháp ANORO ELLIPTA.
Khả năng sinh sản
Không có dữ liệu về tác động của ANORO ELLIPTA lên khả năng sinh sản ở người. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy umeclidinium hay vilanterol không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản (xem mục An toàn tiền lâm sàng).
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng
Hồ sơ tính an toàn của ANORO ELLIPTA dựa trên khoảng 3000 bệnh nhân COPD sử dụng các liều umeclidinium/vilanterol 62,5/25 mcg hoặc cao hơn trong khoảng thời gian đến 1 năm trong các nghiên cứu lâm sàng. Trong số này, có khoảng 1600 bệnh nhân sử dụng liều 62,5/25 mcg và khoảng 1300 bệnh nhân sử dụng liều 125/25 mcg, đều dùng 1 lần mỗi ngày.
Các tác dụng không mong muốn (ADRs) liệt kê dưới đây được phân loại theo hệ cơ quan của MedDRA và tần suất. Tần suất được xác định như sau: rất phổ biến (≥ 1/10), phổ biến (≥ 1/100 và < 1/10), không phổ biến (≥ 1/1000 và < 1/100), hiếm (≥ 1/10.000 và < 1/1000) và rất hiếm (< 1/10.000).
– xem Bảng 3.

Dữ liệu sau lưu hành thuốc
– xem Bảng 4.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Các thuốc chẹn beta
Các thuốc chẹn beta-adrenergic có thể làm suy yếu hoặc đối kháng tác dụng của các chất chủ vận beta2, ví dụ vilanterol. Nên tránh sử dụng đồng thời ANORO ELLIPTA với các thuốc chẹn beta-adrenergic chọn lọc hoặc không chọn lọc, trừ khi có các lý do thuyết phục cho việc sử dụng kết hợp đó.
Các tương tác trên kênh vận chuyển và chuyển hóa
Vilanterol là một cơ chất của cytochrome P450 3A4 (CYP3A4). Việc sử dụng đồng thời các chất ức chế mạnh CYP3A4 (ví dụ như ketoconazole, clarithromycin, itraconazole, ritonavir, telithromycin) có thể gây ức chế sự chuyển hóa và gây tăng phơi nhiễm toàn thân với vilanterol. Sử dụng đồng thời với ketoconazole (400 mg) trên người tình nguyện khỏe mạnh làm tăng AUC(0-t) và Cmax vilanterol trung bình lần lượt là 65% và 22%. Sự tăng phơi nhiễm với vilanterol không có liên quan với sự tăng thuốc chủ vận beta-adrenergic liên quan đến các tác động toàn thân trên nhịp tim, kali máu, hoặc khoảng QT (hiệu chỉnh bằng phương pháp Fridericia). Nên thận trọng khi sử dụng kết hợp umeclidinium/vilanterol với ketoconazole và các chất ức chế CYP3A4 mạnh khác bởi vì có khả năng gây tăng phơi nhiễm toàn thân với vilanterol, điều này có thể dẫn đến tăng khả năng gây ra các tác dụng không mong muốn. Verapamil, một chất ức chế CYP3A4 trung bình, không có tác động đáng kể đến dược động học của vilanterol.
Umeclidinium là một cơ chất của cytochrome P450 2D6 (CYP2D6). Dược động học bền vững của umeclidinium đã được đánh giá trên người tình nguyện khỏe mạnh thiếu CYP2D6 (chuyển hóa kém). Không có tác động lên AUC hoặc Cmax của umeclidinium được ghi nhận ở liều cao gấp 8 lần. AUC của umeclidinium tăng khoảng 1,3 lần được ghi nhận ở liều cao gấp 16 lần, trong khi Cmax không bị ảnh hưởng. Dựa trên mức độ quan trọng của những thay đổi này, không có tương tác thuốc trên lâm sàng được dự đoán khi sử dụng kết hợp umeclidinium/vilanterol với các chất ức chế CYP2D6 hoặc khi sử dụng cho các bệnh nhân có yếu tố di truyền thiếu hoạt tính CYP2D6 (chuyển hóa kém).
Cả umeclidinium và vilanterol là các cơ chất của kênh vận chuyển P-glycoprotein (P-gp). Tác động của chất ức chế P-gp trung bình verapamil (240 mg một lần mỗi ngày) lên dược động học ổn định của umeclidinium và vilanterol đã được đánh giá ở người tình nguyện khỏe mạnh. Không có tác động của verapamil lên Cmax của umeclidinium hay vilanterol được ghi nhận. Đã ghi nhận được AUC của umeclidinium tăng khoảng 1,4 lần trong khi AUC của vilanterol không thay đổi. Dựa trên mức độ quan trọng của những thay đổi này, không có tương tác thuốc trên lâm sàng được dự đoán khi sử dụng kết hợp umeclidinium/vilanterol với các chất ức chế P-gp.
Các thuốc kháng muscarinic và kích thích thần kinh giao cảm khác
Việc sử dụng đồng thời umeclidinium/vilanterol với các thuốc kháng muscarinic tác dụng kéo dài khác, các thuốc chủ vận beta2-adrenergic tác dụng kéo dài hoặc các thuốc khác có chứa một trong số các chất này, vẫn chưa được nghiên cứu và không được khuyến cáo vì điều này có thể làm tăng khả năng xảy ra các tác dụng không mong muốn đã biết khi sử dụng các chất đối kháng muscarinic dạng hít hoặc các chất chủ vận beta2-adrenergic (xem mục Cảnh báo và thận trọng và Quá liều).
Giảm kali huyết
Sử dụng thuốc giảm kali huyết đồng thời với các dẫn xuất methylxanthine, steroid, hoặc các thuốc lợi tiểu không giữ kali có thể làm tăng khả năng giảm kali huyết của chất chủ vận beta2-adrenergic, do vậy nên sử dụng thận trọng (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Các thuốc điều trị COPD khác
Mặc dù chưa có các nghiên cứu chính thức về tương tác thuốc in vivo được thực hiện, nhưng khi dùng đồng thời umeclidinium/vinalterol dạng hít với các thuốc COPD khác, bao gồm các thuốc giãn phế quản kích thích thần kinh giao cảm tác dụng ngắn và corticosteroid dạng hít, không thấy có bằng chứng lâm sàng về tương tác thuốc.
4.9 Quá liều và xử trí:
Các dấu hiệu và triệu chứng
Việc sử dụng quá liều ANORO ELLIPTA sẽ có khả năng gây ra các dấu hiệu và triệu chứng do tác dụng của các thành phần riêng rẽ, tương tự như các tác dụng không mong muốn đã được biết của thuốc đối kháng muscarinic dạng hít (như khô miệng, rối loạn điều tiết thị giác và nhịp tim nhanh) và các tác dụng không mong muốn ghi nhận được khi quá liều các thuốc chủ vận beta2 khác (như run, đau đầu và nhịp tim nhanh).
Xử trí
Không có biện pháp điều trị đặc hiệu nào khi quá liều ANORO ELLIPTA. Nếu xảy ra quá liều, bệnh nhân nên được điều trị hỗ trợ với sự theo dõi thích hợp khi cần thiết.
Các biện pháp tiếp theo nên tuân theo chỉ định trên lâm sàng hoặc khuyến cáo của trung tâm chống độc Quốc gia, nếu có.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm trị liệu dược lý: Thuốc điều trị tắc nghẽn đường hô hấp, adrenergic phối hợp với thuốc kháng cholinergic
Mã ATC: R03AL03
Cơ chế tác dụng
Umeclidinium/vilanterol là 1 sự phối hợp chất đối kháng thụ thể muscarinic tác dụng kéo dài/chất chủ vận beta2-adrenergic tác dụng kéo dài dạng hít (LAMA/LABA). Sau khi hít, cả hai thành phần tác động tại chỗ trên đường dẫn khí, làm giãn phế quản bằng các cơ chế riêng biệt.
Umeclidinium
Umediclinium là một chất đối kháng thụ thể muscarinic tác dụng kéo dài (cũng được xem như là một chất kháng cholinergic). Nó là một dẫn xuất quinuclidine, chất đối kháng thụ thể muscarinic có hoạt tính trên nhiều loại thụ thể muscarinic. Umeclidinium có tác động giãn phế quản bằng cách ức chế cạnh tranh sự gắn kết của acetylcholine với các thụ thể muscarinic trên cơ trơn đường dẫn khí. Umeclidinium có khả năng đảo nghịch chậm tại thụ thể muscarinic M3 ở người trên in vitro và có tác động kéo dài trên in vivo khi được đưa trực tiếp đến phổi trong các mô hình tiền lâm sàng.
Vilanterol
Vilanterol là một chất chủ vận beta2-adrenergic, có tác dụng chọn lọc và kéo dài (chủ vận beta2).
Tác dụng dược lý của các thuốc chủ vận beta2, kể cả vilanretol ít nhất là do kích thích các enzym adenylate cyclase nội bào, là enzymm xúc tác quá trình chuyển adenosine triphosphate (ATP) thành cyclin-3′, 5′-adenosine monophosphate (AMP vòng). Nồng độ AMP vòng tăng gây giãn cơ trơn phế quản và ức chế sự phóng thích các chất trung gian gây phản ứng quá mẫn tức thì từ các tế bào, đặc biệt là dưỡng bào (mast cell).
Tác dụng dược lực
Trong một nghiên cứu về hiệu quả lâm sàng so sánh với giả dược, ANORO ELLIPTA làm tăng FEV1 sau một liều đầu tiên ở ngày thứ nhất với sự cải thiện so với giả dược là 0,11 L(p < 0,001) sau 15 phút từ khi dùng thuốc. Sự thay đổi FEV1 từ đường nền đến đạt đỉnh, trong vòng 0-6 giờ sau khi dùng thuốc, ở ngày thứ nhất và tuần thứ 24 lần lượt là 0,27 L và 0,32 L khi dùng ANORO ELLIPTA, so với 0,11 L (ngày thứ nhất) và 0,10 L (tuần thứ 24) khi dùng giả dược.
Tác động trên tim mạch
Tác động của umeclidinium/vilanterol trên khoảng QT đã được đánh giá trong một nghiên cứu sử dụng umeclidinium/vilanterol liều 125/25 mcg hoặc 500/100 mcg, dùng 1 lần/ngày, trong 10 ngày có đối chứng với giả dược và moxifloxacin trên 103 người tình nguyện khỏe mạnh. Trung bình của sự khác biệt tối đa của QTcF (QT hiệu chỉnh bằng phương pháp Fridericia) so với giả dược là 4,3 (90% CI = 2,2 đến 6,4) miligiây sau 10 phút từ khi dùng umeclidinium/vilanterol 125/25 mcg và là 8,2 (90% CI = 6,2 đến 10,2) miligiây sau 30 phút từ khi dùng umeclidinium/vilanterol 500/100 mcg. Không ghi nhận được tác động của sự kéo dài khoảng QT trên lâm sàng.
Hơn nữa, không ghi nhận được ảnh hưởng đáng kể trên lâm sàng của umeclidinium/vilanterol đến nhịp tim khi theo dõi trên Holter 24 giờ trên 281 bệnh nhân dùng umeclidinium/vilanterol 125/25 mcg, 1 lần/ngày liên tục đến 12 tháng.
Cơ chế tác dụng:
Umeclidinium
Umediclinium là một chất đối kháng thụ thể muscarinic tác dụng kéo dài (cũng được xem như là một chất kháng cholinergic). Nó là một dẫn xuất quinuclidine, chất đối kháng thụ thể muscarinic có hoạt tính trên nhiều loại thụ thể muscarinic. Umeclidinium có tác động giãn phế quản bằng cách ức chế cạnh tranh sự gắn kết của acetylcholine với các thụ thể muscarinic trên cơ trơn đường dẫn khí. Umeclidinium có khả năng đảo nghịch chậm tại thụ thể muscarinic M3 ở người trên in vitro và có tác động kéo dài trên in vivo khi được đưa trực tiếp đến phổi trong các mô hình tiền lâm sàng.
Vilanterol
Vilanterol là một chất chủ vận beta2-adrenergic, có tác dụng chọn lọc và kéo dài (chủ vận beta2). Tác dụng dược lý của các thuốc chủ vận beta2, kể cả vilanretol ít nhất là do kích thích các enzym adenylate cyclase nội bào, là enzymm xúc tác quá trình chuyển adenosine triphosphate (ATP) thành cyclin-3′, 5′-adenosine monophosphate (AMP vòng). Nồng độ AMP vòng tăng gây giãn cơ trơn phế quản và ức chế sự phóng thích các chất trung gian gây phản ứng quá mẫn tức thì từ các tế bào, đặc biệt là dưỡng bào (mast cell).
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Khi dùng phối hợp umeclidinium và vilanterol qua đường hít, dược động học của từng thành phần được ghi nhận là tương tự như khi sử dụng riêng rẽ từng hoạt chất (xem mục Chuyển hóa – Tương tác thuốc-thuốc). Do vậy, dược động học của thuốc có thể được xem xét tương tự như từng thành phần hoạt chất riêng lẻ.
Hấp thu
Umeclidinium
Sau khi sử dụng umeclidinium dạng hít ở người tình nguyện khỏe mạnh, Cmax đạt được từ phút thứ 5 đến phút thứ 15. Sinh khả dụng tuyệt đối của umeclidinium dạng hít trung bình khoảng 13% liều thuốc, với sự hấp thu qua đường miệng không đáng kể. Sau khi dùng lặp lại liều umeclidinium hít, trạng thái ổn định đạt được trong khoảng 7 đến 10 ngày với sự tích lũy cao gấp 1,5 đến 2 lần.
Vilanterol
Sau khi sử dụng vilanterol dạng hít ở người tình nguyện khỏe mạnh, Cmax đạt được từ phút thứ 5 đến phút thứ 15. Sinh khả dụng tuyệt đối của vilanterol dạng hít là 27%, với sự hấp thu qua đường miệng không đáng kể. Sau khi dùng lặp lại liều vilanterol hít, trạng thái ổn định đạt được trong vòng 6 ngày với sự tích lũy cao gấp 2,4 lần.
Phân bố
Umeclidinium
Sau khi dùng đường tĩnh mạch cho các đối tượng khỏe mạnh, thể tích phân bố trung bình là 86 lít. Sự gắn kết với protein trong huyết tương người trung bình là 89% trên in vitro.
Vilanterol
Sau khi dùng đường tĩnh mạch cho các đối tượng khỏe mạnh, thể tích phân bố trung bình ở trạng thái ổn định là 165 lít. Sự gắn kết với protein trong huyết tương người trung bình là 94% trên in vitro.
Chuyển hóa
Umeclidinium
Các nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng umeclidinium được chuyển hóa chủ yếu qua cytochrome P450 2D6 (CYP2D6) và là cơ chất cho kênh vận chuyển P-glycoprotein (P-gp).
Các con đường chuyển hóa chính của umeclidinium là oxy hóa (hydroxylation, O-dealkylation) sau đó là liên hợp (glucoronidation, v.v.), tạo thành các chất chuyển hóa bị giảm hoạt tính dược lý hoặc các chất chuyển hóa chưa biết được hoạt tính dược lý. Sự phơi nhiễm toàn thân với các chất chuyển hóa là thấp.
Vilanterol
Các nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng vilanterol được chuyển hóa chủ yếu qua cytochrome P450 3A4 (CYP3A4) và là cơ chất cho kênh vận chuyển P-gp. Con đường chuyển hóa chính là O-dealkylation thành các chất chuyển hóa có hoạt tính chủ vận beta1 và beta2 suy giảm đáng kể. Sự chuyển hóa trong huyết tương sau khi dùng vilanterol đường miệng trong nghiên cứu đánh dấu phóng xạ ở người phù hợp với sự chuyển hóa bước đầu. Sự phơi nhiễm toàn thân với các chất chuyển hóa là thấp.
Tương tác thuốc-thuốc
Dữ liệu dược động học hiện có trên người tình nguyện khỏe mạnh và các bệnh nhân COPD cho thấy phơi nhiễm toàn thân (Cmax và AUC) và phơi nhiễm được dự đoán theo dược động học quần thể với umeclidinium và vilanterol không bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng phối hợp umeclidinium/vilanterol khi so sánh với khi sử dụng từng thành phần riêng lẻ. Dùng kết hợp với chất ức chế CYP3A4 mạnh ketoconazole (400 mcg) làm tăng giá trị trung bình AUC(0-t) và Cmax của vilanterol lần lượt là 65% và 22%. Sự tăng phơi nhiễm với vilanterol không liên quan đến sự gia tăng tác động toàn thân của chủ vận beta trên nhịp tim, kali máu hoặc khoảng QT (hiệu chỉnh bằng phương pháp Fridericia).
Cả umeclidinium và vilanterol đều là cơ chất của P-glycoprotein (P-gp). Tác động của chất ức chế kênh vận chuyển P-gp trung bình verapamil (240 mg, 1 lần/ngày) lên dược động học ở trạng thái ổn định của umeclidinium và vilanterol đã được đánh giá trên người tình nguyện khỏe mạnh. Không thấy tác động của verapamil lên Cmax umeclidinium hay vilanterol. Có sự gia tăng khoảng 1,4 lần đối với AUC của umeclidinium được ghi nhận nhưng không có ảnh hưởng đến AUC của vilanterol.
Thải trừ
Umeclidinium
Độ thanh thải huyết tương sau khi dùng đường tĩnh mạch là 151 lít/giờ. Sau khi dùng đường tĩnh mạch, khoảng 58% liều dùng được đánh dấu phóng xạ (hoặc 73% hoạt độ phóng xạ được tìm thấy) được bài tiết qua phân vào lúc 192 giờ sau liều dùng. Thải trừ qua nước tiểu chiếm khoảng 22% liều dùng được đánh dấu phóng xạ sau 168 giờ (27% hoạt độ phóng xạ được tìm thấy). Sự thải trừ các chất có liên quan đến thuốc qua phân sau khi dùng đường tĩnh mạch cho thấy có sự bài tiết thuốc vào trong mật. Sau khi dùng đường miệng trên các đối tượng nam giới khỏe mạnh, toàn bộ hoạt độ phóng xạ được bài tiết chủ yếu qua phân (92% liều dùng được đánh dấu phóng xạ hoặc 99% hoạt độ phóng xạ được tìm thấy) vào lúc 168 giờ sau liều dùng. Dưới 1% liều dùng qua đường miệng (1% hoạt độ phóng xạ được tìm thấy) được bài tiết qua nước tiểu, gợi ý rằng sự hấp thu sau khi dùng đường miệng là không đáng kể. Thời gian bán thải huyết tương của umeclidinium sau khi dùng liều hít trong 10 ngày trung bình là 19 giờ, với 3% đến 4% thuốc được bài tiết dưới dạng không đổi qua nước tiểu ở trạng thái ổn định.
Vilanterol
Độ thanh thải huyết tương của vilanterol sau khi dùng đường tĩnh mạch là 108 lít/giờ. Sau khi dùng đường miệng vilanterol được đánh dấu phóng xạ, kỹ thuật cân bằng khối lượng ghi nhận được 70% liều đánh dấu phóng xạ trong nước tiểu và 30% trong phân. Con đường thải trừ chính của vilanterol là sự chuyển hóa, sau đó bài tiết các chất chuyển hóa vào trong nước tiểu và phân. Thời gian bán thải trung bình của vilanterol là 11 giờ sau khi dùng liều hít trong 10 ngày.
*Các đối tượng bệnh nhân đặc biệt*
Người cao tuổi
Phân tích dược động học quần thể cho thấy dược động học của umeclidinium và vilanterol ở những bệnh nhân COPD từ 65 tuổi trở lên và những bệnh nhân COPD dưới 65 tuổi là tương tự nhau.
Suy thận
Không có bằng chứng của sự tăng phơi nhiễm toàn thân với umeclidinium hoặc vilanterol (Cmax và AUC) trên các đối tượng suy thận nặng, và không có bằng chứng về sự gắn kết protein bị biến đổi giữa các đối tượng suy thận nặng và người tình nguyện khỏe mạnh.
Suy gan
Không có bằng chứng của sự tăng phơi nhiễm toàn thân với umeclidinium hoặc vilanterol (Cmax và AUC) ở các đối tượng suy gan mức độ vừa, và không có bằng chứng về sự gắn kết protein bị biến đổi giữa các đối tượng suy gan mức độ vừa và người tình nguyện khỏe mạnh. Umeclidinium/vilanterol chưa được đánh giá trên các đối tượng suy gan nặng.
Các đặc điểm bệnh nhân khác
Một phân tích dược động học quần thể cho thấy không cần điều chỉnh liều umeclidinium hoặc vilanterol dựa trên ảnh hưởng về tuổi, chủng tộc, giới tính, việc sử dụng corticosteroid dạng hít hay cân nặng. Một nghiên cứu ở những đối tượng chuyển hóa CYP2D6 kém cho thấy không có bằng chứng rõ rệt trên lâm sàng về ảnh hưởng trên tính đa kiểu hình của hệ gien CYP2D6 trên sự phơi nhiễm toàn thân với umeclidinium.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
CÁC NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG
Tính an toàn và hiệu quả của ANORO ELLIPTA dùng 1 lần/ngày đã được đánh giá trong 8 nghiên cứu lâm sàng pha III ở người trưởng thành với chẩn đoán lâm sàng COPD; trong đó 5 nghiên cứu trong thời gian 6 tháng về hiệu quả (DB2113361, DB2113373, DB2113360, DB2113374 và ZEP117115), 2 nghiên cứu 12 tuần về sức bền thể lực (exercise endurance) (DB2114417 và DB2114418) và 1 nghiên cứu (DB2113359) đánh giá tính an toàn của umeclidinium/vilanterol sử dụng trong suốt liệu trình 12 tháng. Các nghiên cứu gồm có ANORO ELLIPTA 62,5/25 mcg và/hoặc umeclidinium/vilanterol 125/25 mcg, tất cả dùng 1 lần/ngày. Các kết quả về tính hiệu quả của ANORO ELLIPTA 62,5/25 mcg được trình bày dưới đây.
Các nghiên cứu đối chứng với giả dược
Trong một nghiên cứu 6 tháng, DB2113373, ANORO ELLIPTA 62,5/25 mcg cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về chức năng phổi (được xác định bằng sự thay đổi FEV1 đáy (trough) ở tuần thứ 24 so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu) khi so sánh với giả dược (xem Bảng 1). Tác dụng giãn phế quản của ANORO ELLIPTA khi so sánh với giả dược đã được thấy rõ sau ngày đầu tiên điều trị và được duy trì trong suốt khoảng thời gian điều trị 24 tuần.
– xem Bảng 1.

ANORO ELLIPTA cho thấy sự cải thiện nhiều hơn có ý nghĩa thống kê về giá trị trung bình có trọng số của FEV1 trong 0-6 giờ sau khi dùng thuốc ở tuần thứ 24 so với thời điểm bắt đầu khi so sánh với giả dược (0,24 L; p < 0,001).
ANORO ELLIPTA cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số Chỉ số khó thở thay đổi (Transition Dyspnoea Index (TDI)) ở tuần thứ 24 (1,2 đơn vị; p < 0,001) khi so sánh với giả dược. Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân sử dụng ANORO ELLIPTA có đáp ứng với sự khác biệt tối thiểu có ý nghĩa lâm sàng quan trọng (Minimum clinically important difference (MCID)) ≥ 1 đơn vị điểm số TDI ở tuần 24 là 58% (226/389) so với 41% (106/260) khi dùng giả dược.
ANORO ELLIPTA cũng cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê so với giả dược về sự thay đổi tổng điểm tại tuần thứ 24 so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu trong Bảng câu hỏi về Hô hấp của St. George (SGRQ), một công cụ đo lường tình trạng sức khỏe chuyên biệt cho bệnh (-5,51 đơn vị; p ≤ 0,001). Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân sử dụng ANORO ELLIPTA có đáp ứng với sự giảm bớt ≥ 4 đơn vị (MCID) so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu trong tổng điểm SGRQ là 49% (188/381) so với 34% (86/254) khi dùng giả dược.
Hơn nữa, những bệnh nhân được điều trị bằng ANORO ELLIPTA có nhu cầu sử dụng salbutamol để cắt cơn ít hơn so với nhóm dùng giả dược (giảm có ý nghĩa thống kê trung bình 0,8 nhát xịt mỗi ngày; p = 0,001). Trong suốt nghiên cứu 24 tuần, các bệnh nhân được điều trị bằng ANORO ELLIPTA có số ngày không cần dùng thuốc cắt cơn nhiều hơn (trung bình 36,1%) so với nhóm dùng giả dược (trung bình 21,7%; không có phân tích thống kê chính thức được thực hiện trên tiêu chí này).
Điều trị với ANORO ELLIPTA cho thấy một sự giảm 50% có ý nghĩa thống kê về nguy cơ xảy ra một đợt kịch phát COPD mức độ trung bình/nặng (dựa trên phân tích thời gian đến khi xảy ra cơn kịch phát đầu tiên) so với giả dược (Tỷ số nguy cơ 0,5; 95% CI: 0,3;0,8; p = 0,004), trong đó, phần lớn bệnh nhân báo cáo là không xuất hiện các đợt kịch phát COPD yêu cầu phải dùng corticosteroid đường uống/toàn thân và/hoặc các kháng sinh (72%) và không xuất hiện các đợt kịch phát COPD yêu cầu phải nhập viện (89%) trong 12 tháng trước khi sàng lọc.
Các nghiên cứu so sánh với tiotropium
Trong các nghiên cứu ZEP117115 và DB2113360, điều trị với ANORO ELLIPTA 62,5/25 mcg đã mang lại sự cải thiện có ý nghĩa thống kê và ý nghĩa lâm sàng trong sự thay đổi FEV1 đáy ở thời điểm tuần thứ 24 so với lúc bắt đầu nghiên cứu khi so sánh với tiotropium (xem Bảng 2). Trong nghiên cứu DB2113374, ANORO ELLIPTA 62,5/25 mcg cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa lâm sàng trong sự thay đổi FEV1 đáy ở thời điểm tuần thứ 24 so với lúc bắt đầu nghiên cứu khi so sánh với tiotropium (xem Bảng 2).
– xem Bảng 2.

Trong các nghiên cứu ZEP117115 và DB2113360, ANORO ELLIPTA cho thấy sự cải thiện nhiều hơn có ý nghĩa thống kê trong sự thay đổi giá trị trung bình có trọng số của FEV1 trong 0-6 giờ ở thời điểm tuần thứ 24 so với lúc bắt đầu nghiên cứu lần lượt là 0,11 L và 0,07 L khi so sánh với tiotropium (cả 2 giá trị p < 0,005). Trong nghiên cứu DB2113374, ANORO ELLIPTA cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa lâm sàng 0,10 L trong sự thay đổi giá trị trung bình có trọng số của FEV1 trong 0-6 giờ ở thời điểm tuần thứ 24 so với lúc bắt đầu nghiên cứu khi so sánh với tiotropium.
Trong các nghiên cứu DB2113360 và DB2113374, ANORO ELLIPTA và tiotropium đều làm cải thiện điểm số khó thở (thang điểm TDI) và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (SGRQ) so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu. Trong nghiên cứu thứ 3 (ZEP117115), ANORO ELLIPTA cho thấy sự cải thiện tổng điểm SGRQ tại tuần thứ 24 so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh với tiotropium (-2,10 đơn vị; p = 0,006). Trong nghiên cứu này, tỷ lệ phần trăm các bệnh nhân sử dụng ANORO ELLIPTA có đáp ứng với sự giảm bớt ≥ 4 đơn vị (MCID) trong tổng điểm SGRQ so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu là 53% (237/445) so với 46% (196/430) khi sử dụng tiotropium.
Sự cải thiện có ý nghĩa thống kê trong việc sử dụng salbutamol để cắt cơn trong suốt các tuần từ 1-24 khi sử dụng ANORO ELLIPTA tốt hơn so với tiotropium đã được ghi nhận trong các nghiên cứu ZEP117115 (-0,5 nhát xịt mỗi ngày; p < 0,001) và nghiên cứu DB2113360 (-0,7 nhát xịt mỗi ngày; p = 0,022).
Trong suốt các nghiên cứu ZEP117115, DB2113360 và DB2113374, tính trung bình, những bệnh nhân được điều trị với ANORO ELLIPTA đã giảm nhiều hơn tỷ lệ số ngày không cần dùng thuốc cấp cứu so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu (lần lượt là 21,5%, 18,6% và 17,6%) khi so sánh với nhóm dùng tiotropium (lần lượt là 13,3%, 11,7% và 13,4%; không có phân tích thống kê chính thức được thực hiện trên tiêu chí này).
Trong nghiên cứu ZEP117115, điều trị với ANORO ELLIPTA cho thấy một sự giảm 50% có ý nghĩa thống kê về nguy cơ xảy ra một đợt kích phát COPD mức độ trung bình/nặng (dựa trên phân tích thời gian đến khi xảy ra đợt kịch phát đầu tiên) so với giả dược (tỷ số nguy cơ 0,5; 95% CI: 0,3; 1,0; p = 0,044), trong đó, phần lớn bệnh nhân báo cáo là không xuất hiện các đợt kịch phát COPD yêu cầu phải dùng corticosteroid đường uống/toàn thân và/hoặc các kháng sinh (83%) và không xuất hiện các đợt kịch phát COPD yêu cầu phải nhập viện (93%) trong 12 tháng trước khi sàng lọc.
Các nghiên cứu kéo dài 3 tháng với bài tập sức bền có hỗ trợ (supportive 3-month exercise endurance studies)
Bài tập Sức bền đã được đánh giá bằng bài kiểm tra khả năng đi bộ lặp đi lặp lại trên quãng đường ngắn để đánh giá sức bền (ESWT: endurance shuttle walk test) ở các bệnh nhân COPD bị ứ khí phế nang (dung tích cặn chức năng [FRC] > 120%) trong 2 nghiên cứu lâm sàng 12 tuần, lặp lại.
Trong một nghiên cứu (DB2114418), điều trị với ANORO ELLIPTA 62,5/25 mcg cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về thời gian bài tập sức bền (exercise endurance time: EET) đạt được sau 3 giờ từ khi dùng thuốc tại tuần thứ 12 cao hơn 69,4 giây khi so với giả dược (p = 0,003). Sự cải thiện EET so với giả dược đạt được từ ngày thứ 2 và được duy trì đến tuần thứ 6 và tuần thứ 12. Trong nghiên cứu thứ 2 (DB2114417), điều trị bằng ANORO ELLIPTA 62,5/25 mcg đã không đem lại sự cải thiện về EET có ý nghĩa thống kê so với giả dược (21,9 giây; p > 0,05).
Trong nghiên cứu DB2114418, ANORO ELLIPTA đã cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê khi so sánh với giả dược về sự thay đổi của trough (24 giờ sau liều) FEV1 tại tuần thứ 12 so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu là 0,24 L (p < 0,001), và những cải thiện có ý nghĩa thống kê khi so sánh với giả dược về sự thay đổi dung tích phổi đo ở thời điểm 24 giờ sau liều và 3 giờ sau khi dùng thuốc tại tuần thứ 12 so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu (dung tích hít vào: lần lượt là 0,24 L và 0,32 L, thể tích khí cặn: lần lượt là -0,47 L và -0,64 L và dung tích cặn chức năng: lần lượt là -0,35 L và -0,52 L; tất cả p < 0,001). Trong nghiên cứu DB2114417, ANORO ELLIPTA cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa lâm sàng khi so sánh với giả dược về sự thay đổi FEV1 24 giờ sau liều tại tuần thứ 12 so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu là 0,21 L, và sự cải thiện khi so sánh với giả dược về sự thay đổi dung tích phổi đo ở thời điểm 24 giờ sau liều và 3 giờ sau khi dùng thuốc tại tuần thứ 12 so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu (dung tích hít vào: lần lượt là 0,20 L và 0,24 L, thể tích khí cặn: lần lượt là -0,29 L và -0,35 L và dung tích cặn chức năng: lần lượt là -0,24 L và -0,30 L).
Các nghiên cứu về hiệu quả hỗ trợ
Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, 52 tuần (CTT116855, IMPACT), những bệnh nhân người lớn mắc COPD và có tiền sử xuất hiện một hoặc nhiều đợt kịch phát trung bình hoặc nặng trong 12 tháng trước đó, đã được phân nhóm ngẫu nhiên (1:2:2) để điều trị bằng ANORO ELLIPTA 62,5/25 mcg, fluticasone furoate/umeclidinium/vilanterol (FF/UMEC/VI 100/62,5/25 mcg), hoặc fluticasone furoate/vilanterol (FF/VI 100/25 mcg) dùng một lần mỗi ngày. Tiêu chí hiệu quả chính là tỷ lệ hàng năm các đợt kịch phát trung bình và nặng lúc đang điều trị ở các đối tượng sử dụng FF/UMEC/VI so với FF/VI và ANORO ELLIPTA. Tỷ lệ các đợt kịch phát trung bình hàng năm khi dùng FF/UMEC/VI, FF/VI, và ANORO ELLIPTA lần lượt là 0,91; 1,07 và 1,21.
Điều trị với ANORO ELLIPTA cho kết quả về nguy cơ xuất hiện một đợt kịch phát trung bình/nặng tương tự khi so với FF/VI (dựa trên phân tích thời điểm đến đợt kịch phát đầu tiên) (nguy cơ tăng +1,4%; Tỷ số nguy cơ: 1,01; 95% CI: 0,94; 1,09; p = 0,708).
Umeclidinium
Trong nghiên cứu IMPACT, điều trị bằng umeclidinium như một thành phần của FF/UMEC/VI so với FF/VI, cho thấy có sự giảm 15% có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ hàng năm các đợt kịch phát trung bình/nặng lúc đang điều trị (Tỷ số nguy cơ: 0,85; 95% CI: 0,80; 0,90; p < 0,001).
Điều trị bằng umeclidinium như một thành phần của FF/UMEC/VI so với FF/VI cho thấy có sự giảm đáng kể 14,8% có ý nghĩa thống kê về nguy cơ xuất hiện một đợt kịch phát trung bình/nặng (dựa trên phân tích thời điểm đến đợt kịch phát đầu tiên) (Tỷ số nguy cơ: 0,85; 95% CI: 0,80; 0,91; p < 0,001).
Vilanterol
Trong một nghiên cứu đối chứng giả dược (HZC113782, SUMMIT), các bệnh nhân mắc COPD được điều trị lên đến 4 năm (trung bình 1,7 năm), trong đó phần lớn bệnh nhân được báo cáo là không xuất hiện các đợt kịch phát COPD yêu cầu phải dùng corticosteroid toàn thân/uống và/hoặc các kháng sinh (68%) và không xuất hiện các đợt kịch phát COPD yêu cầu phải nhập viện (87%) trong 12 tháng trước khi sàng lọc. Điều trị bằng vilanterol 25 mcg cho thấy một sự giảm 10% có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tăng hàng năm các đợt kịch phát trung bình/nặng lúc đang điều trị so với giả dược (Tỷ số nguy cơ: 0,90; 95% CI: 0,82; 0,98; p = 0,017). Điều trị bằng vilanterol như một thành phần của fluticasone furoate/vilanterol (FF/VI 100/25 mcg) so với fluticasone furoate (FF 100 mcg) cho thấy một sự giảm 19% có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ hàng năm các đợt kích phát trung bình/nặng lúc đang điều trị (Tỷ số nguy cơ: 0,81; 95% CI 0,74; 0,88; p < 0,001).
Các kết quả này được hỗ trợ bằng sự giảm 8,9% có ý nghĩa thống kê về nguy cơ xuất hiện một đợt kich phát trung bình/nặng (dựa trên phân tích thời điểm đến đợt kịch phát đầu tiên) của vilanterol so với giả dược (Tỷ số nguy cơ: 0,91; 95% CI: 0,84; 0,99; p = 0,023) và bằng sự giảm 18,2% có ý nghĩa thống kê về nguy cơ xuất hiện một đợt kịch phát trung bình/nặng (dựa trên phân tích thời điểm đến đợt kịch phát đầu tiên) khi điều trị bằng vilanterol như một thành phần của FF/VI so với FF (Tỷ số nguy cơ: 0,82; 95% CI: 0,75; 0,89; p < 0,001).
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
An toàn tiền lâm sàng
Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng với umeclidinium và vilanterol, các biểu hiện được ghi nhận đều có liên quan đặc trưng đến tác dụng dược lý chủ yếu của các chất đối kháng thụ thể muscarinic hoặc chất chủ vận beta2 tương ứng và/hoặc các kích ứng tại chỗ. Sử dụng kết hợp umeclidinium và vilanterol không gây ra thêm bất cứ độc tính mới nào. Các kết quả dưới đây được ghi nhận từ các nghiên cứu tiến hành trên từng thành phần riêng rẽ.
Tính gây ung thư/đột biến gien
Umeclidinium không gây độc tính gien trong một loạt nghiên cứu tiêu chuẩn và không thấy gây ung thư trong các nghiên cứu cho chuột nhắt hoặc chuột cống dùng thuốc hít suốt đời ở các mức phơi nhiễm lần lượt là ≥ 26 hoặc ≥ 22 lần mức phơi nhiễm với umeclidinium 62,5 mcg trên lâm sàng ở người, dựa trên diện tích dưới đường cong.
Các nghiên cứu độc tính gien cho thấy vilanterol không có nguy cơ gây độc tính gien ở người. Phù hợp với dữ liệu thu được từ các chất chủ vận beta2 khác, trong các nghiên cứu cho thấy dùng vilanterol hít suốt đời đã gây tăng sinh ở cơ quan sinh sản ở chuột nhắt và chuột cống cái và tuyến yên ở chuột cống. Không có sự gia tăng tỷ lệ khối u ở chuột cống hoặc chuột nhắt khi phơi nhiễm với liều cao gấp 0,5 hoặc 13 lần mức phơi nhiễm lâm sàng ở người với liều dùng 25 mcg vilanterol, dựa trên AUC.
Độc tính sinh sản
Cả umeclidinium và vilanterol đều không có tác động bất lợi nào lên khả năng sinh sản của chuột cống đực hay cái.
Umeclidinium không gây quái thai ở chuột cống hoặc thỏ. Trong một nghiên cứu trước và sau sinh, tiêm dưới da umeclidinium cho chuột cống đã làm giảm mức độ tăng cân và giảm tiêu thụ thức ăn của chuột mẹ và giảm nhẹ cân nặng của chuột con trước khi cai sữa khi dùng liều 180 mcg/kg/ngày cho chuột mẹ (khoảng 80 lần mức phơi nhiễm với umeclidinium 62,5 mcg ở người trên lâm sàng, dựa trên AUC).
Vilanterol không gây quái thai ở chuột cống. Trong nghiên cứu sử dụng thuốc hít ở thỏ, vilanterol gây ra tác động giống như tác động khi dùng các chất chủ vận beta2 khác (hở hàm ếch, mắt nhắm không kín, dính liền đốt ức và chân tay cong hoặc chân tay xoay bất thường) ở mức cao gấp 6 lần mức phơi nhiễm ở người trên lâm sàng, dựa trên AUC. Khi tiêm dưới da, không có tác động nào xảy ra khi phơi nhiễm gấp 36 lần mức phơi nhiễm vilanterol 25 mcg ở người trên lâm sàng, dựa trên AUC.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
….
6.2. Tương kỵ :
Chưa có tương kỵ được ghi nhận.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản không quá 30oC. Nếu bảo quản trong tủ lạnh, nên lấy thuốc ra để ở nhiệt độ phòng ít nhất 1 giờ trước khi sử dụng.
6.4. Thông tin khác :
Dụng cụ hít màu xám nhạt có một nắp đậy đầu ngậm màu đỏ và sẵn một bộ đếm liều. Dụng cụ hít Ellipta có chứa hai dải túi phồng, trong mỗi túi phồng có bột thuốc màu trắng.
6.5 Tài liệu tham khảo:
HDSD Thuốc Anoro Ellipta do Glaxo Operations UK Limited sản xuất (2019).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM