Rosiglitazone – Rosiglitazone STADA

Thuốc Rosiglitazone STADA là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Rosiglitazone STADA (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Rosiglitazone

Phân loại: Thuốc điều trị tiểu đường. Nhóm Thiazolidinediones.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A10BG02.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Rosiglitazone STADA

Hãng sản xuất : Công ty TNHH Liên doanh Stada Việt Nam

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Cục Quản lý Dược đã có Công văn số 3886/QLD-ĐK ngày 22/3/2011 thông báo ngừng cấp giấy phép nhập khẩu, ngừng tiếp nhận hồ sơ đăng ký, không cấp số đăng ký mới và đăng ký lại đối với thuốc chứa rosiglitazon.

Dùng dạng rosiglitazon maleat: viên nén bao phim chứa 2 mg, 4 mg và 8 mg rosiglitazon base.

Thuốc tham khảo:

ROSIGLITAZONE STADA
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Rosiglitazone …………………………. 8 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Rosiglitazon được chỉ định hỗ trợ cho chế độ ăn kiêng và tập thể dục nhằm cải thiện việc kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Rosiglitazon được chỉ định trong đơn trị liệu.

Rosiglitazon còn được dùng phối hợp với sulfonylurea, metformin, hoặc insulin khi phác đồ ăn kiêng, tập thể dục và đơn trị liệu không điều chỉnh được đường huyết thích đáng. Đối với bệnh nhân dùng sulfonylurea hoặc metformin liều tối đa vẫn không kiểm soát tốt được đường huyết, nên dùng rosiglitazon phối hợp điều trị hơn là dùng thay thế cho sulfonylurea hoặc metformin.

Rosiglitazon còn được dùng phối hợp với sulfonylurea cộng metformin khi phác đồ ăn kiêng, tập thể dục và cả hai thuốc này không kiểm soát được đường huyết thích đáng.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Rosiglitazone STADA được sử dụng bằng đường uống. Thuốc được uống một lần vào buổi sáng, hoặc chia thành hai lần vào buổi sáng và buổi tối, không phụ thuộc vào bữa ăn.

Liều dùng:

Liệu pháp đơn trị liệu:

Liều khởi đầu của rosiglitazon là 4 mg x 1 lần/ngày hoặc 2 mg x 2 lần/ngày. Nếu không có sự đáp ứng thích đáng sau 12 tuần điều trị, liều dùng có thể tăng đến 8 mg x 1 lần/ngày hoặc chia làm 2 lần/ngày. Liều dùng tối đa được khuyến cáo là 8 mg/ngày.

Liệu pháp phối hợp với thuốc điều trị đái tháo đường dạng uống khác

Khi rosiglitazon dùng phối hợp với sulfonylurea hoặc metformin, liều đang dùng vẫn tiếp tục trong khi bắt đầu điều trị bằng rosiglitazon.

Phối hợp với metformin

Liều thường dùng của rosiglitazon là 4 mg x 1 lần/ngày hoặc 2 mg x 2 lần/ngày.

Phối hợp với sulfonylurea

Liều thường dùng của rosiglitazon là 4 mg x 1 lần/ngày hoặc 2 mg x 2 lầnngày. Nếu bệnh nhân bị hạ đường huyết khi điều trị phối hợp với sulfonylurea, nên giảm liều sulfonylurea.

Liều của rosiglitazon vượt quá 4 mg/ngày khi dùng phối hợp với sulfonylurea vẫn chưa được nghiên cứu trên lâm sàng.

Phối hợp với insulin

Liều dùng của rosiglitazon khi phối hợp với insulin là 4 mg x 1 lần/ngày; liều cao hơn không được chỉ định khi phối hợp với insulin. Nên giảm liều insulin từ 10% – 25% nếu bệnh nhân bị hạ đường huyết hoặc nếu nồng độ đường huyết lúc đói giảm xuống dưới mức 100 mg/dl. Việc điều chỉnh liều cao hơn tùy thuộc vào mức độ đáp ứng của từng bệnh nhân.

Phối hợp với sulfonylurea cộng metformin

Liều khởi đầu thường dùng của rosiglitazon khi phối hợp với sulfonylurea cộng metformin là 4 mg x 1 lần/ngày hoặc chia làm 2 lần/ngày. Nếu bệnh nhân bị hạ glucose huyết, nên giảm liều sulfonylurea.

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với rosiglitazon hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.

4.4 Thận trọng:

Các thiazolidindion, bao gồm rosiglitazon có thể gây hoặc làm nặng thêm suy tim sung huyết; phải theo dõi chặt chẽ về các dấu hiệu hoặc triệu chứng của suy tim sung huyết (thí dụ tăng cân nhanh, khó thở, phù), đặc biệt là sau khi bắt đầu điều trị hoặc tăng liều. Có nước còn chống chỉ định dùng rosiglitazon cho người bệnh suy tim ở bất kỳ giai đoạn nào (từ độ 1 đến độ 4). Thận trọng khi dùng cho người bệnh bị phù vì có thể làm tăng thể tích huyết tương và/hoặc gây giữ nước, dẫn đến suy tim. Có sự tăng cân liên quan đến liều trong khi sử dụng, cơ chế chưa rõ nhưng có lẽ liên quan đến giữ nước và tích lũy mỡ. Sử dụng rosiglitazon cũng có thể liên quan đến đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim. Thận trọng khi dùng ở người bệnh có nguy cơ sự cố tim mạch và phải theo dõi chặt chẽ. Phải ngừng thuốc nếu có bất kỳ tình trạng xấu đi của tim.

Điều trị phối hợp với các thuốc hạ đường huyết khác có thể gây tăng nguy cơ hạ đường huyết. Có thể phải giảm liều của thuốc phối hợp. Không khuyến cáo dùng cùng với các nitrat do tăng nguy cơ thiếu máu cục bộ cơ tim. Tránh dùng rosiglitazon cùng với insulin do tăng nguy cơ phù, suy tim sung huyết và sự cố thiếu máu cục bộ cơ tim.

Dùng thận trọng ở người bệnh có enzym gan (AST hoặc ALT) cao; không khởi đầu dùng rosiglitazon cho nguời có bệnh gan thể hoạt động hoặc có ALT > 2,5 lần giới hạn trên của bình thường. Trong quá trình điều trị nếu ALT > 3 lần giới hạn trên của bình thường thì phải ngừng thuốc.

Phân tích các thử nghiệm dài hạn cho thấy có sự tăng tỷ lệ gãy xương ở những phụ nữ điều trị rosiglitazon, phần lớn gãy xương xảy ra ở cánh tay, bàn tay và bàn chân (khác với gãy xương hông hoặc cột sống vẫn thường xảy ra khi bị loãng xương sau mãn kinh). Có thể giảm hemoglobin/thể tích huyết cầu và/hoặc số lượng bạch cầu (nhẹ), liên quan đến tăng thể tích huyết tương và/hoặc liên quan đến liều, thận trọng khi dùng cho người bệnh thiếu máu. Rosiglitazon có liên quan đến sự xấu đi hoặc mới xuất hiện của phù hoàng điểm ở người bệnh đái tháo đường. Thận trọng khi dùng rosiglitazon cho người bệnh đã bị phù hoàng điểm hoặc bệnh lý võng mạc do đái tháo đường. Phải xem xét ngừng rosiglitazon cho người bệnh nào phản ánh thị lực xấu đi. Những người bệnh này phải được khám mắt. Thận trọng khi dùng cho phụ nữ tiền mãn kinh, không phóng noãn; có thể tiếp tục rụng trứng, tăng nguy cơ có thai. Chưa xác định tính an toàn và hiệu quả của thuốc ở trẻ em. Dược động học của rosiglitazon ở người suy thận không khác nhiều so với người bình thường, nên không cần phải điều chỉnh liều. Nhưng metformin bị chống chỉ định cho người suy thận, do đó không phối hợp metformin với rosiglitazon để điều trị cho người suy thận.

Rosiglitazon không gây buồn ngủ, không gây hạ glucose huyết nên ít ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Cần chú ý đến tụt glucose huyết khi dùng phối hợp rosiglitazon với các thuốc làm hạ glucose huyết khác. Trường hợp đó phải giảm liều thuốc phối hợp.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Rosiglitazon không gây buồn ngủ, không gây hạ glucose huyết nên ít ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Cần chú ý đến tụt glucose huyết khi dùng phối hợp rosiglitazon với các thuốc làm hạ glucose huyết khác. Trường hợp đó phải giảm liều thuốc phối hợp.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Không có các thử nghiệm đầy đủ và kiểm soát tốt trên phụ nữ có thai. Không nên dùng rosiglitazon trong lúc có thai trừ khi đã cân nhắc lợi ích mong đợi nhiều hơn so với nguy cơ có thể xảy ra cho thai. Tuy nhiên, vì có nhiều ý kiến cho thấy rằng lượng đường huyết bất thường trong thai kỳ làm tăng các dị tật bẩm sinh cũng như tỷ lệ bệnh và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, nên đa số các nhà nghiên cứu lâm sàng đề nghị nên dùng insulin để kiểm soát lượng glucose huyết trong thai kỳ.

Thời kỳ cho con bú:

Nên ngưng cho con bú hoặc ngưng dùng thuốc vì có nguy cơ giảm glucose huyết ở trẻ bú mẹ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Rosiglitazon có thể gây giảm đường huyết, nhức đầu, tăng cân và thiếu máu. Thuốc cũng có thể gây chóng mặt, rối loạn tiêu hóa, chuột rút, khó thở, dị cảm, ngứa và tăng cholesterol máu. Hiếm gặp phù mạch và nổi mề đay.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Các tai biến thường nhẹ và giảm dần rồi mất đi trong quá trình điều trị. Rất ít trường hợp nặng phải ngừng thuốc.

Riêng tổn thương gan, đã thấy có trường hợp không hồi phục. Vì vậy, cần xét nghiệm chức năng gan trước khi điều trị. Nếu ALT cao hơn 3 lần giới hạn trên của bình thường thì không được dùng rosiglitazon. Trong quá trình điều trị, phải xét nghiệm chức năng gan mỗi tháng một lần trong 6 tháng đầu tiên, 2 tháng một lần trong 6 tháng còn lại của năm đầu, sau đó 3 – 6 tháng một lần. Phải xét nghiệm ngay khi thấy có biểu hiên rối loạn chức năng gan (buồn nôn, nôn, đau bụng, mệt, chán ăn). Khi thấy phát triển bệnh gan và vàng da, phải ngừng thuốc

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Các nghiên cứu in vitro cho thấy rosiglitazon được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP2C8 của cytochrom P450, còn với CYP2C9 là thứ yếu.

Khi dùng đồng thời rosiglitazon và gemfibrozil (là 1 chất ức chế CYP2C8), nồng độ rosiglitazon trong huyết tương tăng lên gấp đôi: Do nguy cơ tiềm ấn tăng tác dụng không mong muốn, có thể cần phải giảm liều của rosiglitazon và phải theo dõi chặt chẽ glucose huyết.

Khi dùng đồng thời rosiglitazon và rifampicin (là 1 chất cảm ứng CYP2C8), nồng độ rosiglitazon trong huyết tương giảm 66%. Không loại trừ một số chất cảm ứng khác (thí dụ phenytoin, carbamazepin, phenobarbital) cũng có thể làm thay đổi nồng độ của rosiglitazon, nếu cần, phải tăng liều của rosiglitazon và theo dõi chặt chẽ glucose huyết.

Không có tương tác có ý nghĩa lâm sàng với các cơ chất hoặc các chất ức chế của CYP2C9.

Dùng đồng thời với các thuốc chống đái tháo đường uống khác như metformin, glibenclamid và acarbose không gây tương tác có ý nghĩa với rosiglitazon. Uống rượu vừa phải không làm thay đổi sự kiểm soát đường huyết đạt được với rosiglitazon.

Không có tương tác có ý nghĩa lâm sàng khi uống rosiglitazon với digoxin, warfarin (cơ chất của CYP2C9), nifedipin, ethinylestradiol và norethindron (cơ chất của CYP3A4).

Dùng các chất chống viêm không steroid hoặc insulin cùng với rosiglitazon có thể làm tăng nguy cơ phù và suy tim.

Ớ người khỏe mạnh, ketoconazol làm tăng nồng độ huyết tương và nửa đời thải trừ của rosiglitazon, có lẽ do ức chế isoenzym CYP2C8.

4.9 Quá liều và xử trí:

Các tài liệu về quá liều ở người vẫn còn giới hạn. Trong các thử nghiệm lâm sàng ở người tình nguyện, rosiglitazon được uống một liều đến 20 mg và được dung nạp tốt. Trong trường hợp uống quá liều, phải có điều trị hỗ trợ thích hợp với tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Rosiglitazone maleate là một thiazolidinedione uống điều trị đái tháo đường loại 2 và hiện đang được nghiên cứu trong điều trị vẩy nến. Thuốc này là một đồng vận mạnh và chọn lọc của PPAR-g (thụ thể hoạt hóa yếu tố tăng sinh peroxisome). Chất này có tác dụng ức chế sản xuất cytokine và thúc đẩy sự biệt hóa tế bào.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, điều trị bằng Rosiglitazone (Rosiglitazone maleate) cải thiện việc điều chỉnh (kiểm soát) đường máu, được đánh giá bằng glucose huyết tương lúc đói (FPG) và hemoglobinA1c (HbA1c), đồng thời cũng làm giảm insulin và C peptid. Trị số đường máu và insulin sau ăn cũng giảm. Kết quả này phù hợp với cơ chế tác dụng của Rosiglitazone maleate như là một cảm nhiễm thể với insulin. Ðường máu được điều chỉnh ổn định với tác dụng duy trì trong 52 tuần. Liều tối đa trong ngày được đề nghị là 8mg. Các thử nghiệm về liều lượng cho thấy khi tổng liều trong ngày lên đến 12mg cũng không đem lại một lợi ích nào thêm.

Phối hợp Rosiglitazone maleate với metformin hoặc với sulfamide hạ đường máu làm giảm đáng kể đường máu so với khi dùng đơn độc các thuốc trên. Các kết quả này phù hợp với tác dụng hợp lực lên sự kiểm soát đường máu khi Rosiglitazone maleate được dùng trong liệu pháp phối hợp.

Sự giảm đường máu phối hợp với sự tăng trọng. Trong những thử nghiệm lâm sàng kéo dài 26 tuần, sự tăng trọng trung bình ở những bệnh nhân được điều trị bằng Rosiglitazone maleate là 1,2 kg (nhóm dùng 4mg/ngày) và 3,5kg (nhóm dùng 8mg/ngày) ở nhóm đơn liệu pháp và 0,7 kg (nhóm dùng 4mg/ngày) và 2,3kg (nhóm dùng 8mg/ngày) khi dùng phối hợp với metformin. Trong những nghiên cứu này có một sự sụt cân trung bình khoảng 1kg ở nhóm dùng giả dược và cả nhóm dùng metformin đơn độc. Trong một nghiên cứu có so sánh với glyburide kéo dài 52 tuần, ở nhóm bệnh nhân dùng Rosiglitazone maleate 4mg/ngày và 8mg/ngày thể trọng tăng 1,75kg và 2,95kg theo thứ tự so với 1,9kg ở nhóm dùng glyburide.

Những bệnh nhân bị rối loạn lipid cũng được đưa vào các thử nghiệm lâm sàng bằng Rosiglitazone maleate. Trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng có so sánh kéo dài 26 tuần với liều lượng được thay đổi, Rosiglitazone maleate đơn liệu pháp thường kèm theo sự tăng cholesterol toàn phần, LDL và HDL và giảm acid béo tự do. Những thay đổi này có ý nghĩa đáng kể về mặt thống kê so với nhóm dùng giả dược hay glyburide.

LDL tăng chủ yếu trong vòng 1-2 tháng đầu tiên khi điều trị bằng Rosiglitazone maleate và vẫn giữ mức cao so với trị số ban đầu trong suốt thời gian thử nghiệm. Ngược lại, HDL tiếp tục tăng dần. Hệ quả là tỉ số LDL/HDL đạt tối đa sau điều trị 2 tháng, sau đó giảm dần. Do những thay đổi lipid chỉ là tạm thời nên thử nghiệm có so sánh với glyburide trong thời gian 52 tuần là thử nghiệm thích hợp nhất để đánh giá tác động dài hạn trên lipid. Vào thời điểm bắt đầu, vào tuần thứ 26 và tuần thứ 52, tỉ số LDL/HDL trung bình lần lượt là 3,1; 3,2 và 3,0 khi dùng Rosiglitazone maleate 4mg, 2lần/ngày. Các trị số tương ứng ở nhóm dùng glyburide là 3,2; 3,1 và 2,9. Có sự khác nhau đáng kể về mặt thống kê về những thay đổi lipid vào thời điểm bắt đầu và ở tuần thứ 52 ở nhóm dùng Rosiglitazone maleate và nhóm dùng glyburide.

Những biến đổi của LDL và HDL khi điều trị bằng Rosiglitazone maleate phối hợp với metformin hay phối hợp với sulfamide hạ đường máu nhìn chung tương tự như những thay đổi khi dùng Rosiglitazone maleate đơn độc.

Biến đổi của triglyceride khi điều trị bằng Rosiglitazone maleate rất đa dạng và không khác nhau về mặt thống kê so với nhóm dùng giả dược hay glyburide.

Do Rosiglitazone maleate không kích thích sự tiết insulin nên hạ đường máu không xảy ra khi dùng Rosiglitazone maleate đơn độc hay khi phối hợp với metformin. Trong các thử nghiệm có kiểm soát, những bệnh nhân được điều trị bằng Rosiglitazone maleate với tổng liều tối đa là 4mg/ngày phối hợp với sulfamide hạ đường máu có tỉ lệ hạ đường máu (4,8%) tương tự như nhóm được điều trị đơn thuần bằng sulfamide hạ đường máu (5,9%).

Cơ chế tác dụng:

Rosiglitazone, một thuốc chống đái tháo đường thuộc họ thiazolidinedione cải thiện sự điều chỉnh (kiểm soát) đường máu nhờ cải thiện sự cảm thụ insulin. Rosiglitazone là một chất đồng vận mạnh và rất chọn lọc với thụ thể gamma được hoạt hóa bởi chất tăng trưởng peroxisome (PPARg). Ở người, thụ thể PPAR được tìm thấy chủ yếu ở các mô đích của insulin như mô mỡ, cơ vân và gan. Sự hoạt hóa thụ thể nhân PPARg điều hòa sự sao chép các gen đáp ứng với insulin có vai trò kiểm soát sự sản xuất, vận chuyển và sử dụng glucose. Ngoài ra, các gen đáp ứng với PPARg cũng tham gia vào việc điều hòa sự chuyển hóa acid béo.
Sự đề kháng insulin là một đặc điểm thường gặp trong bệnh sinh bệnh đái tháo đường thể 2. Hoạt tính chống đái tháo đường của rosiglitazone đã được chứng minh ở súc vật thực nghiệm đái tháo đường thể 2 trong đó tăng đường máu và/hoặc rối loạn dung nạp glucose là hậu quả của hiện tượng đề kháng insulin ở mô đích. Rosiglitazone làm giảm đường máu và làm giảm sự tăng nồng độ insulin trong máu ở chuột nhắt ob/ob béo phì; ở chuột nhắt db/db bị đái tháo đường và ở chuột cống Zucker fa/fa béo. Rosiglitazone cũng ngăn ngừa sự tiến triển thành đái tháo đường thật sự ở cả chuột nhắt db/bd và chuột cống Zucker béo, bị đái tháo đường fa/fa.
Ở súc vật thực nghiệm, rosiglitazone biểu hiện hoạt tính chống đái tháo đường qua trung gian làm tăng nhạy cảm với hoạt tính của insulin ở gan, mô cơ và mô mỡ. Hoạt động của chất vận chuyển đường được điều hòa bởi insulin GLUT-4 tăng lên trong mô mỡ. Rosiglitazone không gây hạ đường máu ở súc vật thực nghiệm đái tháo đường thể 2 và/hoặc bị rối loạn dung nạp glucose.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Rosiglitazon được hấp thu nhanh sau khi uống. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được khoảng 1 giờ sau khi uống. Sử dụng rosiglitazon cùng với thức ăn không ảnh hưởng đến lượng thuốc hấp thu, nhưng nồng độ đỉnh giảm khoảng 28% và kéo dài thời gian nồng độ thuốc đạt tới đỉnh (1,75 giờ). Những thay đổi này không có ý nghĩa trên lâm sàng, vì vậy có thể uống rosiglitazon vào bữa ăn hoặc xa bữa ăn. Sinh khả dụng của rosiglitazon là 99%, nửa đời trong huyết tương là 3 – 4 giờ. Rosiglitazon liên kết với protein huyết tương tới trên 99%, chủ yếu là với albumin; thể tích phân bố là 17,6 lít.

Rosiglitazon được chuyển hóa chủ yếu ở gan nhờ isoenzym CYP2C8, còn isoenzym CYP2C9 chỉ tham gia chuyển hóa một phần. Con đường chuyển hóa chính là khử N-methyl và hydroxyl hóa, sau đó được liên hợp với acid sulfuric và acid glucuronic. Các chất chuyển hóa này có hoạt tính rất thấp so với bản thân rosiglitazon. Rosiglitazon và các chất chuyển hóa được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu (64%) và qua phân (23%).

Các thông số dược động học của rosiglitazon ít thay đổi giữa người trẻ và người cao tuổi, giữa nam và nữ.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM