Idarucizumab

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Idarucizumab

Phân loại: Thuốc giải độc dabigatran.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): V03AB37.

Brand name: Praxbind.

Generic : Idarucizumab

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm/truyền: Mỗi lọ: Idarucizumab 2,5g.

Thuốc tham khảo:

PRAXBIND
Mỗi lọ dung dịch tiêm có chứa:
Idarucizumab …………………………. 2500 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Idarucizumab là một thuốc hóa giải tác dụng đặc hiệu của dabigatran và được chỉ định cho bệnh nhân đã điều trị bằng Pradaxa (dabigatran) khi cần hóa giải nhanh chóng tác dụng chống đông của dabigatran:

Trong trường hợp phẫu thuật cấp cứu/thủ thuật khẩn cấp

Trong trường hợp chảy máu đe dọa tính mạng hoặc không kiểm soát được.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Trước khi sử dụng các chế phẩm thuốc đường tiêm nên kiểm tra bằng mắt xem có mặt các chất lạ và đổi màu hay không.

Không được trộn lẫn Idarucizumab với các thuốc khác. Có thể dùng dây truyền tĩnh mạch đã có sẵn để truyền Idarucizumab. Dây truyền cần được rửa bằng dung dịch natri clorid vô khuẩn 9 mg/mL (0,9%) trước và khi ngưng truyền. Không nên truyền cùng lúc với thuốc khác trong cùng một đường tĩnh mạch.

Trước khi sử dụng, có thể giữ lọ thuốc chưa mở ở nhiệt độ phòng (dưới 30°C) trong 48 giờ nếu được bảo quản nguyên trong hộp tránh ánh sáng. Khi dung dịch được rút ra khỏi lọ, độ ổn định về hóa học và vật lý để sử dụng của idarucizumab đã được chứng minh trong 6 giờ ở nhiệt độ phòng. Không nên để dung dịch tiếp xúc với ánh sáng quá 6 giờ.

Idarucizumab chỉ có dạng liều đơn và không chứa chất bảo quản.

Không có sự bất tương thích nào giữa Idarucizumab và polyvinyl chlorid, polyethylen hoặc polyurethan của bộ dịch truyền hoặc bơm tiêm bằng polypropylen được ghi nhận.

Liều dùng:

Liều được khuyến cáo của Idarucizumab là 5 g. Hai lọ 50 mL (2 x 2,5 g/50 mL).

Idarucizumab (2 x 2,5 g/50 mL) được dùng đường tĩnh mạch, hai lần truyền liên tục trong khoảng thời gian 5 đến 10 phút cho mỗi lần truyền hoặc tiêm tĩnh mạch nhanh.

Trong một số ít bệnh nhân, sự tái xuất hiện nồng độ dabigatran dạng tự do không liên kết trong huyết tương và đồng thời kéo dài các xét nghiệm đông máu có thể xảy ra tới 24 giờ sau khi dùng idarucizumab (xem mục Dược lực học).

Có thể cân nhắc dùng liều 5g Idarucizumab lần thứ hai trong những trường hợp sau:

Tái phát chảy máu trên lâm sàng đi kèm với kéo dài thời gian đông máu, hoặc

Những bệnh nhân yêu cầu phẫu thuật cấp cứu lần hai/thủ thuật khẩn cấp và có thời gian đông máu kéo dài.

Các thông số đông máu có liên quan là thời gian hoạt hóa bán phần Thromboplastin (aPTT), thời gian Thrombin pha loãng (dTT) hoặc thời gian đông Ecarin (ECT) (xem mục Dược lực học).

Điều trị lại với thuốc chống huyết khối

Có thể bắt đầu điều trị lại bằng Pradaxa 24 giờ sau khi dùng Idarucizumab nếu tình trạng lâm sàng của bệnh nhân ổn định và bệnh nhân đã được cầm máu tốt.

Sau khi dùng Idarucizumab, có thể bắt đầu điều trị bằng các thuốc chống huyết khối khác (như heparin trọng lượng phân tử thấp) vào bất cứ lúc nào nếu tình trạng lâm sàng của bệnh nhân ổn định và bệnh nhân đã được cầm máu tốt.

Thiếu các liệu pháp điều trị chống đông cho thấy các bệnh nhân có nguy cơ huyết khối gây bởi các bệnh hoặc tình trạng đi kèm.

Bệnh nhân suy chức năng thận

Không cần điều chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận. Suy thận không ảnh hưởng đến tác dụng hóa giải của idarucizumab.

Bệnh nhân suy chức năng gan

Không cần điều chỉnh liều trên bệnh nhân có tổn thương gan (xem mục Dược động học).

Bệnh nhân cao tuổi

Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi từ 65 tuổi trở lên (xem mục Dược động học).

Bệnh nhi

Hiệu quả và an toàn của Idarucizumab trên đối tượng trẻ em dưới 18 tuổi chưa được thiết lập. Chưa có dữ liệu liên quan.

4.3. Chống chỉ định:

Thuốc chống chỉ định trong trường hợp bệnh nhân bị dị ứng hoặc tăng mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

4.4 Thận trọng:

Idarucizumab gắn đặc hiệu với dabigatran và hóa giải tác dụng chống đông của dabigatran. Thuốc không hóa giải tác dụng của các thuốc chống đông khác (xem phần Dược lực học).

Điều trị bằng Idarucizumab có thể được sử dụng kết hợp với các biện pháp hỗ trợ chuẩn thích hợp về mặt y khoa.

Quá mẫn

Cần cân nhắc nguy cơ của việc sử dụng Idarucizumab ở các bệnh nhân quá mẫn (ví dụ có phản ứng phản vệ) với idarucizumab hoặc bất cứ thành phần tá dược nào với lợi ích của thuốc trong trường hợp điều trị cấp cứu. Nếu xuất hiện phản ứng phản vệ hoặc phản ứng dị ứng nghiêm trọng khác, nên ngừng dùng Idarucizumab ngay lập tức và có biện pháp điều trị thích hợp.

Không dung nạp fructose di truyền

Liều được khuyến cáo của Idarucizumab chứa 4 g sorbitol dạng tá dược. Ở bệnh nhân không dung nạp di truyền với fructose, dùng đường tiêm sorbitol liên quan đến các báo cáo về hạ đường huyết, hạ phosphat máu, nhiễm toan chuyển hóa, tăng acid uric, suy gan cấp kèm theo suy giảm chức năng bài tiết và tổng hợp, tử vong. Do đó, ở bệnh nhân không dung nạp fructose di truyền, nguy cơ khi điều trị bằng Idarucizumab cần được cân nhắc với hiệu quả của thuốc trong trường hợp điều trị cấp cứu. Trường hợp Idarucizumab được sử dụng trên những bệnh nhân này, cần chăm sóc y tế tăng cường khi phơi nhiễm Idarucizumab và trong vòng 24 giờ phơi nhiễm.

Biến cố thuyên tắc do huyết khối

Bệnh nhân đang được điều trị bằng dabigatran là những bệnh nhân có sẵn tình trạng bệnh lý dẫn đến những biến cố thuyên tắc do huyết khối. Hóa giải tác dụng điều trị của dabigatran làm cho bệnh nhân có nguy cơ huyết khối gây bởi các tình trạng bệnh lý đang mắc. Để giảm bớt nguy cơ này, việc điều trị lại với thuốc chống đông máu nên được xem xét càng sớm càng tốt khi tình trạng y khoa thích hợp (xem mục Liều lượng và Cách dùng).

Xét nghiệm protein niệu

Idarucizumab gây protein niệu thoáng qua như là một phản ứng sinh lý đối với việc tràn protein thận sau khi sử dụng idarucizumab đường tĩnh mạch liều đơn/thời gian ngắn (xem mục Dược động học). Protein niệu thoáng qua không phải là chỉ điểm của tổn thương thận, nên xem xét khi xét nghiệm nước tiểu.

Thành phần natri

Thuốc này chứa 2,2 mmol (hoặc 50 mg) natri trong một liều sử dụng. Bệnh nhân sử dụng thuốc cần xem xét việc kiểm soát chế độ ăn chứa natri.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B2

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Không có dữ liệu về sử dụng Idarucizumab ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu về độc tính trên sinh sản và phát triển chưa được thực hiện do tính chất và mục đích sử dụng trên lâm sàng của thuốc. Idarucizumab có thể sử dụng trong thời kỳ mang thai nếu lợi ích của thuốc vượt trội hơn so với nguy cơ.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa rõ liệu idarucizumab có bài tiết vào sữa mẹ hay không.

Khả năng sinh sản

Chưa có các dữ liệu về ảnh hưởng của Idarucizumab đến khả năng sinh sản.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Trong một thử nghiệm pha III, tính an toàn của Idarucizumab đã được đánh giá trên 503 bệnh nhân, là những bệnh nhân bị chảy máu không kiểm soát hoăc yêu cầu phẫu thuật cấp cứu hoặc thủ thuật cấp cứu và đang điều trị với Pradaxa, cũng như trên 224 người tình nguyện khoẻ mạnh trong các thử nghiệm pha I.

Không có các phản ứng bất lợi được ghi nhận.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Chưa thực hiện các nghiên cứu tương tác chính thức giữa Idarucizumab và các thuốc khác. Dựa trên các đặc tính dược động học và khả năng gắn đặc hiệu cao với dabigatran, tương tác có biểu hiện trên lâm sàng với các thuốc khác được xem như không có.

Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy không có sự tương tác với các thuốc làm tăng thể tích tuần hoàn, yếu tố đông máu đậm đặc và các thuốc chống đông khác không phải dabigatran (xem mục Dược lực học).

4.9 Quá liều và xử trí:

Không có kinh nghiệm trên lâm sàng về quá liều Idarucizumab.

Liều cao nhất của Idarucizumab được nghiên cứu trên người tình nguyện khỏe mạnh là 8 g. Không có các tín hiệu an toàn được xác định trên nhóm đối tượng này.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm tác dụng dược lý: tất cả các sản phẩm thuốc điều trị khác, thuốc giải độc đặc hiệu.

Mã ATC: V03AB37.

Tác động dược lực học

Dược lực học của idarucizumab sau khi dùng dabigatran etexilat được nghiên cứu trên người tình nguyện khỏe mạnh tuổi từ 45 đến 64 dùng liều 5 g truyền tĩnh mạch. Nồng độ đỉnh trung vị của dabigatran ở người tình nguyện khỏe mạnh tham gia nghiên cứu nằm trong khoảng nồng độ của bệnh nhân dùng dabigatran etexilat 150 mg 2 lần/ngày.

Ảnh hưởng của idarucizumab đến tác dụng chống đông và nồng độ dabigatran trong tuần hoàn

Ngay sau khi dùng idarucizumab, nồng độ trong huyết tương của dabigatran dạng tự do không liên kết giảm hơn 99% đến mức nồng độ không còn tác dụng chống đông.

Ở phần lớn bệnh nhân cho thấy có sự hóa giải nồng độ dabigatran trong huyết tương duy trì lên đến 12 giờ (≥ 90%). Trong một nhóm phụ các bệnh nhân quan sát thấy có xuất hiện trở lại nồng độ dabigatran trong huyết tương ở dạng tự do không liên kết và đồng thời có gia tăng các xét nghiệm đông máu, có thể do tái phân phối dabigatran từ ngoại vi. Điều này xảy ra từ 1-24 giờ sau khi dùng idarucizumab chủ yếu tại thời điểm ≥ 12 giờ.

Dabigatran kéo dài thời gian đông máu của các chất đánh dấu quá trình đông máu như thời gian pha loãng thrombin (dTT), thời gian thrombin (TT), thời gian hoạt hóa bán phần thromboplastin (aPTT) và thời gian đông máu Ecarin (ECT), đây là các chỉ số giúp phản ánh tương đối mức độ chống đông. Giá trị nằm trong giới hạn bình thường sau khi dùng idarucizumab cho thấy không còn hiệu quả chống đông trong cơ thể bệnh nhân. Giá trị trên mức bình thường có thể do tác dụng tồn dư của dabigatran hoặc các tình trạng lâm sàng khác như sự có mặt của các thuốc khác hoặc các rối loạn đông máu do tiêm truyền. Các xét nghiệm này được sử dụng để đánh giá tác dụng chống đông của dabigatran. Tác dụng kéo dài thời gian đông máu của dabigatran bị hóa giải hoàn toàn và duy trì bền vững đã được ghi nhận tức thì sau khi truyền idarucizumab và kéo dài trong toàn bộ thời gian quan sát trong ít nhất 24 giờ.

Các thông số hình thành thrombin

Dabigatran ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt tính thrombin nội sinh (ETP). Điều trị bằng idarucizumab làm cả tỷ lệ thời gian tiềm tàng thrombin và tỷ lệ thời gian đạt nồng độ đỉnh trở về mức ban đầu được xác định từ 0,5 đến 12 giờ sau khi ngưng truyền idarucizumab. Idarucizumab đơn độc không có tác dụng gây đông máu được xác định thông qua giá trị ETP. Điều này cho thấy idarucizumab không có tác dụng gây đông máu.

Tái sử dụng dabigatran etexilat

24 giờ sau khi truyền idarucizumab, tái sử dụng dabigatran etexilat sẽ đạt được tác dụng chống đông như mong đợi.

Tính sinh miễn dịch

Mẫu huyết thanh của 283 người trong các thử nghiệm pha I (224 người tình nguyện được điều trị bằng idarucizumab) và 501 bệnh nhân được xét nghiệm kháng thể kháng idarucizumab trước và sau điều trị.

Các kháng thể sẵn có phản ứng chéo với idarucizumab được xác định trên khoảng 12% (33/283) số người tình nguyện trong pha I và 3,8% (19/501) số bệnh nhân. Không ghi nhận thấy ảnh hưởng đến dược động học hay tác dụng hóa giải của idarucizumab cũng như các phản ứng quá mẫn.

Kháng thể kháng idarucizumab có thể tồn tại dai dẳng do điều trị được ghi nhận với nồng độ thấp trên 4% (10/224) số người tình nguyện pha I và 1,6% (8/501) số bệnh nhân cho thấy tác dụng sinh miễn dịch của idarucizumab là thấp. Trong một phân nhóm gồm 6 người tình nguyện pha I, idarucizumab được dùng lần hai, 2 tháng sau khi dùng lần đầu. Không phát hiện thấy các kháng thể kháng idarucizumab trên những người này trước khi dùng thuốc lần hai. Khả năng hình thành kháng thể kháng idarucizumab trong quá trình điều trị đã được phát hiện trên 1 người sau khi dùng thuốc lần hai. 9 bệnh nhân đã dùng lại idarucizumab, cả 9 bệnh nhân đều dùng lại trong vòng 6 ngày sau liều idarucizumab đầu tiên. Không bệnh nhân nào dùng lại idarucizumab có xét nghiệm dương tính với kháng thể kháng idarucizumab.

Dược lực học tiền lâm sàng

Mô hình gây chấn thương trên lợn được thực hiện sử dụng một vật cùn gây tổn thương gan sau khi dùng dabigatran với liều để đạt được nồng độ trên nồng độ điều trị, cao hơn khoảng 10 lần nồng độ thuốc trong huyết tương người. Idarucizumab giúp hóa giải hiệu quả và nhanh chóng chảy máu đe dọa đến tính mạng trong vòng 15 phút sau khi tiêm. Tất cả lợn đều được cứu sống với liều idarucizumab khoảng 2,5 và 5 g. Nếu không dùng idarucizumab, tỷ lệ tử vong ở nhóm dùng thuốc chống đông là 100%.

Các nghiên cứu tiền lâm sàng với idarucizumab cho thấy thuốc không có tương tác với

Các thuốc làm tăng thể tích tuần hoàn.

Yếu tố đông máu đậm đặc như phức hợp prothrombin đậm đặc (PCCs, như yếu tố 3 và 4), phức hợp prothrombin đậm đặc được hoạt hóa (aPCCs) và yếu tố VIIa tái tổ hợp.

Các thuốc chống đông khác (như các thuốc ức chế thrombin khác ngoài dabigatran, các thuốc ức chế yếu tố Xa bao gồm heparin trọng lượng phân tử thấp, các thuốc kháng vitamin K, heparin). Như vậy, idarucizumab không hóa giải tác dụng của các thuốc chống đông khác.

Cơ chế tác dụng:

Idarucizumab là một thuốc hóa giải tác dụng đặc hiệu của dabigatran. Thuốc là một đoạn kháng thể đơn dòng của người (Fab) gắn với dabigatran với ái lực rất cao, gấp khoảng 300 lần ái lực liên kết của dabigatran với thrombin. Phức hợp idarucizumab- dabigatran có đặc tính tốc độ liên kết nhanh và tốc độ tách rời rất chậm tạo nên một phức hợp rất bền vững. Idarucizumab có khả năng gắn mạnh và đặc hiệu với dabigatran và các chất chuyển hóa của nó, do đó trung hòa tác dụng chống đông của các thuốc này.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Dược động học của idarucizumab được nghiên cứu trên người tình nguyện khỏe mạnh từ 45 đến 64 tuổi dùng liều 5 g truyền tĩnh mạch.

Phân bố

Idarucizumab cho thấy theo mô hình dược động học nhiều pha và phân phối ngoại mạch hạn chế. Sau khi truyền tĩnh mạch liều 5 g, thể tích phân bố biểu kiến trung bình ở trạng thái ổn định (Vss) là 8,9 L (hệ số biến thiên biểu kiến (gCV) là 24,8%). Trong pha thải trừ, thể tích phân bố (Vz) là 41,8 L (hệ số biến thiên biểu kiến là 22,3%).

Chuyển hóa sinh học

Chuyển hóa của các kháng thể có thể theo một số con đường khác nhau. Tất cả các con đường này đều liên quan đến quá trình giáng hóa sinh học kháng thể thành các phân tử nhỏ hơn như các đoạn peptid nhỏ hay các amino acid, sau đó được tái hấp thu và tích hợp trong quá trình tổng hợp protein nói chung.

Thải trừ

Idarucizumab được thải trừ nhanh với mức thanh thải toàn phần là 47,0 mL/phút (hệ số biến thiên biểu kiến là 18,4%), thời gian bán thải ban đầu 47 phút (hệ số biến thiên biểu kiến là 11,4%) và thời gian bán thải pha cuối là 10,3 giờ (hệ số biến thiên biểu kiến là 18,9%). Sau khi truyền tĩnh mạch 5 g idarucizumab, 32,1% (hệ số biến thiên biểu kiến 60,0%) liều được tìm lại trong nước tiểu trong khoảng thời gian lấy mẫu 6 giờ và dưới 1% trong 18 giờ tiếp theo. Phần liều còn lại được giả định bị thải trừ qua quá trình dị hóa protein, chủ yếu ở thận.

Sau khi điều trị bằng idarucizumab, đã quan sát thấy protein niệu. Tình trạng protein niệu thoáng qua là một phản ứng sinh lý của việc chảy tràn protein đến thận sau khi truyền nhanh 5 g idarucizumab. Nồng độ đỉnh của các protein niệu thoáng qua đạt được khoảng 4 giờ sau khi dùng idarucizumab và trở lại bình thường trong 12- 24 giờ. Trong một số trường hợp riêng lẻ, các protein niệu thoáng qua kéo dài hơn 24 giờ.

Bệnh nhân suy chức năng thận

Trong các nghiên cứu lâm sàng pha I, Idarucizumab đã được nghiên cứu trên các đối tượng có mức thanh thải creatinin dao động từ 44 đến 213 mL/phút. Chưa được nghiên cứu trong pha I ở các đối tượng có mức thanh thải creatinin dưới 44 mL/phút.

Tùy thuộc vào mức độ suy giảm chức năng thận, mức thanh thải toàn phần giảm so với người khỏe mạnh, dẫn đến làm tăng nồng độ idarucizumab trong tuần hoàn.

Dựa trên dữ liệu dược động học của 347 bệnh nhân có chức năng thận ở các mức độ khác nhau (độ thanh thải creatinin trung bình 21-99 mL/phút), ước tính nồng độ của idarucizumab (AUC0-24giờ) tăng lên khoảng 38% ở bệnh nhân suy thận nhẹ (CrCL 50 – < 80mL/phút), khoảng 90% ở bệnh nhân suy thận trung bình (30 – < 50mL/phút) và khoảng 146% ở bệnh nhân suy thận nặng (CrCL 0 – < 30mL/phút). Do dabigatran thải trừ chủ yếu qua thận, việc tăng nồng độ của dabigatran trong huyết tương được ghi nhận cùng với tình trạng chức năng thận xấu hơn.

Dựa trên dữ liệu và mức độ của sự hóa giải tác dụng chống đông của dabigatran trên các bệnh nhân, tác dụng hóa giải của idarucizumab không bị ảnh hưởng bởi suy giảm chức năng thận.

Bệnh nhân suy chức năng gan

Không quan sát thấy ảnh hưởng của tình trạng suy chức năng gan, được đánh giá bởi tổn thương gan xác định bằng kết quả xét nghiệm chức năng gan tăng, lên dược động học của idarucizumab.

Đã nghiên cứu idarucizumab trên 58 bệnh nhân bị suy chức năng gan ở các cấp độ khác nhau. So với 272 bệnh nhân không bị suy chức năng gan, AUC trung vị của idarucizumab đã thay đổi -6%, 37% và 10% ở bệnh nhân có AST/ALT tăng lần lượt từ 1 đến 2 lần ULN (N=34), 2 đến 3 lần ULN (N=3) và >3 lần ULN (N=21). Dựa trên dữ liệu dược động học từ 12 bệnh nhân bị bệnh gan, giá trị AUC của idarucizumab tăng 10% so với bệnh nhân không bị bệnh gan.

Người cao tuổi/ Giới tính/ Chủng tộc

Dựa trên các phân tích dược động học quần thể, giới tính, tuổi và chủng tộc không có ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng trên dược động học của idarucizumab.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Nước cất vô khuẩn….

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản trong tủ lạnh (2oC-8oC).

Không đông đá. Bảo quản nguyên trong bao bì, tránh ánh sáng.

6.4. Thông tin khác :

Không được trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.