Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Efavirenz 600 mg, Lamivudin 300 mg and Tenofovir Disoproxil Fumarat 300 mg Tablets Macleods
Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Efavirenz 600 mg, Lamivudin 300 mg and Tenofovir Disoproxil Fumarat 300 mg Tablets Macleods (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Efavirenz + Lamivudine + Tenofovir
Phân loại: Thuốc kháng virus. Dạng kết hợp
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J05AR11.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Efavirenz 600 mg, Lamivudin 300 mg and Tenofovir Disoproxil Fumarat 300 mg Tablets
Hãng sản xuất : Macleods Pharmaceuticals Ltd.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén bao phim, Mỗi viên chứa: Tenofovir disoproxil fumarat 300mg tương đương Tenofovir disoproxil 245mg; Lamivudin 300mg; Efavirenz 600mg.
Thuốc tham khảo:
| EFAVIRENZ 600 MG, LAMIVUDIN 300 MG AND TENOFOVIR DISOPROXIL FUMARAT 300 MG TABLETS | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Tenofovir | …………………………. | 300 mg |
| Lamivudine | …………………………. | 300 mg |
| Efavirenz | …………………………. | 600 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Viên nén efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/ 300mg/ 300mg là sự kết hợp liều cố định của tenofovir disoproxil fumarat, lamivudin và efavirenz. Được chỉ định cho người trưởng thành và thanh thiếu niên (từ 12 tuổi trở lên và cân nặng ≥ 40 kg) để điều trị vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV-1) có mức độ ức chế virus HIV-1 ARD <50 copies /ml trên liệu pháp kết hợp các thuốc kháng virus hiện tại trong hơn ba tháng điều trị.
Cần xem xét các hướng dẫn chính thống đối với việc điều trị nhiễm HIV-1 (ví dụ hướng dẫn của WHO).
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Uống cả viên thuốc efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg với nước.
Viên efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg nên được uống lúc đói vì thức ăn có thể làm tăng phơi nhiễm của efavirenz có thể dẫn đến tăng tần suất của các phản ứng không mong muốn.
Để cải thiện khả năng dung nạp của efavirenz với tác dụng không mong muốn trên hệ thần kinh với, khuyến khích dùng khi đi ngủ.
Liều dùng:
Người trưởng thành và thanh thiếu niên: liều khuyến cáo đối với thuốc efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg là một viên, uống 1 lần mỗi ngày.
Trẻ em
Viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg không được khuyến cáo dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi do chưa có đủ dữ liệu an toàn và hiệu quả của thuốc.
Người cao tuổi
Viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg nên được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân cao tuổi.
Điều chỉnh liều
Trường hợp được chỉ định ngưng điều trị với một trong các thành phần của viên efavirenz /lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg /300mg hoặc cần thay đổi liều, liều đơn các thuốc tenofovir disoproxil fumarat, lamivudin và efavirenz có sẵn.
Nếu viên efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg /300mg /300mg được dùng chung với rifampicin, bổ sung thêm liều efavirenz 200 mg/ngày (toongt liều 800 mg) có thể được xem xét.
Bệnh nhân suy thận
Viên efavirenz / lamivudin / tenofovir disoproxil fumarat 600mg /300mg /300mg không được khuyến cáo sử dụng cho bệnh nhân suy thận mức độ trung bình và nặng (độ thanh thải creatinin (CrCl)<50 ml/phút). Bệnh nhân suy thận mức trung bình và nặng cần phải điều chỉnh khoảng cách liều của lamivudin và tenofovir disoproxil fumarat nên không thể sử dụng viên phối hợp này.
Bệnh nhân suy gan
Nếu ngừng điều trị bằng viên phối hợp efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/ 300mg ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV và HBV, những bệnh nhân này cần được theo dõi chặt chẽ các triệu chứng đợt cấp của viêm gan.
Nếu ngừng điều trị với viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/ 300mg/ 300mg, cần xem xét đến thời gian bán thải kéo dài của efavirenz và thời gian bán thải nội bào dài của tenofovir và lamivudin. Vì các thông số này thay đổi trên từng bệnh nhân và những quan ngại liên quan đến việc phát triển đề kháng thuốc, cần được hướng dẫn cách điều trị HIV, cũng như việc xem xét đến lý do ngưng thuốc.
4.3. Chống chỉ định:
Viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg chống chỉ định ở những bệnh nhân quá mẫn với tenofovir, lamivudin, efavirenz hoặc bất kỳ thành phần tá dược có trong công thức.
Thuốc thảo dược chứa St. John’s wort (Hypericum perforatum) không được sử dụng trong khi dùng viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg /300mg/300mg do có nguy cơ giảm nồng độ trong huyết tương và giảm tác dụng lâm sàng của efavirenz.
Efavirenz làm giảm đáng kể nồng độ trong huyết tương của voriconazole trong khi voriconazol cũng làm tăng đáng kể nồng độ efavirenz trong huyết tương. Vì viên efavirenz/lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg là một sản phẩm kết hợp liều cố định, liều efavirenz không thể thay đổi; do đó, voriconazole và viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat viên nén 600mg/300mg/300mg không được sử dụng đồng thời.
4.4 Thận trọng:
Thận trọng chung: Là một thuốc phối hợp liều cố định, viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg không nên dùng đồng thời với các thuốc khác có chứa thành phần hoạt chất efavirenz, lamivudin hoặc tenofovir disoproxil fumarat.
Viên efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg không nên dùng đồng thời với các chất tương tự cytidine khác như emtricitabine. Viên efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg không nên dùng đồng thời với adefovir.
Lây nhiễm HIV: Điều trị với viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/ 300mg/300mg chưa được chứng minh tránh được nguy cơ lây nhiễm HIV qua tiếp xúc tình dục hoặc truyền máu, mặc dù có thể giảm nguy cơ. Bệnh nhân nên tiếp tục sử dụng biện pháp phòng ngừa thích hợp để ngăn ngừa lây truyền HIV.
Didanosine: dùng đồng thời viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/ 300mg/viên nén 300mg và didanosine không được khuyến cáo vì tính phơi nhiễm của didanosin tăng lên đáng kể sau khi dùng đồng thời với tenofovir disoproxil fumarat.
Bệnh gan: Viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat viên nén 600mg/300mg/ 300mg chỉ nên được sử dụng trong nhóm bệnh nhân này nếu có ích lợi cao hơn nguy cơ, và theo dõi chặt chẽ tính an toàn của thuốc.
Độc gan: tăng nồng độ transaminase có thể xảy ra vài tháng sau khi bắt đầu điều trị với efavirenz và có thể gặp thường xuyên hơn ở những bệnh nhân bị nhiễm đồng thời HBV và /hoặc HCV. Ngừng thuốc được khuyến cáo nếu có triệu chứng ngộ độc gan, hoặc nếu nồng độ transaminase là > 10 lần giới hạn trên của mức bình thường.
Suy gan xảy ra ở những bệnh nhân có bệnh gan từ trước hoặc có các yếu tố nguy cơ khác. Nên theo dõi men gan đối với bệnh nhân không có rối loạn chức năng gan có trước hoặc yếu tố nguy cơ khác.
Bệnh nhân đồng nhiễm HIV và viêm gan siêu vi B (HBV) hoặc siêu vi C (HCV): Bệnh nhân viêm gan B hoặc C mạn tính và được điều trị bằng liệu pháp kháng virus kết hợp có nguy cơ gia tăng các phản ứng bất lợi trên gan nghiêm trọng và có khả năng gây tử vong.
Lamivudin và tenofovir disoproxil fumarat cũng có tác dụng kháng HBV. Do đó, ngưng thuốc efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV và HBV liên quan đến đợt cấp tính nghiêm trọng của viêm gan. Bệnh nhân đồng nhiễm HIV và HBV ngưng thuốc efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/ 300mg phải được theo dõi chặt chẽ cả về lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng ít nhất bốn tháng sau khi ngưng điều trị.
Nếu thích hợp, việc điều trị bằng thuốc đặc trị viêm gan B có thể được đảm bảo. Ở những bệnh nhân có bệnh gan tiến triển hoặc xơ gan, ngưng thuốc không được khuyến cáo vì viêm gan sau đợt điều trị có thể dẫn đến viêm gan mất bù.
Phát ban: Phát ban nhẹ đến vừa rất thường xảy ra trong hai tuần sau khi bắt đầu uống efavirenz và không cần phải ngưng điều trị. Ban thường sẽ hết trong vòng hai tuần. Phát ban nặng hoặc ban đỏ, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson, đòi hỏi phải ngưng thuốc ngay lập tức.
Ảnh hưởng trên hệ thần kinh trung ương và tâm thần: các tác dụng không mong muốn trên hệ thần kinh trung ương và tâm thần rất phổ biến sau khi bắt đầu điều trị với efavirenz. Những triệu chứng này thường xảy ra trong những tuần đầu điều trị và thường hết trong vòng 4 tuần. Có khả năng có tác dụng không mong muốn với rượu và các thuốc thần kinh khác. Bệnh nhân nên biết rằng nếu có những triệu chứng như trầm cảm nặng, rối loạn tâm thần hay có ý tự sát nên liên hệ ngay với bác sĩ hoặc trung tâm chăm sóc sức khỏe để xác định liệu những lợi ích của thuốc có lớn hơn những rủi ro nếu tiếp tục điều trị.
Chức năng thận: Tenofovir được bài tiết chủ yếu qua thận qua lọc cầu thận và bài tiết ở ống thận. Vì vậy, độ thanh thải bị giảm ở bệnh nhân có suy chức năng thận. Có ít dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarat ở bệnh nhân có suy thận (<80 ml/phút). Ở những bệnh nhân này, viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg chỉ nên sử dụng nếu lợi ích điều trị lớn hơn những rủi ro tiềm ẩn.
Ở những bệnh nhân suy thận vừa đến nặng, thời gian bán thải trong huyết tương của lamivudin tăng lên do giảm độ thanh thải. Khuyến cáo nên giảm liều cho các bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <50 ml/phút.
Thuốc efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat viên nén 600mg/ 300mg /300mg không được khuyến cáo sử dụng ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <50 ml/phút, vì không thể giảm được liều thích hợp đối với các viên nén phối hợp.
Nên tính độ thanh thải creatinin cho tất cả các bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị và khi đánh gia lâm sàng thích hợp trong suốt quá trình điều trị bằng viên nén efavirenz/lamivudin tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg. Thường xuyên theo dõi độ thanh thải creatinin và phosphat huyết thanh ở những bệnh nhân có nguy cơ suy thận.
Bệnh nhân đang uống thuốc tenofovir disoproxil fumarat nên được đánh giá lại chức năng thận trong vòng một tuần, bao gồm cả đo glucose huyết, nồng độ kali huyết và glucose niệu, nếu phosphat huyết thanh <1,5 mg/dl (0,48 mmol/l) hoặc độ thanh thải creatinin giảm xuống dưới 50 ml/phút.
Nên xem xét việc điều trị gián đoạn viên nén efavirenz/lamivudin /tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin giảm xuống dưới 50 ml/phút hoặc có phosphat huyết thanh giảm dưới 1,0 mg/dl (0,32 mmol/l).
Viên nén efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/ 300mg/ 300mg nên tránh sử dụng đồng thời với các sản phẩm thuốc gây độc cho thận (ví dụ aminoglycosid, amphotericin B, foscarnet, ganciclovir, pentamidin, vancomycin, cidofovir hoặc interleukin-2). Nếu sử dụng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và các tác nhân gây độc cho thận là không thể tránh khỏi, chức năng thận nên được theo dõi hàng tuần.
Tác dụng trên xương: Giảm mật độ khoáng xương cột sống và những thay đổi trong chỉ số sinh học của xương có thể xảy ra. Viên nén efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/ 300mg/ 300mg chỉ nên được sử dụng ở thanh thiếu niên dưới 18 tuổi nếu lợi ích cao hơn rủi ro.
Các bất thường trên xương (không thường xuyên góp phần làm gãy xương) có thể được liên quan đến tubulopathy (viêm ống lượn gần). Nếu có nghi ngờ bất thường trên xương nên có các tư vấn thích hợp sau đó.
Nhiễm acid lactic: nhiễm acid lactic rất hiếm gặp nhưng nghiêm trọng, biến chứng có khả năng đe dọa tính mạng liên quan đến việc sử dụng các chất ức chế men sao chép ngược nucleoside (NRT).
Một số thuốc khác của nhóm này được biết gây ra nhiễm acid lactic. Dữ liệu tiền lâm sàng và lâm sàng cho thấy rằng nguy cơ xảy ra nhiễm acid lactic, được xem như một tác dụng giả định của các chất tương tự nucleosid, là rất thấp đối với tenofovir disoproxil fumarat và lamivudin. Tuy nhiên, nguy cơ này không thể được loại trừ. Nhiễm acid lactic có thể xảy ra sau một vài tháng điều trị NRTI. Bệnh nhân tăng lactat có thể không có triệu chứng, bệnh trầm trọng, hoặc có thể có các triệu chứng không đặc hiệu như khó thở, mệt mỏi, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng. Yếu tố nguy cơ gây nhiễm acid lactic do NRTI bao gồm giới tính nữ và béo phì. Bệnh nhân có nguy cơ cao cần được theo dõi lâm sàng chặt chẽ. Khám sàng lọc tăng lactat ở bệnh nhân không có triệu chứng được điều trị bằng NRTI, tuy nhiên, không được khuyến khích. Bệnh nhân có triệu chứng thường có nồng độ acid lactic > 5 mmol/l và phải ngừng tất cả các thuốc NRTI. Cần phải cấp cứu các trường hợp có nồng độ acid lactic > 10 mmol/l.
Loạn dưỡng mỡ và rối loạn chuyển hóa: điều trị bằng thuốc kháng virus phối hợp có liên quan đến việc tái phân bố mỡ của cơ thể (loạn dưỡng mỡ) ở những bệnh nhân nhiễm HIV. Trong khi đó, một số thuốc kháng retrovirus khác có đủ bằng chứng về các phản ứng không mong muốn này, các bằng chứng cho thấy tenofovir, lamivudin và efavirenz là tác nhân gây bệnh là yếu; thật vậy, sự chuyển đổi từ một chất tương tự thymidin (ví dụ stavudin) thành tenofovir đã được ghi nhận làm tăng béo phì chân tay ở bệnh nhân teo mỡ.
Nguy cơ gây loạn dưỡng mỡ cao hơn có liên quan như tuổi cao của bệnh nhân, thời gian điều trị thuốc kháng retrovirus dài và các rối loạn chuyển hóa có liên quan. Thăm khám lâm sàng nên bao gồm việc đánh giá các dấu hiệu vật lý của việc phân bố lại chất béo. Đo lipid máu lúc đói và glucose huyết cũng như kiểm soát thích hợp các rối loạn lipid nên được xem xét.
Rối loạn chức năng ty lạp thể: Nucleosid và chất tương tự nucleotid đã được chứng minh, in vitro và in vivo, gây ra biến đổi mức độ tổn thương ti thể. Đã có báo cáo về rối loạn chức năng của ty lạp thể ở trẻ nhiễm HIV phơi nhiễm với các chất tương tự nucleosid trong tử cung mẹ và / hoặc ngay sau sinh. Các tác dụng không mong muốn chính được báo cáo là rối loạn huyết học (thiếu máu, giảm bạch cầu) và các rối loạn chuyển hóa (tăng lactat, tăng lipid máu). Những tác dụng này thường thoáng qua. Một số rối loạn thần kinh khởi phát muộn đã được báo cáo (căng cơ, co giật, hành vi bất thường). Hiện vẫn chưa được biết các rối loạn thần kinh này là thoáng qua hoặc vĩnh viễn. Bất cứ đứa trẻ phơi nhiễm với nucleoside và chất tương tự nucleotide trong tử cung, ngay cả trẻ em nhiễm HIV, cần phải theo dõi lâm sàng và làm xét nghiệm và cần được nghiên cứu đầy đủ đối với rối loạn chức năng ty lạp thể trong trường hợp có dấu hiệu hoặc triệu chứng có liên quan.
Viêm tụy: Điều trị với viên nén efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/ 300mg/300mg nên ngưng lại ngay lập tức nếu có dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng hoặc xét nghiệm bất thường gợi ý xảy ra viêm tụy.
Nhiễm trùng cơ hội: Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc kháng virus có thể tiếp tục phát triển các nhiễm trùng cơ hội và các biến chứng khác của nhiễm HIV. Do đó người bệnh cần được theo dõi lâm sàng chặt chẽ bởi bác sĩ hoặc trung tâm chăm sóc sức khỏe có kinh nghiệm trong điều trị nhiễm HIV.
Hội chứng phục hồi miễn dịch: Ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV có giai đoạn tiền suy giảm miễn dịch nghiêm trọng, điển hình là trong vài tuần hoặc vài tháng đầu tiên sau khi bắt đầu thuốc kháng retrovirus phối hợp, một phản ứng viêm đối với các mầm bệnh cơ hội không có triệu chứng hoặc còn sót lại (ví dụ như viêm võng mạc do CMV, nhiễm Mycobacteria, viêm phổi do Pneumocystis) có thể phát sinh và gây ra tình trạng lâm sàng nghiêm trọng hoặc tăng nặng các triệu chứng. Nên được điều trị khi cần thiết.
Hoại tử xương: Mặc dù nguyên nhân được coi là đa yếu tố (bao gồm cả sử dụng corticosteroid, uống rượu, suy giảm miễn dịch nặng, chỉ số khối cơ thể cao hơn), các trường hợp hoại tử xương đã được báo cáo, đặc biệt ở những bệnh nhân nhiễm HIV tiến triển và/hoặc phơi nhiễm lâu dài với các thuốc kháng virus dạng phối hợp. Bệnh nhân được khuyên nên tìm tư vấn y tế nếu họ bị đau nhức khớp, cứng khớp hoặc khó khăn trong việc di chuyển.
Bệnh nhân cao tuổi: Bệnh nhân cao tuổi có nhiều khả năng bị suy thận; do đó nên thận trọng khi điều trị bệnh nhân cao tuổi bằng thuốc chứa tenofovir disoproxil fumarat.
Gây ung thư, đột biến, giảm khả năng sinh sản: dữ liệu tiền lâm sàng về efavirenz cho thấy không có mối nguy hiểm đặc biệt cho con người ngoài những ảnh hưởng đã quan sát thấy trong các nghiên cứu lâm sàng dựa trên các nghiên cứu quy ước về tính an toàn, dược học, độc tính liều lặp lại, và độc tính trên vật liệu di truyền. Trong nghiên cứu độc tính sinh sản, dị tật đã được quan sát thấy 3 trường hợp trong số 20 thai nhi/trẻ sơ sinh từ những con khỉ cái đuôi dài được điều trị bằng liều efavirenz cho nồng độ efavirenz trong huyết tương tương tự như nồng độ quan sát được ở người. Nghiên cứu khả năng gây ung thư cho thấy có sự gia tăng của khối u gan và phổi ở chuột cái, nhưng không có ở chuột đực.
Lamivudin sử dụng lamivudin trong các nghiên cứu độc tính trên động vật ở liều cao không liên quan đến bất kỳ độc tính cơ quan chính nào. Lamivudin không gây đột biến trong các thử nghiệm vi khuẩn, nhưng cho thấy tác dụng in vitro trong thử nghiệm di truyền tế bào và thử nghiệm ung thư ở chuột. Lamivudin không có độc tính trên vật liệu di truyền in vitro ở liều tạo ra nồng độ trong huyết tương cao hơn khoảng 40-50 lần so với nồng độ lâm sàng dự kiến. Cũng như tác dụng gây đột biến in vitro của lamivudin không thể xác định trong các thử nghiệm in vitro, có thể kết luận rằng lamivudin không gây độc tính nguy hiểm trên vật liệu di truyền cho bệnh nhân đang điều trị.
Các kết quả nghiên cứu gây ung thư lâu dài ở chuột cống và chuột nhắt không cho thấy bất kỳ tiềm năng gây ung thư liên quan đến người.
Tenofovir – nghiên cứu tiền lâm sàng được tiến hành trên chuột cống, chó và khỉ cho thấy ảnh hưởng đến các cơ quan đích như đường tiêu hóa, thận, xương và giảm nồng độ phosphat huyết thanh. Độc tính trên xương được chẩn đoán gồm loãng xương (khỉ) và giảm mật độ khoáng xương (chuột và chó). Những phát hiện trong thí nghiệm trên chuột và khỉ chỉ ra rằng có một chất liên quan đến việc làm giảm hấp thu phosphat ở ruột với việc giảm thứ cấp mật độ khoáng của xương. Tuy nhiên, chưa có kết luận nào được đưa ra trên cơ chế của những độc tính này.
Nghiên cứu sinh sản đã được tiến hành trên chuột và thỏ. Không có tác dụng trên giao phối hoặc thông số của khả năng sinh sản hoặc bất kỳ thông số của thai kỳ hoặc thai nhi. Không có sự thay đổi mô mềm hoặc xương của bào thai. Tenofovir disoproxil fumarat làm giảm chỉ số khả năng tồn tại và trọng lượng của chuột con trong các nghiên cứu độc tính khi sinh.
Các nghiên cứu độc tính trên vật liệu di truyền của tenofovir disoproxil fumarat là âm tính in vivo trong thử nghiệm tủy xương chuột nhưng dương tính trong việc gây đột biến in vitro trong thử nghiệm tế bào lympho chuột L5178Y trong sự hiện diện hay vắng mặt của sự kích hoạt trao đổi chất S9. Tenofovir disoproxil fumarat dương tính trong các thử nghiệm Ames (chủng TA 1535) ở hai trong ba nghiên cứu, một lần có trộn S9 (tăng 6,2- 6,8 lần) và lần hai không trộn S9.
Tenofovir disoproxil fumarat cũng dương tính yếu trong thử nghiệm in vivo/ in vitro gây đột biến trong tổng hợp ADN ở các tế bào gan gốc của chuột.
Tenofovir disoproxil fumarat không cho thấy bất kỳ tiềm năng gây ung thư trong một nghiên cứu dài hạn gây ung thư miệng ở chuột. Một nghiên cứu lâu dài gây ung thư miệng ở chuột cho thấy có một tỷ lệ thấp của khối u tá tràng, được coi là có liên quan đến nồng độ cao của tenofovir disoproxil fumarat ở đường tiêu hóa với liều 600 mg/kg/ngày. Trong khi cơ chế của sự hình thành khối u là không chắc chắn, những phát hiện này không liên quan đến người.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc được thực hiện. Tuy nhiên, chóng mặt đã được báo cáo trong quá trình điều trị với efavirenz và tenofovir disoproxil fumarat.
Efavirenz cũng có thể làm suy giảm sự tập trung và/ hoặc buồn ngủ. Bệnh nhân nên được tư vấn rằng nếu họ có những triệu chứng này, họ nên tránh những nhiệm vụ nguy hiểm như lái xe hoặc vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: NA
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
Các nghiên cứu của efavirenz trên động vật đã cho thấy độc tính sinh sản, bao gồm ảnh hưởng gây quái thai được đánh dấu. Các trường hợp khuyết tật ống thần kinh ở trẻ được sinh ra từ mẹ tiếp xúc với thuốc trong 3 tháng đầu của thai kỳ đã được ghi nhận. Các dữ liệu có sẵn trên thị trường bao gồm số lượng phụ nữ có thai đầy đủ để loại trừ tăng gấp đôi so với cơ bản, không chứng minh được sự gia tăng số dị tật ở các bà mẹ tiếp xúc với efavirenz, hoặc bất kỳ mô hình cụ thể của dị tật. Efavirenz không nên sử dụng trong 3 tháng đầu của thai kỳ.
Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy tác hại trực tiếp hoặc gián tiếp của phụ nữ mang thai, sự phát triển của bào thai, sinh sản và phát triển sau khi sinh. Ở người, sự an toàn của tenofovir ở phụ nữ mang thai chưa được thiết lập đầy đủ. Số lượng đầy đủ về tiếp xúc với thuốc trong 3 tháng đầu thai kỳ đã được giám sát, tuy nhiên, để phát hiện tăng ít nhất gấp đôi về nguy cơ dị tật bẩm sinh tổng thể. Không tăng dị tật bẩm sinh đã được nhìn thấy.
Không gia tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh đã được báo cáo với lamivudin. Tuy nhiên, rủi ro thai nhi không thể được loại trừ.
Do có thể ảnh hưởng gây quái thai của efavirenz, viên efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg không nên sử dụng trong 3 tháng đầu của thai kỳ, và chỉ sử dụng trong những tháng tiếp theo nếu lợi ích được đánh giá cao hơn nguy cơ.
Thời kỳ cho con bú:
Các nghiên cứu trên động vật đã chứng minh rằng tenofovir được bài tiết vào sữa. Không biết rằng tenofovir có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Lamivudin được bài tiết vào sữa ở những phụ nữ đang cho con bú. Không biết liệu efavirenz có được bài tiết vào sữa mẹ hay không.
Những khuyến cáo hiện nay về HIV và cho con bú (ví dụ từ WHO) cần được tham khảo trước khi tư vấn cho bệnh nhân về vấn đề này.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tần số được định nghĩa là: Rất phổ biến (≥1/10), phổ biến ≥1/100, <1/10), không phổ biến ≥1/1.000, <1/100), hiếm (≥1/10.000, <1/1.000), rất hiếm (<1/10.000).
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng:
Rất phổ biến: Tăng triglyceride lúc đói, cholesterol toàn phần, lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao và thấp, hạ phosphate huyết.
Hiếm: Nhiễm acid lactic.
Rối loạn hệ máu và bạch huyết:
Không phổ biến: Giảm bạch cầu, thiếu máu, giảm tiểu cầu.
Rất hiếm: Chứng bất sản hồng cầu đơn thuần.
Rối loạn hệ hô hấp, lồng ngực và trung thất:
Phổ biến: Ho, các triệu chứng ở mũi.
Rất hiếm: Khó thở.
Rối loạn hệ thần kinh:
Rất phổ biến: Chóng mặt.
Phổ biến: Giấc mơ bất thường, rối loạn sự tập trung, nhức đầu, mất ngủ, buồn ngủ.
Không phổ biến: Kích động, mất trí nhớ, mất điều hòa, phối hợp bất thường, tình trạng lú lẫn, co giật, rối loạn tư duy.
Rất hiếm: Bệnh thần kinh ngoại vi (dị cảm).
Rối loạn tâm thần:
Phổ biến: Lo âu và trầm cảm.
Không phổ biến: Ảnh hưởng đến rối loạn cảm, hung hăng, tâm trạng hưng phấn, ảo giác, hưng cảm, hoang tưởng, cố gắng tự tử, ý định tự tử.
Rối loạn gan mật:
Phổ biến: Men gan tăng cao.
Không phổ biến: Viêm gan cấp tính.
Rối loạn thận và hệ tiết niệu:
Hiếm: Suy thận cấp tính, suy thận, viêm ống lượn gần (bao gồm hội chứng Fanconi), tăng creatinin huyết.
Rất hiếm: Hoại tử ống thận cấp.
Không biết: Viêm thận (bao gồm cả viêm thận kẽ cấp tính), đái tháo nhạt do thận.
Rối loạn da và mô dưới da:
Rất phổ biến: Phát ban.
Phổ biến: Ngứa, rụng tóc.
Không phổ biến: Hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson.
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết:
Phổ biến: đau khớp, đau cơ
Rối loạn hệ sinh sản và vú:
Không phổ biến: Nữ hóa tuyến vú.
Rối loạn thị giác:
Không phổ biến: Nhìn mờ.
Rối loạn tai và tai trong:
Không phổ biến: Chóng mặt.
Rối loạn hệ tiêu hóa:
Rất phổ biến: Tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa.
Phổ biến: Đau bụng, đầy hơi.
Không phổ biến: Viêm tụy cấp.
Rối loạn chung và vị trí dùng thuốc:
Phổ biến: Mệt mỏi, khó chịu, sốt.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
*Tương tác liên quan đến lamivudin
Sử dụng đồng thời trimethoprim/sulfamethoxazole làm tăng 40% nồng độ dưới đường cong của lamivudin. Không cần điều chỉnh liều viên nén efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg /300mg /300mg. Lamivudin không ảnh hưởng đến dược động học của trimethoprim hoặc sulfamethoxazol.
*Tương tác có liên quan đến tenofovir
Didanosine: Không khuyến cáo dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và didanosin.
Các thuốc được bài tiết qua thận: vì tenofovir được bài tiết chủ yếu bởi thận, nên dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat với các thuốc làm giảm chức năng thận hoặc cạnh tranh bài tiết ở ống thận thông qua các protein vận chuyển HOẠT 1, HOAT 3 hoặc MRP 4 (ví dụ như cidofovir) có thể làm tăng nồng độ trong huyết thanh của tenofovir và /hoặc các sản phẩm thuốc điều trị phối hợp.
Tenofovir disoproxil fumarat nên tránh sử dụng đồng thời với các thuốc gây độc cho thận, như aminoglycosid, amphotericin B, foscarnet, ganciclovir, pentamidin, vancomycin, cidofovir hoặc interleukin-2.
Tacrolimus có thể ảnh hưởng đến chức năng thận, nên theo dõi chặt chẽ khi tacrolimus được sử dụng đồng thời với tenofovir disoproxil fumarat.
*Tương tác liên quan với efavirenz:
Efavirenz được bài tiết qua chuyển hóa ở gan, chủ yếu là xúc tác bởi các cytochrome (CYP) P450 đa hình đồng vị CYP2B6, mà còn bởi CYP3A. Do đó, các thuốc làm thay đổi hoạt động của CYP2B6 hoặc CYP3A có thể làm thay đổi nồng độ trong huyết tương của efavirenz.
Efavirenz là một chất cảm ứng enzym cytochrome P450, như CYP3A4; do đó có thể xảy ra tương tác với các thuốc chuyển hóa bởi con đường này. In vitro, efavirenz cũng là một chất ức chế UDP- glucuronosyl transferase, CYP3A4, CYP2C9 và CYP2C19. Trong phần lớn các trường hợp, efavirenz tương tác in vivo với các chất nền được biết CYP3A, kết quả sau nhiều liều là giảm phơi nhiễm toàn thân của các loại thuốc tương tác với efavirenz. Mặc dù efavirenz có thể hoạt động in vivo như một chất ức chế CYP3A4 sau liều đầu tiên, nó đã không được chứng minh rằng điều này xảy ra khi sự cảm ứng CYP3A4 được thiết lập.
Efavirenz không nên dùng đồng thời với terfenadine, astemizole, cisapride pimozide, bepridil hoặc dẫn xuất ergot, vì điều này có thể làm thay đổi nồng độ trong huyết tương của các loại thuốc này.
Các tương tác sau đây không nên được xem là đầy đủ, nhưng là đại diện cho các nhóm thuốc cần thận trọng:
-Do đề kháng chéo và thiếu hiệu quả kháng virus cộng hợp, lamivudin không nên được sử dụng cùng với emtricitabin.
-Abacavir và viên nén efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg không nên sử dụng cùng lúc, vì hiệu quả cộng hợp của abacavir bị giới hạn hoặc không có.
-Do cộng hợp độc tính và không có lợi ích khi nevirapine và efavirenz hoặc etravirine được dùng chung, không nên dùng đồng thời thuốc phối hợp này với efavirenz hoặc etravirin.
-Fosamprenavir một lần mỗi ngày và thuốc phối hợp này không nên được đồng dùng đồng thời.
-Dùng đồng thời với indinavir không được tăng cường (unboosted) không được khuyến cáo.
-Kết hợp điều trị với ritonavir-tăng cường (boosted) indinavir is chỉ được khuyến cáo nếu có sẵn quá trình theo dõi dùng thuốc trong điều trị (TDM).
-Tránh dùng đồng thời thời viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg với ritonavir liều đầy đủ, do dung nạp thấp.
-Dùng đồng thời với nelfinavir chỉ được khuyến cáo nếu có sẵn TDM.
-Dùng đồng thời với viên nang mềm, viên hoặc dung dịch uống lopinavir/rtv không được khuyến cáo.
-Sử dụng đồng thời với azanavir/rtv không được khuyến cáo.
-Sử dụng đồng thời với tipranavir/rtv không được khuyến cáo.
-Darunavir/ritonavir nên sử dụng thận trọng khi kết hợp với viên efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg.
-Khi điều trị kết hợp với maraviroc và efavirenz trong sự vắng mặt của một hoạt chất tăng cường, liều maraviroc nên được tăng lên 600 mg 2 lần/ngày.
-Xem xét tác nhân kháng nấm thay thế hoặc sử dụng TDM nếu có trong trường hợp của ketoconazol và itraconazol.
-Nên tránh sử dụng đồng thời posaconazol và efavirenz.
-Efavirenz và voriconazol ở liều tiêu chuẩn không được sử dụng phối hợp. Nếu kết hợp được coi là cần thiết, voriconazol nên được dùng với liều 400 mg 2 lần/ngày và efavirenz liều 300 mg 1 lần/ngày. Với việc giảm liều efavirenz này không thể cung cấp cho viên efavirenz lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg, công thức thay thế efavirenz, tenofovir và lamivudin nên được sử dụng.
-Tương tác về dược động học có ý nghĩa lâm sàng không được biết giữa nevirapin và clarithromycin. Tuy nhiên, nếu có thể, hãy cân nhắc sử dụng azithromycin thay thế cho clarithromycin.
-Khi điều trị kết hợp, tăng liều efavirenz từ 600 mg tới 800 mg 1 lần/ngày cần được xem xét.
-Tăng liều rifabutin lên 50% nếu điều trị kết hợp.
-Độc tính ở gan có thể tăng lên khi sử dụng amodiaquin/artesunat với efavirenz. Tránh sử dụng kết hợp.
-Nếu có thể, tác nhân thay thế quinine nên được sử dụng trong điều trị kết hợp với efavirenz.
-Viên efavirenz/lamivudin/tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg không nên sử dụng đồng thời với adefovir dipivoxil do thiếu tác dụng cộng hưởng dự kiến.
-Giám sát các triệu chứng và tăng liều buprenorphin nếu cần thiết.
-Điều chỉnh liều chất ức chế miễn dịch có thể cần thiết. Giám sát chặt chẽ nồng độ thuốc ức chế miễn dịch trong ít nhất 2 tuần (cho đến khi nồng độ ở trạng thái ổn định đạt) được khuyến cáo khi bắt đầu hoặc ngưng điều trị với viên efavirenz/ lamivudin/ tenofovir disoproxil fumarat 600mg/300mg/300mg.
-Một phương pháp tránh thai vật lý đáng tin cậy nên được sử dụng ngoài việc dùng thuốc tránh thai đường uống.
-Nên tránh sử dụng đồng thời trừ khi nồng độ carbamazepin và efavirenz cần được theo dõi.
-Giảm sát hiệu quả lâm sàng và tăng liều thuốc chẹn kên calci nếu cần thiết.
-Giảm sát hiệu quả lâm sàng của diltiazem và tăng liều nếu cần thiết.
-Nồng độ cholesterol nên được giám sát định kỳ và liều atorvastatin/ pravastatin/ simvastatin tăng lên trong trường hợp chưa đủ hiệu quả.
-Bệnh nhân sử dụng methadone-duy trì bắt đầu điều trị với nevirapin nên được theo dõi về triệu chứng của hội chứng gây nghiện để được điều chỉnh cho phù hợp
-Giám sát chặt chẽ của thuốc đông máu được đảm bảo, vì ảnh hưởng đến sự tương tác của warfarin có thể thay đổi trong những tuần đầu tiên về việc dùng kết hợp hoặc ngưng kết hợp thuốc.
4.9 Quá liều và xử trí:
Nếu quá liều xảy ra, bệnh nhân phải được theo dõi dấu hiệu ngộ độc và điều trị hỗ trợ tiêu chuẩn được áp dụng khi cần thiết.
Một vài bệnh nhân vô tình sử dụng efavirenz 600 mg 2 lần/ngày đã được báo cáo tăng các triệu chứng trên hệ thần kinh. Một bệnh nhân đã trải qua co thắt cơ bắp không ý thức. Than hoạt tính có thể được sử dụng để hỗ trợ loại bỏ efavirenz chưa hấp thu. Không có thuốc giải độc đặc hiệu đối với quá liều efavirenz. Bởi vì efavirenz liên kết rất cao với protein, lọc máu không thể loại bỏ lượng đáng kể thuốc trong máu.
Tenofovir có thể được loại bỏ bằng thẩm phân máu; hệ số thanh thải thẩm phân máu trung bình của tenofovir là 134 ml/phút. Việc loại bỏ tenofovir bằng thẩm phân phúc mạc chưa được nghiên cứu.
Bởi vì một lượng đáng kể lamivudin đã được loại bỏ bằng thẩm phân máu, thẩm phân phúc mạc liên tục và thẩm phân phúc mạc tự động (4-giờ), không biết thẩm phân máu liên tục sẽ cung cấp lợi ích lâm sàng trong trường hợp quá liều lamivudin.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc:
5.1. Dược lực học:
Cơ chế tác dụng:
Efavirenz là chất ức chế enzym phiên mã ngược không nucleosid (NNRTI) của HIV-1. Efavirenz gắn trực tiếp vào enzym phiên mã ngược và ngăn chặn hoạt động của ADN polymerase phụ thuộc ARN và ADN bằng cách thay đổi hình dạng gây ra gián đoạn vị trí xúc tác của enzym. Các hoạt động của efavirenz không cạnh tranh với khuôn hoặc nucleosid triphosphat. Enzym phiên mã ngược HIV-2 và các ADN polymerase nhân chuẩn (như các polymerase ADN α, β, γ, người δ) không được ức chế bởi efavirenz.
Lamivudin, đối quang âm (ngược chiều kim đồng hồ) của 2′-deoxy-3′-thiacytidin, là một chất tương tự dideoxynucleosid. Tenofovir disoproxil fumarat được chuyển đổi trong cơ thể thành tenofovir, một nucleosid monophosphat (nucleotid) một chất tương tự adenosin monophosphat.
Lamivudin và tenofovir được phosphorylat hóa bởi enzym trong tế bào tạo thành tương ứng lamivudin triphosphat và tenofovir diphosphat. Lamivudin triphosphat và tenofovir diphosphat ức chế cạnh tranh enzym phiên mã ngược (RT) HIV-1, dẫn tới chấm dứt chuỗi ADN. Cả hai chất đều có tác dụng với HIV-1 và HIV-2, cũng giống như chống lại virus viêm gan B.
Cơ chế tác dụng:
Tenofovir disoproxil fumarat là muối fumarat của tiền dược tenofovir disoproxil. Tenofovir disoproxil được hấp thu và chuyển hóa thành dạng hoạt tính tenofovir, mà là một đồng đẳng nucleosid monophosphat (nucleotid). Sau đó tenofovir được chuyển thành chất chuyển hóa có hoạt tính tenofovir diphosphat, bởi các emzym tế bào thông qua hai phản ứng phosphoryl hóa trong cả tế bào không hoạt động tích cực và tế bào T đã hoạt hóa. Tenofovir diphosphat có thời gian bán thải là 10 giờ trong các tế bào đã hoạt hóa và 50 giờ trong các tế bào bạch cầu đơn nhân trong máu ngoại vi không hoạt động tích cực.
Tenofovir diphosphat ức chế polymerase virus bởi sự cạnh tranh gắn kết trực tiếp với chất nền tự nhiên deoxyribonucleotid và, sau khi hợp nhất vào DNA, bởi sự kết thúc chuỗi DNA. Tenofovir diphosphat là một chất ức chế yếu các polymerase tế bào α, β, và γ, với hằng số ức chế động học (Ki) mà cao hơn gấp 200 lần so với DNA polymerase của tế bào α người (5,2 μmol/l) và cao hơn gấp 3000 lần so với DNA polymerase của tế bào β và γ người (81,7 và 59,5 μmol/l, tương ứng) hơn Ki của enzym sao chép ngược HIV-1 (0,02 μmol/l). Ở nồng độ lên đến 300 μmol/l, tenofovir cho thấy không ảnh hưởng trên sự tổng hợp của DNA ty lạp thể hoặc sự sản xuất acid lactic trong thử nghiệm in vitro.
Lamivudin là một đồng đẳng nucleosid mà có hoạt tính chống lại virút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và virus viêm gan B (HBV). Nó được chuyển hóa trong tế bào thành một chất có hoạt tính, lamivudin 5’-triphosphat. Phương thức hoạt động chính của nó như là chất kết thúc chuỗi sao chép ngược của virus.
Efavirenz là một chất ức chế sao chép ngược non-nucleosid (NNRTI) của HIV-1. Efavirenz là một chất ức chế không cạnh tranh enzym sao chép ngược của HIV-1 và không ức chế có ý nghĩa enzym sao chép ngược của HIV-2 hoặc DNA polymerase của tế bào (α, β, γ hoặc δ).
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Efavirenz:
Hấp thụ và sinh khả dụng: Sinh khả dụng từ 40% đến 45% nếu không có thức ăn. Thức ăn làm tăng đáng kể việc hấp thu thuốc. Thời gian đạt đỉnh nồng độ thuốc trong huyết tương (3-5 giờ), không thay đổi sau nhiều liều và nồng độ thuốc trong huyết tương ổn định đạt được trong 6-7 ngày.
Phân bố: Efavirenz liên kết rất cao với protein huyết tương (hơn 99%), chủ yếu là albumin. Với bệnh nhân nhiễm HIV-1 dùng efavirenz với liều từ 200 đến 600 mg 1 lần/ngày trong ít nhất một tháng, nồng độ thuốc trung bình trong dịch não tủy đạt 0,69% so với nồng độ thuốc trong huyết tương tương ứng. Tỷ lệ này cao gấp khoảng 3 lần so với efavirenz tự do trong huyết tương.
Chuyển hóa: Efavirenz chủ yếu được chuyển hóa bởi hệ cytochrom P450 theo phương thức hydroxyl hóa. Các chất chuyển hóa này về cơ bản không có tác dụng với HIV-1. Trong các nghiên cứu in vitro, hỗ trợ bằng quan sát in vivo, cho thấy rằng CYP3A4 và CYP2B6 là hai isoenzym chính chịu trách nhiệm cho sự chuyển hóa efavirenz. Efavirenz đã được chứng minh kích thích các enzyme hệ P450, dẫn đến tự cảm ứng quá trình chuyển hóa của mình.
Thải trừ: Efavirenz có thời gian bán thải pha cuối tương đối dài từ 17 đến 154 giờ sau khi dùng đơn liều, và 40 – 55 giờ sau khi dùng đa liều. Trong một số cá thể chứa một số kiểu gen CYP2B6 đột biến (ví dụ kiểu gen T/T tại G516T) thời gian bán thải pha cuối có thể tăng lên đáng kể và tiếp xúc với thuốc cao hơn. Những kiểu gen đặc biệt này phổ biến ở châu Phi và người Mỹ gốc Phi. Ở những bệnh nhân suy gan, độ thanh thải efavirenz thấp hơn và tiếp xúc với thuốc cao hơn đã được báo cáo.
Khoảng 14 – 34% liều trên nhãn của efavirenz đã được thu hồi trong nước tiểu và ít hơn 1% liều dùng của thuốc được bài tiết trong nước tiểu dưới dạng chưa chuyển hóa.
Lamivudin:
Hấp thu và sinh khả dụng: Lamivudin được hấp thu nhanh sau khi uống. Sinh khả dụng từ 80 đến 85%.
Sử dụng đồng thời lamivudin với thức ăn gây ra tmax và Cmax thấp hơn (giảm 47%). Tuy nhiên, mức độ hấp thu lamivudin (dựa trên AUC) không bị ảnh hưởng.
Phân bố: Nghiên cứu tiêm truyền tĩnh mạch lamivudin cho thấy thể tích phân bố biểu kiến trung bình là 1,3 L/kg. Lamivudin tuyến tính về dược động học trong khoảng liều điều trị và hạn chế liên kết với protein albumin huyết (< 36% albumin huyết trong in vitro).
Chuyển hóa: Chuyển hóa lamivudin là một lộ trình nhỏ. Lamivudin chủ yếu được thải trừ dưới dạng không chuyển hóa qua thận. Khả năng tương tác giữa các chất chuyển hóa với lamivudin là thấp do chuyển hóa ở gan ở mức độ thấp (5 – 10%) và liên kết với protein huyết tương thấp.
Thải trừ: Thời gian bán thải của lamivudin từ 5 đến 7 giờ. Thời gian bán thải lamivudin triphosphat nội bào đã được dự kiến khoảng 22 giờ. Độ thanh thải chung trung bình của lamivudin xấp xỉ 0,32 L/giờ/kg, với độ thanh thải của thận chủ yếu (>70%), bao gồm sự bài tiết ở ống thận thông qua hệ vận chuyển cation hữu cơ.
Tenofovir disoproxil fumarat:
Tenofovir disoproxil fumarat là một tiền chất tan trong nước, chuyển đổi nhanh thành tenofovir và formaldehyde trong in vivo. Tenofovir được chuyển đổi trong tế bào thành tenofovir monophosphat và thành chất hoạt động, tenofovir diphosphat.
Hấp thu: Sau khi uống tenofovir disoproxil fumarat ở bệnh nhân nhiễm HIV, tenofovir disoproxil fumarat được hấp thu nhanh và chuyển thành tenofovir. Sinh khả dụng đường uống của tenofovir từ tenofovir disoproxil fumarat ở bệnh nhân nhịn ăn là khoảng 25%. Hấp thu tenofovir disoproxil fumarat trong bữa ăn với nhiều chất béo cải thiện sinh khả dụng đường uống của thuốc, với sự gia tăng AUC xấp xỉ 40% và Cmax xấp xỉ 14%.
Phân bố: Sau k hi tiêm tĩnh mạch, thể tích phân bố ở trạng thái ổn định được ước tính là khoảng 800 mL/kg. Trong in vitro liên kết với protein huyết tương hoặc của tenofovir tương ứng thấp hơn 0,7 và 7,2%, trong khoảng nồng độ từ 0,01 đến 25 ng/mL.
Chuyển hóa và thải trừ: Tenofovir chủ yếu được bài tiết qua thận, qua cả hai đường là lọc ở cầu thận và hệ vận chuyển ở ống thận với xấp xỉ 70-80% liều dùng được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng không chuyển hóa sau khi tiêm tĩnh mạch. Độ thanh thải tổng đã được ước tính là khoảng 230 mL/giờ/kg (xấp xỉ 300 mL/phút). Độ thanh thải của thận đã được ước tính là khoảng 160 mL/giờ/kg (xấp xỉ 210 mL/phút), vượt quá tốc độ lọc của cầu thận. Điều này cho thấy rằng hoạt động bài tiết ở ống thận là một phần quan trọng trong quá trình bài tiết tenofovir. Sau khi uống thời gian bán thải pha cuối của tenofovir xấp xỉ 12 đến 18 giờ.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: Lactose monohydrat, croscarmellose natri, poloxamer, hydroxy propyl cellulose, nati laurylsulphat, magnesi stearat, cellulose vi tinh thể, pregelatinized starch, hypromellose, titan dioxid, triacetin.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
HDSD Thuốc Efavirenz 600 mg, Lamivudin 300 mg and Tenofovir Disoproxil Fumarat 300 mg Tablets do Macleods Pharmaceuticals Ltd. sản xuất (2018).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM