Itraconazole – Sanuzo

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Itraconazole

Phân loại: Thuốc kháng nấm.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J02AC02.

Biệt dược gốc: Sporanox , Sporal

Biệt dược: Sanuzo

Hãng sản xuất : Cure Medicines (I) Pvt. Ltd

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nang 100 mg;

Thuốc tham khảo:

SANUZO
Mỗi viên nang cứng có chứa:
Itraconazole …………………………. 100 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Itraconazole được chỉ định điều trị các bệnh nhiễm nấm sau:

Phụ khoa: Bệnh nấm Candida âm hộ – âm đạo.

Ngoài da/nhãn khoa: Lang ben, bệnh nấm da, bệnh nấm giác mạc mắt và nhiễm Candida ở miệng; bệnh nấm móng do nấm da và/hoặc nấm men.

Nấm nội tạng: Nhiễm nấm nội tạng do nấm Aspergillus và Candida, bệnh nấm Cryptococcus (kể cả viêm màng não do Cryptococcus), bệnh nấm do Histoplasma, Sporotrichum, Paracoccidioides, Blastomyces và các nhiễm nấm nội tạng hoặc nhiễm nấm vùng nhiệt đới hiếm gặp khác.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Để đạt sự hấp thu tối đa, cần phải uống Itraconazole ngay sau khi ăn no. Các viên nang khi uống phải được nuốt nguyên viên.

Liều dùng:

Thuốc này chỉ dùng theo sự kê đơn của thầy thuốc.

Chỉ định phụ khoa như bệnh nấm Candida âm hộ – âm đạo: 200mg hai lần/ngày x 1 ngày hoặc 200mg một lần/ngày x 3 ngày.

Lang ben, bệnh nấm da: 200mg một lần/ngày x 7 ngày hoặc 100mg một lần/ngày x 15 ngày.

Những vùng keratin hóa cao như nấm da ở bàn chân và lòng bàn tay, cần phải dùng liều 200mg hai lần/ngày x 7 ngày hoặc 100mg một lần/ngày x 30 ngày.

Nhiễm Candida ở miệng: 100mg một lần/ngày x 15 ngày.

Ở một số bệnh nhân thương tổn miễn dịch như giảm bạch cầu trung tính, bệnh nhân AIDS hoặc bệnh nhân cấy ghép cơ quan, khả dụng sinh học đường uống của Itraconazole có thể bị giảm. Vì vậy, có thể dùng liều gấp đôi.

Bệnh nấm giác mạc mắt: 200mg một lần/ngày x 21 ngày.

Nấm móng: Điều trị theo đợt (xem bảng 1 dưới đây): Một đợt điều trị gồm 200mg hai lần/ngày x 1 tuần. Dùng hai đợt điều trị cho nhiễm nấm móng tay và 3 đợt điều trị cho nhiễm nấm móng chân. Các đợt điều trị luôn luôn được cách nhau bởi một khoảng 3 tuần không dùng thuốc. Đáp ứng lâm sàng sẽ được thấy rõ khi móng phát triển trở lại sau khi ngưng điều trị.

Điều trị liên tục: 200mg một lần/ngày x 3 tháng.

Sự thải trừ của Itraconazole khỏi tổ chức da và móng chậm hơn sự thải trừ khỏi huyết tương. Đáp ứng tối ưu về lâm sàng và nấm học đạt được 2 – 4 tuần sau khi ngưng điều trị nấm da và 6 – 9 tháng sau khi ngưng điều trị nấm móng.

Bảng 1

Vị trí của nấm móng Tuần
1 2/3/4 5 6/7/8 9
Nấm móng chân cùng với có hay không nấm móng tay Đợt 1 Ngưng thuốc Đợt 2 Ngưng thuốc Đợt 3
Chỉ nấm móng tay Đợt 1 Ngưng thuốc Đợt 2

Nấm nội tạng (liều dùng thay đổi tùy theo bệnh nấm được điều trị). (Bảng 2)

Bảng 2

Chỉ định Liều dùng Thời gian Ghi chú
Nhiễm Aspergillus 200mg 1 lần/ngày 2-5 tháng Tăng liều lên đến 200mg, 2 lần/ngày trong trường hợp xâm nhiễm hoặc lan tỏa
Nhiễm Candida 100-200mg1 lần/ngày 3 tuần đến 7 tháng
Nhiễm nấm Cryptococcus ngoài màng não 200mg 1 lần/ngày 2 tháng đến 1 năm Điều trị duy trì cho các trường hợp viêm màng não là 200mg 1 lần/ngày
Viêm màng não do Cryptococcus 200mg 2 lần/ngày
Nhiễm Histoplasma 200mg, 1-2 lần/ngày 8 tháng
Nhiễm Sporotrichum 100mg 1 lần/ngày 3 tháng
Nhiễm Paracoccidioides 100mg 1 lần/ngày 6 tháng
Nhiễm Blastomyces 100mg 1 lần/ngày đến 200mg 2 lần/ngày 6 tháng

4.3. Chống chỉ định:

Itraconazole chống chỉ định cho những bệnh nhân nhạy cảm với thuốc hoặc các thành phần của thuốc.

Không dùng Itraconazole để điều trị nấm móng cho những bệnh nhân mang thai hoặc có ý định có thai.

Chống chỉ định dùng đồng thời Itraconazole với terfenadine, astemizole, cisapride, triazolam uống hoặc midazolam uống.

4.4 Thận trọng:

Giảm tính acid dạ dày: Sự hấp thu sẽ giảm khi tính acid dạ dày giảm. Ở những bệnh nhân đang dùng thuốc trung hòa acid như hydroxide nhôm, các thuốc này nên được uống ít nhất là 2 giờ sau khi uống Itraconazole.

Nên theo dõi chức năng gan ở những bệnh nhân điều trị liên tục hơn một tháng và những bệnh nhân phát triển những triệu chứng như chán ăn, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, đau bụng hoặc nước tiểu sậm màu. Nếu có bất thường xảy ra nên ngưng điều trị.

Ở những bệnh nhân tăng men gan, không nên bắt đầu điều trị trừ khi lợi ích đạt được vượt trội so với nguy cơ tổn thương gan.

Itraconazole được chuyển hóa chủ yếu ở gan. Khả dụng sinh học đường uống ở bệnh nhân xơ gan có hơi giảm. Nên theo dõi nồng độ Itraconazole trong huyết tương để điều chỉnh liều khi cần thiết.

Nếu xảy ra bệnh lý thần kinh mà có thể cho là Itraconazole, nên ngưng điều trị.

Suy thận: Khả dụng sinh học đường uống của Itraconazole giảm ở những bệnh nhân suy thận. Nên theo dõi nồng độ Itraconazole trong huyết tương và điều chỉnh liều sao cho thích hợp.

Sử dụng cho trẻ em: Bởi vì dữ liệu lâm sàng về việc sử dụng Itraconazole cho bệnh nhân nhi bị giới hạn, không nên dùng Itraconazole cho những bệnh nhân như thế trừ khi lợi ích điều trị vượt trội hơn so với nguy cơ tiềm tàng.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có tác động.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Trên chuột lớn dùng liều xấp xỉ 40 – 160mg/kg/ngày và chuột nhắt dùng liều xấp xỉ 80mg/kg/ngày cho thấy Itraconazole gây quái thai, độc tính trên phôi thai và độc tính trên chuột mẹ liên quan tới liều dùng. Trên chuột lớn, quái thai bao gồm khuyết tật trên bộ xương là chính; trên chuột nhắt thì quái thai bao gồm thoát vị não và/hoặc tật lưỡi to. Chưa có những nghiên cứu trên phụ nữ mang thai. Không dùng Itraconazole để điều trị nấm móng cho phụ nữ mang thai hay có dự định có thai. Không nên dùng Itraconazole để điều trị nấm móng cho phụ nữ có khả năng có thai trừ khi đang dùng các biện pháp tránh thai có hiệu quả và bắt đầu điều trị vào ngày thứ hai hoặc thứ ba của chu kỳ kinh nguyệt bình thường kế tiếp. Biện pháp ngừa thai có hiệu quả nên tiếp tục trong suốt thời gian trị liệu với Itraconazole và khoảng 2 tháng sau khi ngưng điều trị.

Thời kỳ cho con bú:

Chỉ một lượng rất nhỏ Itraconazole bài tiết vào sữa người. Vì vậy nên cân nhắc giữa lợi ích khi điều trị Itraconazole với nguy cơ tiềm tàng ở phụ nữ đang cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các tác dụng phụ được báo cáo thông thường nhất có liên quan đến việc sử dụng Itraconazole là những tác dụng trên đường tiêu hóa như khó tiêu, buồn nôn, đau bụng và táo bón.

Các tác dụng phụ ít gặp bao gồm nhức đầu, tăng men gan có hồi phục, rối loạn kinh nguyệt, chóng mặt và các phản ứng dị ứng như ngứa, mề đay và phù mạch. Cũng có báo cáo các trường hợp riêng lẻ của bệnh lý thần kinh ngoại biên và hội chứng Stevens-Johnson.

Đặc biệt ở những bệnh nhân điều trị kéo dài (khoảng 1 tháng), mà đa số tồn tại bệnh lý và dùng đồng thời nhiều thuốc, người ta nhận thấy một vài trường hợp có giảm kali huyết, phù, viêm gan và rụng tóc.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Chống chỉ định dùng đồng thời terfenadine, astemizole, cisapride, triazolam uống hoặc midazolam uống với Itraconazole.

Cả Itraconazole và chất chuyển hóa của nó, hydroxyitraconazole, là những chất ức chế hệ enzyme cytochrome P450 3A4. Dùng đồng thời Itraconazole với những thuốc được chuyển hóa chủ yếu bởi hệ enzyme cytochrome P450 3A4 như rifampicine, rifabutin và phenytoin có thể làm tăng nồng độ của những thuốc này trong huyết tương từ đó có thể làm tăng hoặc kéo dài cả hiệu quả điều trị và tác dụng không mong muốn.

Khi Itraconazole được dùng đồng thời với phenytoin, rifampin hoặc các chất đối kháng H2 thì nồng độ Itraconazole trong huyết tương giảm. Thầy thuốc nên theo dõi nồng độ Itraconazole trong huyết tương khi bất cứ thuốc nào trong những thuốc này được dùng đồng thời, và tăng liều Itraconazole nếu cần thiết. Mặc dù chưa có nghiên cứu nào được tiến hành, nhưng dùng đồng thời Itraconazole và phenytoin có thể làm thay đổi sự chuyển hóa của phenytoin; vì vậy, nồng độ phenytoin trong huyết tương cũng nên được theo dõi khi nó được dùng đồng thời với Itraconazole.

Đã có báo cáo cho rằng Itraconazole làm tăng tác động chống đông máu của thuốc dạng coumarin. Vì vậy, cần theo dõi cẩn thận thời gian prothrombin ở bệnh nhân dùng đồng thời Itraconazole với các thuốc dạng coumarin.

Nồng độ các thuốc kháng nấm azole trong huyết tương bị giảm khi dùng đồng thời với isoniazid. Nên theo dõi nồng độ Itraconazole trong huyết tương khi Itraconazole và isoniazid được dùng cùng lúc.

Hạ đường huyết nghiêm trọng xảy ra ở bệnh nhân dùng đồng thời kháng nấm azole với các thuốc hạ đường huyết dạng uống. Nên theo dõi cẩn thận nồng độ glucose trong máu khi Itraconazole và các thuốc hạ đường huyết dạng uống được dùng cùng lúc.

Ù tai và giảm khả năng nghe xảy ra ở bệnh nhân dùng đồng thời Itraconazole với quinidine. Phù cũng được ghi nhận ở bệnh nhân dùng đồng thời Itraconazole với chất ức chế kênh canxi dihydropyridine. Điều chỉnh liều thích hợp là cần thiết.

4.9 Quá liều và xử trí:

Itraconazole không được loại ra khỏi tuần hoàn bởi sự thẩm tách máu. Chưa có thuốc giải độc đặc hiệu. Trong trường hợp quá liều do vô tình, nên áp dụng các biện pháp hỗ trợ, kể cả súc rửa dạ dày với natri bicarbonate

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Itraconazole là thuốc kháng nấm phổ rộng tổng hợp.

Các nghiên cứu in vitro chứng minh rằng Itraconazole có tác dụng ức chế sự tổng hợp ergosterol phụ thuộc cytochrome P-450, là một thành phần sống của màng tế bào nấm. Sự suy giảm tổng hợp chất này cuối cùng dẫn đến một tác dụng kháng nấm.

Itraconazole có tác dụng in vitro đối với Blastomyces dermatitidis, Histoplasma capsulatum, Histoplasma duboisii, Aspergillus flavus, Aspergillus fumigatus và Cryptococcus neoformans. Itraconazole cũng có tác dụng in vitro khác nhau đối với Sporothrix schenckii, các loài Trichophyton, Candida albicans và các loài Candida.

Itraconazole dùng đường uống có hoạt tính trên nhiều bệnh nhiễm nấm từ các chủng nấm thí nghiệm chuẩn trên các mô hình súc vật nghiên cứu. Hoạt tính kháng nấm đã được chứng minh trên những bệnh nhiễm nấm lan tỏa do Blastomyces dermatitidis, Histoplasma duboisii, Aspergillus fumigates, Coccidioides immitis, Cryptococcus neoformans, Paracoccidioides brasiliensis, Sporothrix schenckii, Trichophyton rubrum và Trichophyton mentagrophytes.

Cơ chế tác dụng:

Itraconazol, một dẫn xuất triazol tổng hợp, là thuốc kháng nấm. Itraconazol ức chế các enzym phụ thuộc cytochrom P450 trong nấm nhạy cảm dẫn đến làm suy giảm sự tổng hợp ergosterol trong màng tế bào nấm.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Sinh khả dụng đường uống của Itraconazole đạt tối đa khi uống thuốc ngay sau khi ăn no. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được 3 – 4 giờ sau một liều uống. Sự thải trừ thuốc khỏi huyết tương là hai pha với thời gian bán hủy sau cùng là 1 đến 1.5 ngày. Khi sử dụng dài hạn, trạng thái ổn định đạt được sau 1 – 2 tuần. Ba đến bốn giờ sau khi uống thuốc, nồng độ Itraconazole trong huyết tương ở trạng thái ổn định là 0.4µg/ml (với liều 100mg một lần/ngày), 1.1µg/ml (liều 200mg một lần/ngày) và 2µg/ml (liều 200mg hai lần/ngày).

Itraconazole gắn kết với protein huyết tương là 99.8%. Nồng độ Itraconazole trong máu toàn phần bằng 60% nồng độ trong huyết tương. Sự xâm nhập của thuốc vào các tổ chức sừng; đặc biệt là da, cao hơn đến 4 lần so với trong huyết tương, và sự thải trừ của Itraconazole liên quan đến việc tái sinh biểu bì. Trái ngược với nồng độ trong huyết tương trở nên khó phát hiện trong vòng 7 ngày sau khi ngưng điều trị, nồng độ trị liệu ở da tồn tại cho đến 2 – 4 tuần sau khi ngưng một liệu trình trị liệu 4 tuần. Nồng độ Itraconazole được phát hiện ở sừng móng tay ngay trong tuần điều trị đầu tiên và kéo dài ít nhất 6 tháng sau khi kết thúc một đợt điều trị 3 tháng. Itraconazole cũng hiện diện trong chất bã nhờn và với một mức độ ít hơn trong mồ hôi.

Itraconazole cồn được phân bố rộng rãi ở các mô dễ bị nhiễm nấm. Nồng độ của thuốc ở phổi, thận, gan, xương, dạ dày, lách và cơ bắp được phát hiện là cao hơn 2 – 3 lần nồng độ tương ứng trong huyết tương. Nồng độ điều trị ở mô âm đạo được duy trì thêm 2 ngày nữa sau khi ngưng đợt điều trị 3 ngày với liều 200mg mỗi ngày và thêm 3 ngày nữa sau khi ngưng đợt điều trị 1 ngày với liều 200mg hai lần/ngày.

Itraconazole được chuyển hóa chủ yếu ở gan thành nhiều chất chuyển hóa. Một trong những chất chuyển hóa này là hydroxy-itraconazole, có tác động kháng nấm tương đương với Itraconazole trên in vitro. Sự bài xuất qua phân của thuốc ở dạng chưa chuyển hóa thay đổi từ 3 – 18% liều dùng. Thuốc ở dạng chưa chuyển hóa đào thải qua thận là < 0.03% liều dùng. Khoảng 35% của liều dùng được thải trừ dưới dạng các chất chuyển hóa trong nước tiểu trong vòng một tuần.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: Hạt trơ.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản ở nơi khô, mát. Tránh ánh sáng.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam