Rabeprazole – Rabiswift

Thuốc Rabiswift là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Rabiswift (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Rabeprazole

Phân loại: Thuốc ức chế bơm Proton. Thuốc giảm tiết acid dạ dày

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A02B C04.

Biệt dược gốc: Pariet, Rabeloc IV

Biệt dược: Rabiswift

Hãng sản xuất : Ind-Swift Limited

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 10 mg, 20 mg.

Thuốc tham khảo:

RABISWIFT
Mỗi viên nén có chứa:
Rabeprazole …………………………. 10 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Rabeprazol được chỉ định để điều trị:

Loét tá tràng hoạt động

Bệnh loét dạ dày lành tính hoạt động

Triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản do ăn mòn hoặc loét (GORD).

Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản điều trị dài hạn (GORD kéo dài)

Điều trị triệu chứng từ trung bình đến rất nặng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (triệu chứng GORD)

Hội chứng Zollinger-Ellison.

Kết hợp với các phác đồ điều trị kháng khuẩn thích hợp để diệt Helicobacter pylori ở bệnh nhân bị bệnh loét dạ dày

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Thuốc dùng đường uống. Dùng theo sự chỉ dẫn của bác sĩ điều trị.

Uống nguyên viên, không nhai hoạc bẻ viên thuốc. Nên sử dụng thuốc vào buổi sáng.

Liều dùng:

Người lớn/Người cao tuổi:

Loét tá tràng và loét dạ dày hoạt động lành tính: Liều dùng cho cả hai dạng loét tá tràng và loét dạ dày hoạt động lành tính là 20mg mỗi ngày một lần vào buổi sáng.

Hầu hết các bệnh nhân bị loét tá tràng có thể chữa khỏi trong vòng bốn tuần. Tuy nhiên, một vài bệnh nhân có thể cần thêm bốn tuần điều trị nữa để đạt được kết quả. Hầu hết các bệnh nhân bị loét dạ dày hoạt động lành tính sẽ được chữa khỏi trong vòng sáu tuần. Tuy nhiên một lần nữa một vài bệnh nhân có thể cần thêm sáu tuần điều trị để đạt được kết quả chữa bệnh.

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản do ăn mòn hoặc loét (GORD): Liều uống được khuyến cáo đối với tình trạng này là 20mg uống mỗi ngày một lần trong vòng từ bốn đến tám tuần.

Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản điều trị dài hạn (GORD kéo dài): Để điều trị lâu dài, liều duy trì là 20 mg hoặc 10 mg một lần mỗi ngày có thể được sử dụng tùy thuộc vào đáp ứng của bệnh nhân.

Điều trị triệu chứng từ trung bình đến rất nặng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (triệu chứng GORD): 10mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân không bị viêm thực quản. Neu không kiểm soát được triệu chứng trong bốn tuần, bệnh nhân cần được tiếp tục điều trị. Một khi các triệu chứng đã được giải quyết, kiểm soát triệu chúng tiếp theo có thể đạt được bằng cách sử dụng phác đồ dùng 10mg một lần mỗi ngày khi cần thiết.

Hội chứng Zollinger-Ellison: Liều khởi đầu được khuyến cáo là 60 mg mỗi ngày một lần. Liều có thể được điều chỉnh lên đến 120 mg/ngày dựa trên nhu cầu cá nhân. Có thể dùng liều lên đến 100 mg/ngày. Với liều 120 mg thì có thể cần phải chia, 60 mg X 2 lần/ngày. Điều trị nên tiếp tục cho đến khi đạt kết quả lâm sàng.

Diệt trừ H. pylori: Bệnh nhân nhiễm H. pylori nên được điều trị bằng phương pháp diệt trừ.

Phác đồ sau đây nên được sử dụng trong 7 ngày:

Rabeprazole 20mg hai lần mỗi ngày + clarithromycin 500mg hai lần mỗi ngày và amoxicillin lg hai lần mỗi ngày.

Đối với các chỉ định cần phải được điều trị một lần mỗi ngày, rabeprazol nên được uống vào buổi sáng, trước khi ăn; Và mặc thời điểm uống thuốc cũng như việc ăn uống không có ảnh hưởng đến hoạt động của natri rabeprazol, thì chế độ này sẽ tạo điều kiện cho việc tuân thủ điều trị.

Suy thận và suy gan:

Không cần điều chỉnh liều lượng cho bệnh nhân suy thận hoặc suy gan.

Trẻ con:

Rabeprazol không được khuyến cáo sử dụng ở trẻ em, vì không có kinh nghiệm về việc sử dụng thuốc trong nhóm này.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định ở bệnh nhân đã có mẫn cảm với rabeprazol, dẫn xuất benzimidazol và bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Phụ nữ có thai và cho con bú.

Không phối hợp với sản phẩm chứa rilpivirin

4.4 Thận trọng:

Bệnh nhân cần đuợc khuyến cáo không nên nhai hoặc nghiền nát viên thuốc mà phải nuốt nguyên cả viên.

Việc cải thiện triệu chứng qua điều trị với rabeprazol natri không loại trừ sự hiện diện của ung thư dạ dày hoặc thực quản, do đó cần phải loại trừ khả năng ác tính trước khi bắt đầu điều trị. Bệnh nhân điều trị dài hạn (đặc biệt là điều trị hơn 1 năm) cần được kiểm tra đều đặn.

Không khuyên cáo dùng thuốc ở trẻ em, do không có kinh nghiệm điều trị trên nhóm tuổi này.

Đã có báo cáo khi lưu hành trên thị trường về rối loạn tạo máu (thiếu tiểu cầu và bạch cầu trung tính. Trong hầu hết các trường hợp, không thể xác định được nguyên nhân khác, biến cố này không có biến chứng và hết khi ngưng thuốc.

Bất thường enzyme gan đã gặp ở các thử nghiệm lâm sàng và cũng đã được báo cáo từ khi lưu được phép lưu hành. Trong hầu hết các trường hợp, không xác định được nguyên nhân khác, biến cố này không có biến chứng là hết khi ngưng thuốc.

Không có bằng chứng về các vấn đề về an toàn liên quan thuốc trong một nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan nhẹ đên trung bình với kiểm soát tuổi và giới tính. Tuy nhiên không có dữ liệu lâm sàng về sử dụng thuốc ở bệnh nhân suy gan nặng hoặc người kê đơn cần thận trọng khi điều trị lần đầu ở những bệnh nhân này.

Dùng đồng thời rabeprazol natri và atazanavir không được khuyến cáo.

Điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton có thể tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiêu hóa như Salmonella, Campylobacter và Clostridium difficile.

Các thuốc ức chế bơm proton, đặc biệt nếu dùng liều cao và thời gian dài (> 1 năm), có thể làm tăng nguy cơ rạn gãy xương hông, cổ tay và cột sống. Các nghiên cứu quan sát cho thấy các thuốc ức chế bơm proton có thể gây tăng nguy cơ rạn gãy khoảng 10-40 %. Một số sự gia tăng này có thể do các yếu tố nguy cơ khác. Bệnh nhân có nguy cơ loãng xương cần được chăm sóc theo các hướng dẫn lâm sàng hiện tại và có thể cung cấp thêm vitamin D và calci.

Giảm magnesi máu nghiêm trọng đã được báo cáo ở các bệnh nhân điều trị với các chất ức chế bơm proton trong ít nhất 3 tháng, và trong hầu hết các trường hợp dùng 1 năm. Biểu hiện nghiêm trọng của giảm magnesi máu bao gồm mệt mỏi, co cứng, mê sảng, co giật, chóng mặt và loạn nhịp thất nhưng cũng có thể khỏi đầu lặng lẽ và bị bỏ qua, giảm magnesi máu cải thiện sau khi thay thế magnesi và dừng thuốc.

Đối với bệnh nhân sẽ điều trị lâu dài hoặc bệnh nhân dùng thuốc ức chế bơm proton với digoxin hoặc các thuốc gây hạ magnesi máu (ví dụ thuốc lợi tiểu), càn xét nghiệm nồng độ magnesi trong máu trước khi khởi đầu điều trị và định kỳ trong quá trình điều trị.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Dựa vào những đặc tính dược lực học và những báo cáo về tác dụng phụ cho thấy Rabeprazole không làm giảm khả năng lái xe hay sử dụng máy móc. Tuy nhiên nếu buồn ngủ làm giảm sự nhạy bén, nên tránh lái xe hay vận hành máy móc phức tạp.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B1

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Không có dữ liệu về an toàn trên phụ nữ có thai. Các nghiên cứu về sinh sản tiến hành trên chuột và thỏ cho thấy không có bằng chứng về suy giảm sinh sản hoặc ảnh hưởng đến phôi thai do rabeprazol natri, mặc dù có sự giảm trao đổi chất giữa nhau thai và thai ở chuột. Chống chỉ định dùng ở phụ nữ có thai

Thời kỳ cho con bú:

Không rõ rabeprazol natri có tiết vào sữa mẹ hay không. Không có nghiên cứu trên phụ nữ đang nuôi con bú. Rabeprazol natri có bài tiết vào sữa ở chuột. Do vậy không nên dùng thuốc khi đang nuôi con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Phản ứng ngoại ý thường gặp nhất, trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát với rabeprazol là đau đầu, tiêu chảy, đau bụng, suy nhược, đầy hơi, nổi ban và khô miệng. Hầu hết các biến cố ngoại ý xảy ra trong các nghiên cứu lâm sàng là nhẹ đến trung bình, thoáng qua trong thực tế

Các biến cố ngoại ý sau đã được báo cáo trong thử nghiệm lâm sàng và khi lưu hành trên thị trường.

Tần suất được định nghĩa như sau: thường gặp (>1/100, < 1/10), ít gặp (>1/1.000, < 1/100), hiếm gặp (>1/10.000, < 1/L000) và rất hiếm ( < 1/10.000).

Nhóm cơ quan hệ thống Thường gặp Ít gặp Hiếm gặp Rất hiếm Không biết
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng Nhiễm trùng
Rối loạn hệ tạo máu và lymphô Giảm bạch cầu trung tính.
Giảm bạch cầu.
Giảm tiểu cầu
Tăng bạch cầu
Rối loạn hệ miễn dịch Phản ứng dị ứng1,2
Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa Chán ăn Giảm natri huyết
Giảm magnesi huyết
Rối loạn tâm thần Mất ngủ Tình trạng kích động Trầm cảm Lẫn lộn
Rối loan hệ thần kinh Nhức đầu chóng mặt Tình trạng mơ màng
Rối loạn mắt Rối loạn thị giác
Rối loạn mạch máu Phù ngoại biên
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất Ho Viêm phế quản.
Viêm họng Viêm xoang
Viêm mũi
Rối loạn tiêu hóa Tiêu chảy. Nôn. Khó tiêu. Viêm dạ dày.
Buồn nôn. Khô miệng. Viêm miệng.
Đau bụng. Ợ hơi Rối loạn vị giác
Táo bón.
Đầy hơi
Rối loạn gan mật Viêm gan.
Vàng da.
Bệnh não gan3
Rối loạn da và mô dưới da Ban Ngứa Ban đỏ đa dạng
Đỏ da2 Tăng tiết mồ hôi Hoại tử biểu bì do nhiễm độc (TEN)
Nổi bóng nước2 Hội chứng Stevens-Johnson (SJS)
Rối loạn cơ xương, mô liên kết và xương Đau không đặc hiệu/đau lưng Đau cơ.
Vọp bẻ chân.
Đau khớp.
Gãy xương
Rối loạn thận và niệu Nhiễm trùng đường niệu Viêm thận kẽ
Rối loạn hệ sinh sản và vú Chứng vú to ở nam giới
Rối loạn chung và tình trạng tại vị trí dùng thuốc Suy nhược. Đau ngực.
Hội chứng giả cúm Ớn lạnh.
Sốt
Kiểm tra Tăng men gan3 Tăng cân

1 Bao gồm sưng mặt, hạ huyết áp và khó thở

2 Đỏ da, nổi bóng nước và phản ứng dị ứng thường biến mất sau khi ngưng thuốc.

3 Hiếm báo cáo về bệnh não gan ở bệnh nhân xơ gan. Trong điều trị những bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan nặng, bác sĩ được khuyên thận trọng khi khởi đầu điều trị với Rabeprazole ở nhóm đối tượng này..

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Rabeprazol natri gây ức chế tiết acid của dạ dày mạnh và kéo dài. Tương tác giữa thuốc và sự hấp thu phụ thuộc pH có thể xảy ra. Dùng đồng thời rabeprazol natri và ketoconazol hoặc itraconazol có thể gây giảm đáng kể nồng độ thuốc kháng nấm trong huyết tương. Do đó từng bệnh nhân cần được theo dõi để quyết định xem có cần thiết giảm liều khi dùng đồng thời với ketoconazol và itraconazol.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, các kháng acid dùng đồng thời với rabeprazol natri và trong một nghiên cứu tương tác thuốc-thuốc cụ thể, không quan sát thấy tương tác với kháng acid dạng lỏng.

Dùng đồng thời atazanavir 300 mg/ritonavir 10 mg với Omeprazol (40 mg/ngày) hoặc atazanavir 400 mg với lansoprazol (60 mg/ngày) đôi với người tình nguyện khỏe mạnh dẫn tới giảm. Rabeprazol có thể làm tăng nồng độ/tác dụng của các thuốc là cơ chất CYP2C19, CYP2C8 (mức độ rủi ro cao), metrothrexat, saquinavir, voriconazol

4.9 Quá liều và xử trí:

Cho đến nay rất hiếm báo cáo về quá liều có chủ định hay ngẫu nhiên. Liều tối đa không vượt quá 60mg hai lần mỗi ngày, hay 160mg một lần mỗi ngày. Những tác dụng này theo ghi nhận được nhìn chung rất ít và có thể hồi phục mà không cần có sự can thiệp y học nào khác. Chưa có thuốc giải độc đặc hiệu. Rabeprazole sodium gắn kết nhiều với protein và do đó không dễ dàng để thẩm tách. Như trong những trường hợp quá liều khác, nên điều trị triệu chứng và áp dụng các biện pháp nâng tổng trạng.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Rabeprazol natri thuộc nhóm chống tiết dẫn xuất của benzimidazol. Thuốc không có đặc tính chống tiết acetylcholin hoặc đối kháng H2 histamin, nhưng có tác dụng ức chế sự bài tiết acid dạ dày do ức chế đặc hiệu trên enzyme H+/K+ – ATPase ở bề mặt tiết cùa tế bào thành dạ dày. Hệ enzyme này được xem là bơm acid (proton), do đó rabeprazol natri dễ được xếp vào nhóm thuốc ức chế bơm proton dạ dày, ngăn chặn bước cuôi cùng của sự tạo thành acid. Tác dụng này có liên quan đến liều dùng và dẫn đến ức chế cả sự tiết acid cơ bản lẫn sự tiết acid kích thích bất kể do tác nhân kích thích nào

Hoạt tính chống tiết: Sau khi dùng liều 20 mg rabeprazol natri, tác dụng chống tiết bất đầu xuất hiện trong vòng 1 giờ, hiệu quả tối đa đạt được trong vòng 2 đến 4 giờ. Sau liều đầu tiên 23 giờ, ức chế tiết acid cơ bản là 69 % và ức chế tiết acid kích thích bởi thức ăn là 82 %, thời gian ức chế kéo dài đến 48 giờ. Thời gian thuốc có tác dụng dược lý dài hon nhiều so với thời gian bán hủy (khoảng 1 giờ), có thể do sự liên kết kéo dài với enzyme H/K – ATPase ở thành dạ dày. Hiệu quả ức chế tiết acid của rabeprazol natri tăng nhẹ khi dùng tiếp theo mỗi ngày một liều và đạt ổn định sau 3 ngày..

Tác dụng trên Gastrin huyết thanh: Trong các nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhân được điều trị với 20 mg rabeprazol natri ngày 1 lần, kéo dài đến 24 tháng. Mức gastrin huyết thanh tăng trong 2 đến 8 tuần đầu, cho thấy hiệu quả ức chế trên tiết acid. Mức gastrin trở về như trước khi điều trị, thường trong vòng 1 đen 2 tuần sau khi ngừng thuốc.

Tác dụng diệt H. Pylori:

Mẫu sinh thiết dạ dày người từ hang và đáy của hơn 500 bệnh nhân dùng rabeprazol hoặc liệu pháp điều trị đối chứng trong 8 tuần không phát hiện thấy sự thay đổi mô học của tế bào ECL, mức độ viêm dạ dày, tỷ lệ mắc bệnh viêm dạ dày tá tràng, chuyển sản ruột hoặc sự phân bố của nhiễm H. Pylori . Ở hơn 250 bệnh nhân theo dõi trong 36 tháng điều trị liên tục, không có thay đổi đáng kể trong các phát hiện khảo sát ban đầu đã được quan sát thấy

Các nghiên cứu trên các đối tượng khỏe mạnh đã chỉ ra rằng rabeprazol natri không có tương tác lâm sàng đáng kể với amoxicillin. Rabeprazol không gây ảnh hưởng bât lợi đến nồng độ amoxicillin trong huyết tương hoặc clarithromycin khi phối hợp với mục đích diệt H. Pylori ở dạ dày-ruột

Cơ chế tác dụng:

Rabeprazole sodium thuộc nhóm thuốc kháng tiết acid, những dẫn xuất của benzimidazoles thế, không có đặc tính kháng tiết cholin hay đối kháng histamine H2 nhưng ức chế sự tiết acid ở dạ dày bằng cách ức chế chuyên biệt enzyme H+/K+ – ATPase (bơm acid hay bơm proton). Hiệu quả tỷ lệ với liều lượng và ức chế cả sự tiết acid cơ bản lẫn sự tiết acid do kích thích bất kể tác nhân kích thích nào. Những nghiên cứu trên động vật cho thấy sau khi uống, rabeprazole sodium nhanh chóng biến mất khỏi huyết tương và niêm mạc dạ dày. Vì là một base yếu, rabeprazole nhanh chóng được hấp thu dù ở liều lượng nào và tập trung vào môi trường acid của tế bào thành. Rabeprazole được chuyển thành dạng sulphenamide có hoạt tính qua sự proton hóa và sau đó phản ứng với cysteines có sẵn ở bơm proton.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu: Rabeprazol natri được bào chế dạng viên nén bao tan trong ruột do đặc tính dễ bị phân hủy bởi acid. Do đó sự hấp thu rabeprazol chỉ xảy xa sau khi thuốc rời khỏi dạ dày. Thuốc hấp thu nhanh, với nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 3,5 giờ sau khi uống liều 20 mg. Nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) và AUC là tuyến tính trong khoảng liều 10 mg đến 40 mg. Sinh khả dụng tuyệt đối của liều 20 mg đường uống (so với đường tĩnh mạch) là khoảng 52% do một phần lớn thuốc bị chuyển hóa trước. Ngoài ra sinh khả dụng có vẻ không tăng sau khi lặp lại liều. Ở người khỏe mạnh, thời gian bán thải huyết tương khoảng 1 giờ (từ 0,7 đến 1,5 giờ), và độ thanh thải toàn cơ thể ước tính là 283 ± 98 ml/phút. Không thấy có tương tác với thức ăn trên lâm sàng. Cả thức ăn và thời gian dùng thuốc đều không ảnh hưởng đến sự hấp thu của rabeprazol natri..

Phân bố: Rabeprazol gắn với protein huyết tương khoảng 97%.

Chuyển hóa và thải trừ: Rabeprazol natri cũng như các chất ức chế bơm proton khác (PPI) chuyển hóa thông qua hệ thống chuyển hóa thuốc qua gan cytochrom P450 (CYP450). Các nghiên cứu in vitro ở microsom gan người cho thấy rabeprazol natri được chuyển hóa bởi isoenzyme của CYP450 (CYP2C19 và CYP3A4). Trong các nghiên cứu này, tại nồng độ thuốc mong muốn trong huyết thanh, rabeprazole không gây cảm ứng cũng không ức chế CYP3A4; và mặc dù các nghiên cứu in vitro không phải luôn luôn dự đoán được kết quả in vivo nhưng kết quả của những nghiên cứu này cho phép dự đoán không có tương tác giữa rabeprazol và cyclosporin, ở người các chất chuyển hóa chính trong huyết tương là thioether (Ml) và carboxylic acid (M6) và các chất chuyển hóa phụ với nồng độ thấp hơn là sulphon (M2), desmethyl-thioether (M4) và dạng liên hợp với acid mercapturic (M5). Chỉ có dạng chuyển hóa desmethyl (M3) có hoạt tính kháng tiết, nhưng không xuất hiện trong huyết tương.

Sau khi uống 1 liều duy nhất 20 mg rabeprazol natri được đánh dấu bằng 14c, không tìm thấy thuốc dạng không chuyển hóa trong nước tiểu. Khoảng 90% thuốc được đào thải qua nước tiểu chủ yếu là 2 chất chuyển hóa: liên hợp với acid mercapturic (M5) và acid carboxylic (M6), và hai chất chuyển hóa chưa rõ. Phần còn lại được tìm thấy trong phân.

Giới tính: Được điều chỉnh đối với chiều cao và trọng lượng cơ thể, không thấy có sự khác biệt đáng kể về các thông số dược động học sau khi uống 1 liều đơn 20 mg rabeprazol natri.

Suy thận: Ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối, càn được thẩm tách máu thường xuyên (độ thanh thải creatinin < 5 mL/phút/1,73 m2), sự thải trừ là tương đương với người tình nguyện khỏe mạnh. AUC và Cmax ở nhũng bệnh nhân này thấp hơn khoảng 35% so với người tình nguyện khỏe mạnh. Thời gian bán thải trung bình khoảng 0,82 giờ ở người tình nguyện khỏe mạnh, và khoảng 0,92 giờ ở bệnh nhân trong khi đang được thẩm thách máu và khoảng 3,6 giờ sau khi thẩm tách. Độ thanh thải ở bệnh nhân có bệnh thận cần thẩm tách máu duy trì gấp khoảng 2 lần so với người tình nguyện khỏe mạnh.

Suy chức năng gan: Ở người suy gan nhẹ đến trung bình, sau khi dùng liều đơn 20 mg rabeprazol, AUC tăng gấp đôi và thời gian bán thải tăng gấp 2 – 3 lần so với người tình nguyện khỏe mạnh. Tuy nhiên, sau khi dùng liều 20 mg trong vòng 7 ngày, AUC chỉ tăng lên khoảng 1,5 lần và Cmax tăng 1,2 lần. Thời gian bán thải của rabeprazol ở bệnh nhân suy gan là 12,3 giờ so với 2,1 giờ ở người tình nguyện khỏe mạnh. Đáp ứng dược lực học (kiểm soát pH dạ dày) ở cả 2 nhóm là tương đương về mặt lâm sàng.

Người cao tuổi: Sự đào thải rabeprazol giảm nhẹ ở người cao tuổi. Sau 7 ngày dùng rabeprazol natri 20 mg, AUC tăng xấp xỉ gấp đôi, Cmax tăng khoảng 60% và thời gian bán thải tăng khoảng 30% so với người tình nguyện trẻ khỏe mạnh. Tuy nhiên không thấy có bằng chứng về tích lũy thuốc.

Tính đa dạng cùa CYP2C19: Sau khi dùng rabeprazol 20 mg/ngày trong 7 ngày, người có CYP2C19 dạng chuyển hóa chậm, có AUC và thời gian bán thải khoảng 1,9 và 1,6 lần so với người có dạng chuyển hóa nhanh, trong khi Cmax chỉ tăng 40%.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

 

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM