Tegaserod

Thuốc Tegaserod là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Tegaserod (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Tegaserod

Phân loại: Thuốc tác động trên hệ tiêu hóa. Thuốc nhuận tràng

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A06AX06.

Brand name:

Generic : Tegaserod, Tegibs-6, Tegrid.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim 6 mg.

Thuốc đã bị dừng lưu hành vào năm 2007 do các báo cáo chỉ ra mối quan hệ giữa thuốc và các biến cố bất lợi trên tim mạch (tăng nguy cơ đột quỵ).

Thuốc tham khảo:

ZELMAC
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Tegaserod …………………………. 400 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Hình ảnh mang tính chất tham khảo, thuốc đã dừng lưu hành tại Việt Nam.

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Điều trị đau và khó chịu ở bụng, đầy, và mất chức năng ruột ở bệnh nhân có hội chứng ruột dễ bị kích thích (IBS) mà các triệu chứng chính là đau, khó chịu và táo bón.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường uống, uống trước bữa ăn.

Liều dùng:

Liều thông thường: 1 viên, ngày 2 lần, uống trước bữa ăn.

Người già: Không cần chỉnh liều.

Trẻ em: Độ an toàn và hiệu quả chưa được xác định trên bệnh nhân là trẻ em, do đó không khuyến cáo chỉ định thuốc này cho trẻ em.

Suy gan: Không cần chỉnh liều trên bệnh nhân suy gan nhẹ và vừa. Chưa có nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan nặng.

Suy thận: Không cần chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận nhẹ, vừa và nặng.

4.3. Chống chỉ định:

Quá nhạy cảm với thành phần thuốc.

4.4 Thận trọng:

Chưa có số liệu về việc dùng thuốc này trên bệnh nhân suy gan nặng, vì thế cần đặc biệt quan tâm đối với các bệnh nhân này.

Do trong thành phần tá dược có chứa khoảng 38mg lactose monohydrate, nên đặc biệt quan tâm đối với những bệnh nhân không dung nạp lactose.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có tác dụng nào trên khả năng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: B

Thời kỳ mang thai:

Các nghiên cứu trên súc vật không cho thấy những tác dụng có hại trực tiếp hay gián tiếp tới thời kỳ có thai, sự phát triển phôi, thai, sinh đẻ và sự phát triển sau khi sinh. Tuy nhiên, do kinh nghiệm còn hạn chế trên phụ nữ có thai, không khuyến cáo dùng thuốc này trên phụ nữ có thai.

Thời kỳ cho con bú:

Tegaserod được bài tiết qua sữa ở chuột với tỉ lệ sữa/huyết tương cao. Vì thuốc cũng có thể được bài tiết qua sữa ở người, chống chỉ định thuốc này cho phụ nữ nuôi con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Trong các nghiên cứu dùng placebo để đối chứng đối với 2198 bệnh nhân được điều trị bằng tegaserod tới 12 tuần, tần xuất của các tác dụng phụ trên các bệnh nhân dùng tegaserod tương tự như được quan sát thấy trên nhóm dùng placebo, trừ triệu chứng tiêu chảy.

Tiêu chảy được báo cáo là tác dụng phụ xảy ra trên 11,7% bệnh nhân được điều trị bằng tegaserod trong các nghiên cứu lâm sàng, so với tần xuất là 5,4% ở nhóm dùng placebo. Thậm chí ở nhóm bệnh nhân có trên 3 lần đi ngoài/ngày hoặc phân lỏng/nước chiếm tới 25% thời gian theo đường cơ bản, thì tần xuất mà tiêu chảy được báo cáo như là một tác dụng phụ trong quá trình điều trị chỉ cao hơn một chút. Trong hầu hết các trường hợp, nó xuất hiện sớm, thoáng qua, và hầu hết thường được thấy là một giai đoạn duy nhất trong quá trình điều trị 12 tuần và tự khỏi khi tiếp tục điều trị. Tỉ lệ phải ngừng thuốc do tiêu chảy trong các nghiên cứu này thấp (1,6% đối với bệnh nhân dùng tegaserod và 0,5% đối với nhóm dùng placebo).

Tần xuất của hầu hết các tác dụng phụ khác xảy ra trong nghiên cứu lâm sàng thì tương tự giữa nhóm dùng tegaserod và nhóm dùng placebo, bao gồm những phàn nàn về đường tiêu hoá (như đau bụng, buồn nôn, đầy hơi), đau đầu, choáng váng, đau lưng và các triệu chứng giống cúm.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Không có tương tác thuốc. Không cần thiết chỉnh liều khi có phối hợp với các thuốc khác.

4.9 Quá liều và xử trí:

Dấu hiệu và triệu chứng: Chưa có kinh nghiệm về ngộ độc cấp với tegaserod. Tuy nhiên, trên cơ sở các số liệu của những người tình nguyện khỏe mạnh được cho dùng các đơn liều uống tương đương với 116mg tegaserod, thì các dấu hiệu và triệu chứng quá liều có thể bao gồm tiêu chảy, đau đầu, đau bụng từng cơn hoặc hạ huyết áp tư thế đứng.

Điều trị: Tegaserod không có khả năng được loại bỏ bằng các phương tiện lọc máu vì thể tích phân phối rộng và sự gắn kết mạnh với các protein huyết tương của nó. Trong trường hợp quá liều, liệu pháp điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ nên được cho tiến hành khi thấy phù hợp.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Trong các nghiên cứu dược lâm sàng, tegaserod đã thể hiện hoạt động kích thích trên toàn đường tiêu hóa. Trên những đối tượng khỏe mạnh, tegaserod được đưa vào bằng truyền tĩnh mạch 0,6mg hoặc uống một liều 6mg thì thấy làm giảm đáng kể thời gian lưu tại dạ dày, đẩy nhanh sự làm rỗng dạ dày, và làm giảm thời gian vận chuyển từ ruột non đến ruột kết so với placebo. Tegaserod co xu hướng mạnh mẽ trong việc làm giảm số lần trào ngược sau khi ăn và bỏng acid ở bệnh nhân bị trào ngược dạ dày – thực quản. Trên bệnh nhân có hội chứng IBS, tegaserod làm giảm thời gian vận chuyển qua ruột non và làm thuận lợi cho sự vận chuyển ruột kết. Tegaserod liên tục cải thiện trạng thái rắn chắc của phân và làm tăng số lần đi ngoài; những tác dụng này hầu hết được thấy trong ngày điều trị đầu tiên, và duy trì trong suốt quá trình điều trị 12 tuần trên những bệnh nhân có hội chứng IBS. Những số liệu dược lâm sàng gợi ý có một sự lôi kéo các cơ chế tại chỗ trong các hoạt động dược lực của tegaserod, phù hợp với các phát hiện tiền lâm sàng.

Những nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy Tegaserod làm giảm cảm giác đau và khó chịu ở bụng, đầy và mất chức năng ruột ở bệnh nhân có hội chứng IBS, những người nhận thấy đau/khó chịu ở bụng và táo bón là những triệu chứng chính. Trong 2 nghiên cứu đa trung tâm, thử nghiệm mù kép, đối chiếu placebo, 1680 bệnh nhân với tiền sử có các triệu chứng của hội chứng IBS ít nhất 3 tháng gồm đau bụng và mất chức năng ruột đã được nghiên cứu. Trên tất cả các bệnh nhân, mất chức năng ruột được đặc trưng bởi 2 trong số 3 triệu chứng táo bón trong ít nhất 25% thời gian, cụ thể là dưới 3 lần đi ngoài/tuần. Phân rắn và lổn nhổn, hoặc phải ráng sức mỗi lần đi ngoài. Bên cạnh những triệu chứng này, 36% số bệnh nhân đã bị ít nhất một trong số những triệu chứng sau trong ít nhất 25% thời gian: trên 3 lần đi ngoài/ngày, phân lỏng hoặc nước, hoặc tình trạng khẩn cấp. Một thời kỳ không dùng placebo trong 4 tuần được kế tiếp bằng một thời kỳ điều trị kéo dài 12 tuần. Bệnh nhân sẽ ước lượng sự đáp ứng thuốc hàng tuần của họ theo bảng đánh giá toàn cầu của người bệnh (SGA) về mức độ thuyên giảm bệnh, tính đến cả tình trạng toàn thân, các triệu chứng đau và khó chịu ở bụng, và mất chức năng ruột. Điều trị bằng Tegaserod liên quan đến một sự cải thiện đáng kể trong bảng SGA về mức độ thuyên giảm bệnh. Điều này được hỗ trợ bởi một số phép đo mức độ hiệu quả khác liên quan đến hội chứng IBS, có nghĩa là giảm đau/khó chịu ở bụng, giảm số ngày bị đầy bụng nặng, tăng số lần đi ngoài, cải thiện trạng thái rắn chắc của phân, và giảm số ngày không đi ngoài.

Sự bắt đầu tác dụng, đo bằng phương pháp SGA, được thấy ngay sau 1 tuần điều trị và được duy trì trong suốt thời gian điều trị 12 tuần. Mức độ nặng nhẹ của các triệu chứng, việc dùng các thuốc chống trầm cảm tricyclic hoặc các thuốc ức chế lựa chọn serotonin, hoặc chất sợi trong khẩu phần hàng ngày tỏ ra không ảnh hưởng đến hiệu quả của tegaserod.

Tegaserod không có ảnh hưởng đến khoảng cách QTc so với placebo. Điều này nhất quán với những phát hiện tiền lâm sàng.

Trong một nghiên cứu mở nhãn hiệu 12 tháng, 579 bệnh nhân được điều trị bằng tegaserod, 53% số bệnh nhân đã hoàn thành nghiên cứu. Trong số những bệnh nhân là người đáp ứng thuốc vào tháng thứ 3, 59% vẫn đáp ứng sau 12 tháng điều trị. Độ an toàn và khả năng dung nạp cũng tương tự như đã quan sát thấy ở giai đoạn 3 trong các nghiên cứu đối chứng placebo.

Cơ chế tác dụng:

Cơ chế hoạt động của tegaserod được thấy trong sự kích thích phản xạ nhu động và bài tiết tiêu hóa và sự ức chế khả năng nhạy cảm nội tạng qua sự hoạt hóa các receptor serotonin type-4 (5-HT4) trong đường tiêu hóa. Tegaserod gắn kết với ái lực cao tại các receptor 5-HT4 người, trong khi đó nó không có ái lực nào đáng kể đối với các receptor 5-HT3 hoặc dopamine. Tegaserod hoạt động như một tác nhân đối kháng cục bộ tại các receptor 5-HT4 thần kinh, gây ra sự giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh như calcitonin liên kết gien peptide từ các tế bào thần kinh nhạy cảm. Những nghiên cứu in vivo cho thấy tegaserod làm tăng hoạt động vận động nền và bình thường hóa sự vận động bị suy giảm trên toàn đường tiêu hóa. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chứng tỏ rằng thuốc điều hòa khả năng nhạy cảm nội tạng trong quá trình căng ruột kết ở động vật.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Tegaserod nhanh chóng được hấp thu sau khi uống thuốc; các nồng độ đỉnh huyết tương đạt được sau khoảng 1 giờ. Sinh khả dụng tuyệt đối là khoảng 10% trong điều kiện nhịn đói. Thức ăn làm giảm sinh khả dụng của tesagerod khoảng 40-65% và Cmax khoảng 20-40%.
Khoảng 98% tesagerod được gắn kết với các protein huyết tương, trước tiên với alpha1-acid glycoprotein. Nó được phân phối rộng vào các mô sau khi được đưa vào cơ thể bằng đường tĩnh mạch, với một thể tích phân phối ở trạng thái bền vững 368 ± 223L.

Tegaserod có 2 cách chuyển hóa chính. Cách thứ nhất gồm sự thủy phân dưới xúc tác acid ở dạ dày, tiếp theo bởi sự oxi hóa và tiếp hợp tạo ra sản phẩm chuyển hóa chính của tegaserod, 5-methoxy-indole-3-carboxylic acid glucuronide. Sản phẩm chuyển hóa chính có ái tính không đáng kể với các receptor 5-HT4. Ở người, không có sự thay đổi đáng kể nào trên toàn thân đối với tegaserod ở các giá trị pH thần kinh vị. Cách chuyển hóa thứ 2 là sự tiếp hợp trực tiếp dẫn đến sinh ra 3-N-glucuronide đồng phân. In vitro, tegaserod cho thấy không có sự ức chế cytochrome P450 isoenzymes CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19, CYP2E1, và CYP3A4, trong khi đó sự ức chế CYP1A2 và CYP2D6 không thể được loại trừ và vì thể được nghiên cứu in vivo. Sản phẩm chuyển hóa chính trên cơ thể người đã không ức chế hoạt động của bất kỳ trong số cytochrome P450 isoenzyme nói trên. Hệ số thanh thải huyết tương của tegaserod là 77 ± 15L/giờ, với thời gian bán hủy ước tính (T1/2) 11 ± 5 giờ sau khi dùng thuốc đường tĩnh mạch. Khoảng 2/3 liều thuốc dùng đường uống được bài tiết dưới dạng không đổi qua phân, 1/3 còn lại được bài tiết trong nước tiểu ở dạng sản phẩm chuyển hóa chính.

Dược động học của tegaserod tỉ lệ thuận với liều trong khoảng từ 2-12mg hai lần/ngày, không có sự tích lũy tegaserod trong huyết tương. Dược động học của tegaserod trên bệnh nhân có hội chứng IBS có thể so sánh được với dược động học trên người khỏe mạnh và tương đương giữa nam và nữ.

Những nhóm bệnh nhân đặc biệt:

Người già: Dược động học của tegaserod tương tự giữa người già và nam giới trẻ, trong khi AUC trung bình và Cmax lớn hơn 40% và 20% ở người lớn so với nữ giới trẻ nhưng vẫn ở trong khoảng biến thiên được thấy trên người khỏe mạnh.

Suy gan: Trên bệnh nhân có suy gan nhẹ và vừa (xơ gan), AUC trung bình cao hơn 43% và Cmax cao hơn 18%.

Suy thận: Không có sự thay đổi dược động học của tegaserod được quan sát thấy trên bệnh nhân có suy thận nặng đang cần được lọc máu (hệ số thanh thải creatinine ≤ 15mL/phút/1,73m3).

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

…..

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

An toàn tiền lâm sàng

Một loạt các nghiên cứu tính an toàn tiền lâm sàng trên một số loài súc vật đã cho thấy không có những chứng cớ về độc tính tác dụng trên toàn thân hay cơ quan đích nào. Những tác dụng tiền lâm sàng được quan sát thấy chỉ ở những mức độ bộc phát được xem như là sự thái quá của mức độ bộc phát tối đa trên cơ thể người, cho thấy ít quan trọng đối với việc sử dụng thuốc trên lâm sàng.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

MIMS.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM