Doxorubicin – Caelyx/Lipo-dox

Thuốc Caelyx, Lipo-dox Liposome Injection là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Caelyx, Lipo-dox Liposome Injection (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Doxorubicin

Phân loại: Thuốc chống ung thư. Nhóm anthracyclin

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01DB01.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Caelyx, Lipo-dox Liposome Injection

Hãng sản xuất : TTY Biopharm Company Limited Chungli Factory – Taiwan.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Hỗn dịch đậm đặc pha dịch truyền tĩnh mạch 20mg/ 10ml

Dung dịch liposome pha dịch truyền tĩnh mạch 20mg/ 10ml

Thuốc tham khảo:

CAELYX 2mg/ml
Mỗi ml dung dịch đậm đặc có chứa:
Doxorubicin …………………………. 2 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

LIPO-DOX LIPOSOME INJECTION 2mg/ml
Mỗi ml dung dịch đậm đặc có chứa:
Doxorubicin …………………………. 2 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Điều trị Kaposi’s sarcoma ở bệnh nhân AIDS có lượng CD4 thấp (<200 CD4 lymphocytes/mm3) và các biểu hiện bệnh ở niêm mac, da và các cơ quan nội tạng.

Điều trị u biểu mô buồng trứng có di căn ở những bệnh nhân tái phát sau khi điều trị hoá trị liệu lần đầu với nhóm platinum hoặc paclitaxel.

Hoá trị liệu đơn độc cho các bệnh nhân ung thư vú di căn mà có nguy cơ cao về tim.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Không được sử dụng thuốc nếu bị kết tủa hoặc có bất kỳ dạng hạt nào khác. Cần cẩn trọng khithao tác với liposom doxorubicin. Phải sử dụng găng tay. Nếu bị thuốc tiếp xúc với da hoặc niêm macphải lập tức rửa sạch bằng nước và xà phòng. Liposom doxorubicin cần phải được thao tác và xử trígiống như các thuốc chống ung thư khác.

Liều lượng liposom doxorubicin được xác định dựa trên liều khuyên dùng và diện tích bể mặt cơthể của bệnh nhân. Lấy một thể tích thích hợp liposom doxorubicin vào một bơm tiêm đã tiệt trùng.Cần phải tuân thủ một qui trình tiệt trùng chặt chế do chế phẩm thuốc không có chứa chất bảo quảnhoặc chất kìm khuẩn.

Liều thích hợp liposom doxorubicin phải được pha loãng bằng dung dịch Dextrose 5% trong nướctrước khi truyền. Đối với liều <90 mg, pha loãng trong 250 ml dung dịch Dextrose 5% trong nước, vớiliều >90 mg, pha loãng trong 500ml dung dịch Dextrose 5% trong nước.

Không được sử dụng các chất pha loãng hoặc dung dịch có chứa bất kỳ chất kìm khuẩn nào, ví dụbenzyl alcohol, do có thể gây kết tủa thuốc.

Đường truyền thuốc cần được nối qua cổng bên khi truyểền dung dịch Dextrose 5% trong nước. Cóthể truyền thuốc qua tĩnh mạch ngoại biên. Không được sử dụng bộ lọc in-line

Liều dùng:

Liposom doxorubicin có các đặc trưng dược động học độc đáo riêng biệt và không thể thay thế bằng các dạng chế phẩm doxorubicin HCl khác.

Chỉ được sử dụng Lipo-dox dưới sự giám sát của các chuyên gia ung thư học chuyên về hoá trị liệu các chất độc đối với tế bào.

Ung thư vú và buồng trứng

Lipo-Dox nên dùng bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch ở liều lượng 50 mg/ m2, 4 tuần 1 lần, sử dụng cho đến khi bệnh được kiểm chế và bệnh nhân vẫn có thể dung nạp thuốc.

Đối với liều < 90 mg: pha loãng Lipo-Dox trong 250mL dung dịch Dextrose 5% trong nước.

Đối với liều > 90 mg: pha loãng Lipo-Dox trong 500mL dung dịch Dextrose 5% trong nước.

Để giảm thiểu nguy cơ phản ứng thuốc do truyền, tốc độ truyền khởi đầu không được vượt quá 1mg/phút. Nếu không có phản ứng nào xảy ra thì có thể tăng tốc độ truyễn Lipo-dox để có thể kết thúc truyền thuốc trong thời gian 60 phút. Trong chương trình thử nghiệm ung thư vú cho những bệnh nhân đã từng trải qua những phản ứng do truyền thuốc có thể điều chỉnh tốc độ truyền như sau: 5% tổng liều được truyền từ từ trong khoảng 15 phút. Nếu bệnh nhân dung nạp thuốc mà không có phản ứng gì thì tốc độ truyền có thể tăng gấp đôi trong vòng 15 phút tiếp theo. Nếu bệnh nhận còn tiếp tục dung nạp thuốc thì có thể kết thúc truyền trong vòng 1 giờ kế tiếp sao cho tổng thời gian truyền thuốc là 90 phút.

Đối với các đợt điều trị kế tiếp, liposom doxorubicin có thể được truyền chỉ trong vòng 60 phút.

Đối với bệnh nhân AIDS-KS

Lipo-Dox cần phải tiêm truyền tĩnh mạch 2-3 tuân 1 lần với liều lượng 20 mg/ m2. Khoảng cách giữa các lần điễu trị không được ngắn hơn 10 ngày để tránh hiện tượng tích luỹ thuốc gây tăng độc tính. Bệnh nhân cần được điều trị trong vòng 2-3 tháng để đạt hiệu quả điễu trị cao. Nếu cần thiết, có thể tiếp tục điều trị để duy trì hiệu quả.

Pha loãng Lipo-Dox bằng 250 ml dung dịch Dextrose 5% trong nước và tiêm truyền trong khoảng thời gian 30 phút.

Đối với tất cả các bệnh nhân

Nếu như có bất kỳ một dấu hiệu hoặc phản ứng do truyền thuốc xảy ra, thì phải ngừng truyền thuốc ngay lập tức và phải có những xử trí thích hợp (bằng các thuốc kháng histamin và/hoặc các corticosteroid tác dụng ngắn) và sau đó truyền lại thuốc với tốc độ chậm hơn.

Không được tiêm tĩnh mạch hoặc sử dụng thuốc chưa pha loãng thuốc. Nên truyền liposom doxorubicin thông qua cửa bên khi truyền dung dịch Dextrose 5% trong nước để đảm bảo sự pha loãng của thuốc và giảm thiểu nguy cơ tạo huyết khối và thoát mạch. Cũng có thể truyền thuốc qua tĩnh mạch ngoại vi. Không được tiêm bắp hoặc tiêm dưới da đối với liposom doxorubicin. Không được sử dụng với bộ lọc in-line.

Các triệu chứng tác dụng phụ như vết ban đỏ mất cảm giác ở lòng bàn tay và chân (palmar-plantar erythrodysesthesia (PPE)), các triệu chứng độc tính huyết học hoặc viêm miệng có thể được kiểm soát bằng cách giảm liều hoặc tạm ngưng thuốc. Các chỉ dẫn về việc điều chỉnh liều khi xuất hiện các tác dụng phụ này được cung cấp trong các bảng dưới đây. Mức độ độc tính được căn cứ vào các tiêu chuẩn độc tính chung của Viện ung thư quốc gia (NCI-CTC).

Các bệnh nhân rối loạn chức năng gan

Theo báo cáo, ở một số ít các bệnh nhân có các mức độ bilirubin toàn phần tăng cao, các đặc điểm dược động học cũng tương tự như các bệnh nhân có lượng bilrubin toần phần bình thường. Tuy nhiên cho tới khi có các kết quả nghiên cứu sâu hơn thì liều lượng posom doxorubicin ở những bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan cần được giảm tương tự như đối với các chương trình thử nghiệm lâm sàng đối với những bệnh nhân ung thư vú và ung thư buồng trứng.

Cụ thể là: ở liều khởi đầu nếu lượng bilirubin từ 1.2 đến 3.0 mg/dL, liều lượng ban đầu cần được giảm 25%. Nếu bilirubin>3.0 mg/dL, lượng ban đầu sẽ giảm 50%. Nếu bệnh nhân dung nạp liều ban đầu và không tăng bilirubin hoặc men gan trong huyết thanh, thì liều lượng trong chu kỳ thứ hai có thể tăng tới mức độ liều kế tiếp nghĩa là nếu như giảm 2% liều ban đầu thì liều thứ hai sẽ tăng cho tới đủ liều; và nếu giảm 50% liễu ban đầu thì ở liều điều trị thứ hai sẽ tăng tới 75% liều đầy đủ. Sau đó nếu như bệnh nhân còn dung nạp thuốc tốt thì liều lượng vẫn tăng cho tới khi đủ liều ở các đợt điều trị sau. Đối với những bệnh nhân có di căn gan và có sự gia tăng đồng thời cả bilirubin và các men gan tới mức độ 4 lần lượng giới hạn trên ở người bình thường thì liposom doxorubicin còn có thể sử dụng được. Trước khi tiêm liposom doxorubicin cần đánh giá chức năng gan bằng các xét nghiệm lâm sàng thông thường như ALT/AST, phosphatase kiểm, và bilirubin.

Đối với bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận

Doxorubicin được chuyển hoá ở gan và bài tiết qua mật do vậy khõng cần điều chỉnh liều lượng.

Qua các kết quả phân tích được động học ở những quân thể đặc biệt đã khẳng định rằng các đặc điểm dược động học không thay đổi ở những bệnh nhân có độ thanh thải crcatinin trong vòng 30 – 156 mL/min. Không có các dữ liệu dược động học ở các bệnh nhân có độ thanh thải creatinin nhỏ hơn 30 mL/min.

Đối với các bệnh nhân AIDS-KS bị cắt bỏ lá lách

Chưa có thử nghiệm ở các bệnh nhân AIDS-KS bị cắt bỏ lá lách hoặc cắt bỏ bàng quang. Không khuyến khích sử dụng liposom doxorubicin.

Đối với bệnh nhân là trẻ em

Các số liệu lâm sàng về độ an toàn thuốc trong thử nghiêm pha I đã chỉ ra rằng liều lượng tới 60 mg/ m2 liposom doxorubicin, 4 tuần 1 lần đã được dung nạp tốt ở những bệnh nhân nhỉ, tuy nhiên hiệu quả ở các bệnh nhân dưới 18 tuổi chưa được nghiên cứu.

Đối với bệnh nhân cao tuổi

Các phân tích ở các quần thể đã chỉ ra rằng các được động học của liposom đoxorubicin không thay đối ở các bệnh nhân từ 21-75 tuổi.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định Lipo-Dox ở những bệnh nhân quá mẫn cảm với doxorubicin HCL hoặc với các thành phần của nó.

Người bệnh đã điều trị bằng doxorubicin hoặc daunorubicin với đủ liều tích lũy.

Không sử đụng Lipo-Dox khi đang cho con bú.

Không sử dụng Lipo-Dox ở các bệnh nhân AIDS-KS (Kaposi’s sarcoma ở bệnh nhân AIDS) mà có thể được điều trị hiệu quả bằng cách sử dụng tại chỗ hoặc sử dụng toàn thân với alfa-interferon.

Chống chỉ định tương đối với các bệnh nhân suy tim hoặc suy tủy (Xem chỉ tiết ở mục Những lưu ý đặc biệt và cảnh báo)

4.4 Thận trọng:

Độc tính với tim

Tất cả bệnh nhân điều trị bằng liposom doxorubicin cần được theo dõi ECG thường xuyên. Không cần phải ngừng thuốc ngây lập tức khi sóng T suy yếu, hoặc có sự giảm sút của phân đoạn S-T hoặc là khi có loạn nhịp lành tính. Tuy nhiên sự suy giảm phức hợp của QRS được xem như một dấu hiệu của triệu chứng ngộ độc tới tim. Cần cân nhắc sinh thiết nội cơ tim để xác định tổn thương cơ tim do anthracyclin (xem phần Tác dụng không mong muốn)

Bên cạnh ECG, có rất nhiều phương pháp đặc hiệu để theo dõi chức năng tim, ví dụ việc theo dõi LVEF bing siêu âm tim hoặc tốt hơn bằng chụp X-quang mạch máu đa lớp (MUGA). Các phương pháp này cần được sử dụng thường xuyên trước hoặc trong quá trình điều trị Lipo-Dox. Trong các thử nghiệm lâm sàng pha III, so sánh liposom doxorubicin (50mg/ m2), 1 lần trong 4 tuần) đối chiếu với các chế phẩm doxorubicin thông thường (60 mg/m2/3 tuần 1 lần), các nguy cơ độc tính tim do tích luỹ thuốc anthracyclin giảm có ý nghĩa ở liposom doxorubicin so với các dạng thuốc doxorubicin thông thường (HR=3.16, p<0.001). Ở những liều kế tiếp giữa 450 mg/ m2 và 600 mg/ m2 không có sự gia tăng về nguy cơ độc tính tim khi sử dụng liposom doxorubicin. Phải đánh giá chức năng não thất trái trước mỗi lần sử dụng liposom doxorubicin với liều tích luỹ vượt quá 600 mg/ m2 đối với các bệnh nhân trước đó chưa sử dụng anthracyclin. Đối với những bệnh nhân trước đó đã sử dụng bổ trợ anthracyclin (epirubicin hoặc doxorubicin), theo dõi LVEF cần phải tiến hành trước mỗi lần chỉ định liposom doxorubicin với liều vượt quá 450 mg/m2.

Các xét nghiệm và theo đối các hoạt động tăm khi sử dụng anthracyclin cần phải thco thứ tự sau: theo dõi ECG, đo lưu lượng đẩy của não thất trái, sinh thiết nội cơ tim. Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy việc điều trị bằng liposom doxorubicin có thể gây ra thương tổn cho tim, cần phải cân nhắc kỹ lưỡng lợi ích của việc tiếp tục điều trị. Bệnh nhân có bệnh túm mạch cần thiết phải điều trị: chỉ sử dụng liposom doxorubicin khi thấy các lợi ích điều trị lớn hơn rồi ro có thể xảy ra cho bệnh nhân. Cần phải thận trọng khi sử dụng liposom doxorubicin đối với bệnh nhân bị rối loạn chức năng tim.

Nếu các kết quả xét nghiệm chỉ ra khả năng bị tổn thương tim, ví dụ như lưu lượng đầy của thất trái thấp hơn đường nên trước khi điều trị và/ hoặc LVEF thấp hơn giá trị tiên lượng thích hợp (<45%), cần phải xem xét sinh thiết nội cơ tim. Cần cân nhắc lợi ích của việc tiếp tục điều trị và nguy cơ tổn thương cơ tim không phục hồi.

Hơn nữa, xuất huyết tim do bệnh về cơ tim có thể xảy ra đột ngột mà không có sự thay đổi trước đó đối với ECG. Và hiện tượng này cũng có thể xuất hiện sau khi ngừng điều trị vài tuần.

Cần theo dõi thận trọng những bệnh nhân đã điều trị các anthracyclin khác, và tổng liều doxorubicin HC cân được xem xét nếu đã điều trị trước đó hoặc điều trị đồng thời các chất gây độc với tìm như các thuốc anthracyclin/anthraquinon hoặc 5-fluorouracil. Các độc tính tim cũng có thể xuất hiện ở các liều tích luỹ anthracyclin thấp hơn 450 mg/ m2 ở những bệnh nhân trước đó đã tiến hành xạ trị trung thất hoặc những bệnh nhân điều trị đồng thời với cyclophosphamid.

Độ an toàn đối với tim cho liều thường dùng để điều trị ung thư vú và buồng trứng (4 tuần 1 lần với liều 50 mg/ m2) tương tự như liều 20mg/ m2/ 2 tuần cho bệnh nhân AIDS-KS (Xem thêm phần Tácdụng phụ).

Bệnh nhân suy tuỷ

Rất nhiều bệnh nhân điều trị liposom doxorubicin có mức độ suy tuỷ cơ sở do trước đó đã bị bệnh HIV, do đang hoặc đã từng sử dụng thuốc, do ung thư tuỷ xương. Trong thử nghiệm lâm sàng ung thư buồng trứng, những bệnh nhân đã sử dụng 50 mg/ m2 liposom doxorubicin, mức độ suy tuỷ thường nhẹ tới vừa phải, có thể phục hồi và không liên quan tới nhiễm trùng hoặc nhiễm khuẩn do giảm bạch cầu trung tính.

Bên cạnh đó, các kết quả lâm sàng của ung thư buồng trứng sử dụng nhóm đối chứng Topotecan đã chỉ ra tỷ lệ nhiễm khuẩn liên quan đến điều trị thấp hơn ở nhóm điều trị liposom doxorubicin so với nhóm topotecan. Tương tự, ở các bệnh nhân ung thư vú di căn điều trị lần đầu liposom doxorubicin cũng có giảm biểu hiện suy tuỷ, chỉ có một tỷ lệ thấp bị ức chế tuỷ. Trái với các bệnh nhân ung thư vú hoặc buồng trứng, biểu hiện suy tuỷ ở bệnh nhân AIDS-KS thường tỷ lệ với liều. Do vẫn còn có khả năng suy giảm chức năng tuỷ nên các bệnh nhân điều trị liposom doxorubicin cần phải được theo dõi máu định kỳ, tối thiểu là trước mỗi lần sử dụng

Bệnh nhân ung thư vú hoặc buồng trứng điều trị liposom doxorubicin không có biện tượng ức chế tuỷ xương mức độ nặng và kéo dài nhưng có thể bị nhiễm trùng cơ hội hoặc chảy máu.

Do có sự khác biệt về đặc tính dược động học và chế độ liều lượng nên Lipo-Dox không thể sử dụng thay thế bằng các chế phẩm doxorubicin HCL khác. Hoá trị liệu kết hợp với liposom doxorubicin đã được nghiên cứu với nhiều quần thể ung thư thể rắn. Liposom doxorubicin đã được sử dụng kết hợp với các liều tiêu chuẩn của các hoá trị liệu khác thường sử dụng trong điều trị ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng tiến triển một cách an toàn, tuy nhiên hiệu quả của các chế độ kết hợp thuốc chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Bệnh nhân đái tháo đường

Các lọ thuốc Lipo-Dox đều có chứa thành phần sucrose và được truyền với dung dịch Dextrose 5% trong nước nên cần chú ý với bệnh nhân đái tháo đường.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Theo báo cáo, liposom doxorubicin không ảnh hưởng tới việc điều khiển xe của bệnh nhân nhưng với một số người (<5%) có xuất hiện triệu chứng chóng mặt và buồn ngủ. Bệnh nhân chịu các tác dung phụ này cần tránh lái xe và vận hành máy

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Liposom doxorubicin gây độc với thai ở chuột, gây độc và gây xảy thai ở thỏ. Không loại trừ tác dụng gây quái thai. Chưa có thử nghiệm trên phụ nữ mang thai, do vậy không nên sử dụng thuốc cho phụ nữ mang thai. Tránh mang thai ở những phụ nữ khi họ hoặc bạn trai của họ đang hoặc đã điều trị 1ipo-Dox trong vòng 6 tháng trước đó.

Thời kỳ cho con bú:

Do liposom doxorubicin có bài tiết vào sữa mẹ hay không chưa được biết đến, và do có khả năng xẩy ra tác dụng không mong muốn nghiêm trọng khi cho con bú nên mẹ phải ngừng cho con bú khi sử dụng thuốc. Các chuyên gia khuyên rằng người mẹ bị nhiễm HIV trong mọi trường hợp không nên cho con bú để tránh lây nhiễm HIV

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Bệnh nhân ung thư vú

Trong thử nghiệm lâm sàng pha III (Thử nghiệm 1 97-328), liposom doxorubicin với liều 4 tuần 1 lần, 50 mg/m2 đã được sử dụng trên 254 bệnh nhân ung thư vú tiến triển mà trước đó chưa sử dụng hoá trị liệu điều trị ung thư di căn. Các tác dụng không mong muôn thường gặp bao gồm vết ban đỏ mất cảm giác ở lòng bàn tay và chân (palmar-plantar erythrodysesthesia (PPE)) (48.0%) và buồn nôn (37.0%) (xem bảng 5). Các phản ứng này hầu hết ở mức độ vừa phải và có thể hồi phục, với các trường hợp nghiêm trọng (độ 3) được báo cáo cho PPE và buồn nôn theo tỷ lệ tương ứng là 17.0% và 3.0%. Không có báo cáo về mức độ nguy hiểm (độ 4) đối với cả 2 trường hợp PPE và buồn nôn. Các tác dụng phụ này thường không dẫn đến ngừng thuốc vĩnh viễn (7.0% cho PPE và 0% cho buồn nôn).

Các trường hợp rụng tóc rõ rệt (hoặc rụng toàn bộ) được thấy ở 7% bệnh nhân điều trị liposom doxorubicin, so sánh với tỷ lệ 54.0% bệnh nhân sử dụng các dạng thuốc doxorubicin thông thường.

Các tác dụng không mong muốn về mặt huyết học ít được báo cáo hơn và hầu hết ở mức độ nhẹ và vừa phải và có thể kiểm soát được. Thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu thường không thường xuyên và theo các tỷ lệ tương ứng là 5.0%, 4.0%, 2.0% và 1.0%. Tác dụng không mong muốn về huyết học ở mức độ nguy hiểm (độ 4) được báo cáo <1.0%. Việc cần thiếtphải có can thiệp bằng các yếu tố tăng trưởng hoặc truyền máu ở mức độ tối thiểu với tỷ lệ tương ứnglà 5.1% và 5.5% (xem Liều lượng và đường dùng).

Các chỉ số sinh hoá bất thường có ý nghĩa lâm sàng trong nhóm ung thư vú này bao gồm tăng bilirubin toàn phần (2.4%) và AST (1.6%). Sự gia tăng ALT ít xảy ra hơn (<1%). Các chỉ số huyết học có ý nghĩa lâm sàng ít gặp hơn, được đánh giá bởi sự thuyên giảm bạch cầu (4.3%), thiếu máu(3.9%), giảm bạch cầu trung tính (1.6%) và giảm tiểu cầu (1.2%). Các báo cáo nhiễm khuẩn với tỷ lệ 1%. Không có sự gia tăng có ý nghĩa lâm sàng về chỉ số creatinin huyết.

Trong thử nghiệm lâm sàng pha III (Thử nghiệm C/I 96-352) tiến hành đối với 150 bệnh nhân ung thư vú tiến triển mà trước đó đã điều trị không thành công lần đầu hoặc lần thứ 2 bởi Taxane,pegylated liposoml doxorubicin đã được sử dụng 4 tuần 1 lần với liều lượng 50 mg/m2. Kết quả về độan toàn hoàn toàn phù hợp với các báo cáo trước đây sử dụng cùng chế độ điều trị (Bảng 5). Tỷ lệ bệnh nhân có các chỉ số lâm sàng bất thường có ý nghĩa là thấp và tương đương với các chỉ số trong nghiên cứu tiến hành trên 254 bệnh nhân ung thư vú được điều trị liposom doxorubicin theo chế độ điều trị lần đầu, ngoại trừ trường hợp giảm bạch cầu là 20%.

Tác dụng không mong muốn được báo cáo nằm trong khoảng 1% và 5% đối với 404 bệnh nhân ung thư vú điều tri liposom doxorubicin bao gồm: đau vú, co cơ chân, phù, phù chân, viêm thần kinh ngoại vi, đau miệng, loạn nhịp thất, viêm nang lông, đau xương, đau cơ xương, tăng tiểu cầu, phồng rộp môi (không do Herpes), nhiễm nấm, chảy máu cam, nhiễm trùng đường hô hấp trên, mọc bọng nước, viêm da, nổi ban đỏ, rối loạn móng tay chân, da có vảy, chẩy nước mắt và nhìn mờ.

Bệnh nhân ung thư buồng trứng

Các thử nghiệm lâm sàng đã cung cấp các dữ liệu và độ an toàn trên 512 bệnh nhân ung thư buồng trứng (trong tổng số 876 bệnh nhân ung thư thể đặc) đã được điều trị 50 mg/ m2 liposom doxorubicin.

Các tác dụng không mong muốn thường gặp bao gồm vết ban đỏ mất cảm giác ở lòng bàn tay và chân (PPE)) (46.1%) và viêm miệng (38.9%). Các phản ứng này chủ yếu ở mức độ nhẹ, các trường hợp nặng (độ 3) là 19.5% đối với PPE và 8.0% đối với viêm miệng, mức độ nguy hiểm (độ 4) tương ứng là 0.6% và 0.8%. Các phản ứng này ít khi dẫn đến ngừng thuốc vĩnh viễn (tỷ lệ tương ứng là <5%và <1%).

Tác dung ức chế tủy sống hầu hết là ở mức độ nhẹ hoặc vừa phải và có thể điều trị được. Các tác dụng không mong muốn về huyết học thường gặp nhất là giảm bạch cầu, kế tiếp là thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính và giảm tiểu cầu. Rất ít trường hợp tác dụng huyết học ở mức độ nguy hiểm (độ 4), trong đó bao gồm giảm bạch cầu (1.6%). thiếu máu (0.4%), giảm bạch cầu trung tính (2.9%) và giảm tiểu cầu (0.2%). Dưới 5% bệnh nhân cần hỗ trợ yếu tố phát triển (growth factor) và dưới 15% bệnh nhân cần truyền máu (xem Liều lượng và cách dùng).

Các tác dụng không mong muốn ít gặp hơn (1-5%) được báo cáo gồm: phù ngoại vi, bệnh do nấm monilia ở miệng, giãn mạch máu, viêm miệng, ngứa, phản ứng dị ứng, mất nước, chứng khó thở, nổi ban bóng nước, lạnh, nhiễm trùng, giảm cân, viêm thực quản, rối loạn đa, viêm da tróc vảy, rối loạn tim mạch, đau ngực, chóng mặt, nổi ban sẩn, viêm dạ dày, đau cơ, đau lưng, trầm cảm, mất ngủ, khó nuốt, ho nhiễu, ra mồ hôi, buồn nôn và nôn, khó chịu, mất vị giác, nhiễm trùng đường tiết niệu, viêmkết mạc, trứng cá, viêm lợi, herpes zoster, thiếu máu nhược sắc, lo âu, viêm âm đạo, đau đầu, đầy hơi, khô miệng, chứng suy nhược, viêm thần kinh, tăng huyết áp, loét da và vô niệu.

Phân tích các kết quả thu được từ 410 bệnh nhân ung thư buồng trứng nêu ra các chỉ số lâm sàng bất thường có ý nghĩa bao gồm tăng chỉ sốbilirubin toàn phần (thường ở những bệnh nhân di căn gan) (5%), và tăng độ thanh thải creatinin huyết (5%). Các đánh giá có ý nghĩa lâm sàng được đo ở mức độ 3 và 4 gồm giảm bạch cầu trung tính (11.4%), thiếu máu (5.7%) và giảm tiểu cầu (1.2%) là ở mức độ thấp. Rất ít trường hợp (<1%) gia tăng AST. Nhiễm khuẩn do giảm bạch cầu cũng thường không được quan sát. Các kết quả tương tự có thể thu được ở các bệnh nhân ung thư thể rắn.

Bệnh nhân AIDS-KS

Các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát và nhãn mở trên bệnh nhân AIDS-KS được điều trịliposom doxorubicin với liều 20 mg/ m2 chỉ ra rằng tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là ức chế tuỷ sống. Một nửa số bệnh nhân bị ức chế tuỷ sống.

Trong số các bệnh nhân này, tác dụng phụ thường gặp nhất là giảm bạch cầu, kế tiếp là giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu và giảm tiểu cầu. Các phản ứng này thường xuất hiện ở giai đoạn sớm khi điều trị. Việc giảm liều, tạm ngừng hoặc trì hoãn điều trị có thể cần thiết khi các triệu chứng độc tính huyết học xảy ra. Lipo-Dox cần được tạm ngừng khi lượng bạch cầu tuyệt đối (absoluteneutrophil count (ANC)) nhỏ hơn 1000/mm2 và/hoặc lượng tiểu cầu thấp hơn 50,000/mm2. Khi ANC<1000/mm2, có thể bổ sung G-CSF (hoặc GM-CSE) trong đợt điều trị kế tiếp để hỗ trợ tăng máu. Độc tính huyết học nhẹ hơn ở bệnh nhân ung thư vú và ung thư buồng trứng so với bệnh nhân AIDS-KS khi điều tri liposom doxorubicin. (Xem phần Bệnh nhân ung thư buồng trứng).

Các tác dụng không mong muốn thường gặp khác (>5%) bao gồm buồn nôn, suy nhược, rụng tóc, sốt, ỉa chảy, các phản ứng cấp tính do truyền thuốc và viêm miệng.

Tac dụng không mong muốn đường hô hấp thường gặp (>5%) có thể liên quan đến nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân AIDS. Nhiễm trùng cơ hội được thấy ở bệnh nhân KS điều trị liposom doxorubicin,và thường thấy ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch do HIV. Nhiễm trùng cơ hội thường gặp nhất làcandidiasis, cytomegalovirus, herpes simplex, viêm phổi pneumocystis carinii và mycobacterium aviumcomplex.

Các tác dụng không mong muốn ít gặp hơn (<5%) là mất cảm giác ban đỏ ở bàn chân và tay (PPE), nhiễm nấm monilia ở miệng, buồn nôn và nôn, giảm cân, nổi ban, loét miệng, khó thở, đau bụng và phản ứng quá mẫn bao gồm các phản ứng sốc phản vệ, chóng mặt, giãn mạch máu, mất ngủ, viêm lưỡi, táo bón, dị cảm, viêm võng mạc và lẫn lộn.

Trong các thử nghiệm lâm sàng với liposom doxorubicin HCL, các chỉ số xét nghiệm bất thường có ý nghĩa thường gặp (>5%) bao gồm tăng phosphatese kiểm, tăng AST, tăng bilirubin. Những bất thường này liên quan đến tình trạng bệnh tật cơ bản của bệnh nhân, không phải do tác dụng của liposom doxorubicin. Sự giảm hemoglobin và tiểu cầu ít xẩy ra hơn (<5%). Nhiễm khuẩn do giảm bạch cầu hiếm khi được quan sát (<1%). Tất cả những bất thường này liên quan đến tình trạng nhiễm HIV của bệnh nhân, không phải do ảnh hưởng của liposom doxorubicin.

Đối với bệnh nhân ung thư thể rắn

Liposom doxorubicin 44 được sử dụng với liều lượng 50mg/ m2,4 tuần 1 lần trong một thử nghiệm lớn tiến hành trên 929 bệnh nhân ung thư thể rắn bao gồm ung thư vú và ung thư buồng trứng. Các đặc tính an toàn và tỷ lệ tác dụng không mong muốn tương tự như các kết quả đã chỉ ra trong các nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư vú và ung thư buồng trứng.

Đối với tất cả các bệnh nhân

Trong số 928 bệnh nhân ung thư thể rắn điều trị liposom doxorubicin có 100 người (10.8%) xuất hiện các phản ứng bất lợi (được định nghĩa Costar) trong quá trình điều trị như sau: phản ứng dị ứng, phản ứng sốc phản vệ, hen phế quản, phù mặt, hạ huyết áp, giãn mạch máu, mày đay, đau lưng, đau ngực, cảm giác lạnh, sốt, tăng huyết áp, tăng nhip tim, khó tiêu, chóng mặt, khó thở, viêm họng, nổi ban, buôn nôn, ngứa, ra mồ hôi, phản ứng tại vị trí tiêm và tương tác thuốc. Việc ngừng điều trị vĩnh viễn không thường xuyên và được báo cáo với tỷ lệ 2%. Một tỷ lệ tương tự các phản ứng do truyền thuốc (12.4%) đã được ghi nhận trong các thử nghiệm nòng cốt là ung thư vú. Việc ngừng điều trị vĩnh viễn cũng xảy ra với tỷ lệ tương tự là 1.5%. Ở bệnh nhân AIDS-KS, các phản ứng do truyền thuốc bao gồm đỏ mặt, thở ngắn, phù mặt, đau đầu, cảm giác lạnh, đau lưng, tức ngực, đau họng, và/hoặc hạ huyết áp. Các phản ứng do truyền thuốc này chủ yếu xuất hiện ở lần điều trị đầu tiên và thường với tỷ lệ 5-10%.

Thông thường, việc tạm thời ngừng thuốc hoặc giảm tốc độ truyền có thể giải quyết được các triệu chứng này mà không cân xử trí. Hầu hết các bệnh nhân đã tiếp tục điều trị liposom doxorubicin sau khi hết các triệu chứng trên mà không có tái phát. Sau đợt điều trị đầu với liposom doxorubicin các phản ứng do truyền thuốc hiếm xảy ra.

Triệu chứng viêm miệng ở bệnh nhân điều trị các đạng thuốc truyền thống chứa doxorubicin HCLvà cả với liposom doxorubicin cũng thường được báo cáo. Tuy nhiên triệu chứng này không làm gián đoạn điều trị và cũng không cần phải điều chỉnh liều nếu như không cản trở khả năng ăn uống của bệnh nhân. Nếu cần thiết có thể kéo dài thời gian ngừng thuốc giữa 2 đợt điều trị 1-2 tuần hoặc giảm liều.

Chứng ban đỏ mất cảm giác ở lòng ban chân và tay (PPE) đặc trưng bởi cảm giác đau, xuất hiện các vết ban đỏ ở da, thường được phát hiện sau 2-3 đợt điều trị. Triệu chứng này sẽ tự mất đi trong vòng 1-2 tuần mà không liên quan đến có hay không điều trị corticoid. Pyridoxin với liều lượng 50 -150 mg/ngày có thể được sử dụng để dự phòng hoặc điều trị PPE. Một phương pháp khác để phòngngừa và điều trị PPE có thể được khởi đầu 4-7 ngày sau khi truyền thuốc: ngâm tay và chân trong nước lạnh, tránh tiếp xúc với nhiệt hoặc nước nóng và không bao bọc chân, tay (không sử dụng tất, găng tay và giày bó chặt sát). Các phản ứng này phụ thuộc vào liều lượng và thời gian sử dụng thuốc,kéo dài thời gian ngừng thuốc giữa 2 đợt điều trị hoặc giảm liều có thể cải thiện triệu chứng. Tuy nhiên ở một vài bệnh nhân, phản ứng PPE có thể ở mức độ nặng và ảnh hưởng đến sức khoẻ và có thể dẫn đến ngừng điều trị thuốc.

Việc điều trị bằng các dạng thuốc truyền thống chứa Doxorubicin HCL với liều tích luỹ > 450 mg/m2 hoặc với liêu thấp hơn ở những bệnh nhân có các yếu tố gây nguy hiểm tìm có thể tăng tỷ lệ suy tim xung huyết. Tuy nhiên, trong số 10 bệnh nhân AIDS-KS điều trị bằng liposom doxorubicin với liều tích luỹ vượt quá 460 mg/ m2, kết quả sinh thiết nội cơ tim ở 9 bệnh nhân đã không chỉ ra biểu hiện bệnh cơ tim do anthracyclin. Liều thường dùng của liposom doxorubicin cho bệnh nhân AIDS-KS là 20 mg/ m2 cho 2-3 tuần. Do vậy, liều tích luỹ có thể gây độc cho tim ở những bệnh nhân này (>400 mg/ m2) chỉ có thể đạt được sau 20 đợt điều trị trong vòng 40-60 tuần.

Hơn nữa, kết quả sinh thiết nội cơ tim tiến hành trên 8 bệnh nhân ung thư thể rắn với liều tích luỹ anthracyclin 14 509 mg/ m2-1680 mg/ m2 đã chỉ ra mức độ độc đối với tim theo thang điểm Billingham là 0-1.5, mức độ này phù hợp với kết quả không hoặc chỉ ở mức độ độc tính tim nhẹ.

Trong thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên pha III đối chiếu với dạng thuốc thông thường chứa doxorubicin, chỉ có 10/254 bệnh nhân sử dụng Iiposom doxorubicin (liều 50 mg/ m2/lần/4 tuần) so với 48/255 bệnh nhân sử dụng các dạng thuốc doxorubicin thông thường bị phân loại tiêu chuẩn độc tính cho tim trong quá trình điều trị và/hoặc trong quá trình theo dõi. Độc tính tim được xác định khi có sự giảm 20 điểm hoặc hơn nữa so với đường nền nếu LVEF còn trong giới hạn bình thường hoặc giầm 10 điểm hoặc hơn nữa nếu LVEF trở nên bất thường (thấp hơn giới hạn dưới bình thường). Bệnh nhân còn được đánh giá bằng các dấu hiệu và triệu chứng suy tim xung huyết (congestive heart failure(CHF)). Không có ai trong số 10/254 bệnh nhân sử dụng liposom doxorubicin có diễn biến CHE. Ngược lại, 10/48/255 bệnh nhân sử dụng dạng thuốc doxorubicin thông thường có dấu hiệu và triệu chứng của CHE.

Tỷ lệ tổn thương tim có ý nghĩa lâm sàng rất thấp ở những bệnh nhân ung thư thể rắn (bao gồm ung thư vú và ung thư buồng trứng) tiếp nhận liều điều trị 50 mg/m2 cho 1 đợt điều trị với liều tích luỹ anthracyclin lên tới 1532 mg/ m2. Trong số 929 bệnh nhân được điều trị với 50 mg/ m2 liposom doxorubicin/đợt, 418 bệnh nhân được kiểm tra lưu lượng đầy thất trái (LVEF) và ít nhất là 1 lần theo dõi sau điều trị bằng siêu âm cắt lớp đa lớp (MUGA). 88 trong số 418 bệnh nhân có liều tích luỹ vượt qua 400 mg/m2. Nếu điều trị bằng các dạng thuốc doxorubicin thông thường, liều cao như vậy đủ khảnăng gia tăng độc tính đối với tim. Chỉ có 13 trong số 88 bệnh nhân (15% ) xuất hiện ít nhất 1 thay đổi có ý nghĩa lâm sàng LVEF, nghĩa là giá trị LVEF nhỏ hơn 45% hoặc giảm ít nhất 20 điểm so với đường nên. Chỉ có 1 bệnh nhân với liều tích luỹ 944 mg/ m2 bị ngừng nghiên cứu lâm sàng do có triệu chứng lâm sàng của xung huyết tim. Mặc dầu hoại tử mô tại cục bộ do sự thoát mạch của pegylate doxorubicin HCL rất hiếm khi được ghi nhận nhưng một kích ứng cần phải được xem xét. Nghiên cứu trên động vật thực nghiệm đã chỉ ra rằng doxorubicin HCL có thể giảm khả năng tổn thương thoát mạch. Nếu xảy ra bất kỳ triệu chứng thoát mạch (ví dụ nhức nhối như kim châm, ban đỏ), cần ngày lập tức ngừng truyền thuốc và chuyển vị trí tiêm sang tĩng mạch khác. Việc áp đá lạnh vào vị trí thoát mạch trong khoảng 30 phút có thể làm dịu phản ứng tại chỗ. Liposom doxorubicin không được sử dụng bằng cách tiêm bắp thịt hoặc tiêm dưới da.

Phản ứng ở da ở bệnh nhân trước đó đã điều trị tia xạ rất hiếm xảy ra khi tiêm liposom doxorubicin HCL.

Các phản ứng bất lợi do truyền thuốc

Các phản ứng bất lợi nghiêm trọng do truyền thuốc và đôi khi là các phản ứng nguy hiểm thường là các phản ứng kiểu dị ứng và sốc phản vệ với các triệu chứng bao gồm hen phế quản, nổi đỏ, nổi mày đay, đau ngực, sốt, tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, ngứa, ra mồ hôi, thở ngắn, phù mặt, lạnh, đau lưng, tức ngực, đau họng và/hoặc hại huyết áp có thể xuất hiện trong vòng vài phút khi bắt đầu truyền thuốc. Các triệu chứng này có thể được xử lý bằng cách tạm thời ngừng truyền thuốc mà không cần điều trị. Tuy nhiên các thuốc để điều trị triệu chứng (ví dụ các thuốc kháng histamin, cáccorticosteroid, và adrenalin), cũng như các thiết bị cấp cứu cần phải chuẩn bị sẵn để có thể sử dụng tức thời, Hầu hết các bệnh nhân tất cả các triệu chứng trên có thể mất đi và không tái phát. Các phản ứng do truyền thuốc hiếm khi xảy ra sau đợt điều trị đầu tiên. Để giảm thiểu các nguy cơ phản ứng do truyền thuốc, liều khởi đầu cần được truyền với tốc độ không vượt quá 1 mg/phút.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Mặc dâu các thử nghiệm kết hợp pha II với các chất hoá trị liệu thông thường đã được tiến hành ở các bệnh nhân có bệnh phụ khoa ác tính nhưng chưa có nghiên cứu tương tác thuốc chính thức.

Cũng giống như các chế phẩm thuốc doxorubicin HCL, liposom doxorubicin có thể tăng độc tính của các thuốc chống ung thư khác.

Cần thận trọng khi sử dụng kết hợp các thuốc có tương tác với các dạng thuốc chứa doxorubicin HCL thông thường

Doxorubicin làm tăng độc tính của mercaptopurin và azathioprin đối với gan

Doxorubicin dùng cùng với propranolol sẽ làm tăng độc tính đối với tim.

Doxorubicin dùng đồng thời với actinomycin – D và plicamycin có trường hợp tử vong do bệnh cơ tim.

Tác dụng của doxorubicin có thể giảm khi sử dụng đồng thời với barbiturat.

Sự hấp thụ của ciprofloxacin có thể giảm một nửa khi sử dụng đồng thời với doxorubicin

Khi sử dụng đồng thời doxorubicin cùng với các thuốc gây độc tế bào khác như warfarin có thể làm tăng tác dụng của thuốc này và gây chảy máu trong một số trường hợp.

Verapamil làm tăng tác dụng của doxorubicin cả trong môi trường nuôi cấy mô và trên người bệnh. Thuốc làm tăng nồng độ của doxorubicin trong máu.

Liposom đoxorubicin HCL đã được sử dụng cho 230 bệnh nhân ung thư với các dạng ung thư thể rắn (bao gồm ung thư buồng trứng và ung thư vú) theo chế độ điều trị kết hợp (kết hợp với một trong các thuốc cyclophosphamid, taxanes hoặc vinorelbin). Đối với bệnh nhân AIDS-KS, các báo cáo đã chỉ ra rằng các chế phẩm doxorubicin HCL dạng thông thường gia tăng biểu hiện viêm bàng quang xuất huyết gây ra do cyclophosphamid và gia tăng độc tính với gan của 6-mercaptopurin. Cần thận trọng khi sử dụng kết hợp với các thuốc chống ung thư khác, đặc biệt là các thuốc ức chế tuỷ

4.9 Quá liều và xử trí:

Quá liều cấp tính với doxorubicin HCL làm gia tăng tác dụng gây độc như viêm niêm mac, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu. Xử trí quá liều cấp ở những bệnh nhân bị suy tuỷ nặng bao gồm nhập viện theo dõi, dùng kháng sinh, truyền tiểu cầu và bạch cầu hạt và điều trị triệu chứng viêm niêm mạc.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Doxorubicin là một kháng sinh thuộc nhóm anthracyclin gây độc tế bào được phân lập từ môi trường nuôi cấy Streptomyces peucetius var. caecius. Hiện nay được tổng hợp từ daunorubicin. Doxorubicin kích ứng mạnh các mô và có thể gây hoại tử mô, ví dụ trong trường hợp tiêm ra ngoài mạch máu.

Hoạt tính sinh học của doxorubicin là do doxorubicin gắn vào DNA làm ức chế các enzym cần thiết để sao chép và phiên mã DNA. Doxorubicin gây gián đoạn mạnh chu kỳ phát triển tế bào ở giai đoạn phân bào S và giai đoạn gián phân, nhưng thuốc cũng tác dụng trên các giai đoạn khác của chu kỳ phát triển tế bào.

Lipo-Dox là chế phẩm doxorubicin HCl dạng liposom có cấu trúc polyethylen glycol. Cấu trúc polymer thân nước methoxy-polyethylen glycol (MPEG) gắn kết trên bề mặt của tiểu phân liposom và vươn ra khỏi bề mặt tiểu phân này, tạo thành một lớp bảo vệ (tạo thành dạng tiểu phân pegylated liposom) có khả năng làm giảm tương tác giữa lớp màng kép lipid của tiểu phân liposom và các thành phần trong huyết tương, do đó gia tăng thời gian tồn tại của các tiểu phân liposom trong tuân hoàn máu. Vì vậy chế phẩm liposom doxorubicin có thể làm tăng nồng độ doxorubicin trong các khối ung thư ở da như Karposi°s scarcoma hơn so với dạng các bào chế doxorubin khác.

Các tiểu phân liposom doxorubicin này có kích thước rất nhỏ (đường kính trung bình là 100nm)vừa đủ để lọt qua các lỗ hổng trên thành mạch máu có cấu trúc không hoàn chỉnh ở các tổ chức ung thư. Bằng chứng về sự xâm nhập của các tiểu phân liposom doxorubicin qua thành mạch máu, đi vàovà sau đó là tích luỹ tại các tổ chức ung thư đã được chỉ ra ở chuột mang ung thư biểu mô ruột kết C-26 và ở chuột chuyển gen với các tổn thương dạng Kaposi”s sarcoma. Doxorubicin HCl vẫn có thể được bao bọc bên trong tiểu phân liposom trong thời gian tồn tại trong máu do khả năng thấm kém của lớp nên lipid và do hệ đệm lỏng ở bên trong tiểu phân liposom doxorubicin.

Cơ chế tác dụng:

Hoạt tính sinh học của doxorubicin là do doxorubicin gắn vào DNA làm ức chế các enzym cần thiết để sao chép và phiên mã DNA. Doxorubicin gây gián đoạn mạnh chu kỳ phát triển tế bào ở giai đoạn phân bào S và giai đoạn gián phân, nhưng thuốc cũng tác dụng trên các giai đoạn khác của chu kỳ phát triển tế bào.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Đặc điểm dược động học của liposom doxorubicin rất khác biệt so với các dạng chế phẩmdoxorubicin HCL thông thường. Ở liều lượng thấp (10 mg/m2-20 mg/ m2), liposom doxorubicin biểu thị dược động học tuyến tính. Tuy nhiên dược động học tuân theo mô hình không tuyến tính với liều thay đổi trong khoảng 10mg/ m2 tới 60 mg/ m2

Trái với dược động học của các dạng thuốc doxorubicin HCl thông thường trong đó thể tích phân bố trong mô rất cao (700 đến 1100 L/ m2) và hệ số thanh thải rất lớn (24-73 L/h/ m2). Nghiên cứu dược động học của liposom doxorubicin chỉ ra rằng liposom doxorubicin phân bố chủ yếu trong phạm vi thể tích dịch trong mạch máu và độ thanh thải doxorubicin khỏi tuần hoàn máu phụ thuộc vào chất mang là các tiểu phân liposom. Sau khi các tiểu phân liposom lọt qua thành mạch máu và đi vào tổ chức mô, doxorubicin mới được giải phóng ra ngoài và có thể phát huy tác dụng.

Với liều lượng như nhau, nồng độ trong huyết tương và trị số diện tích dưới đường cong nồng độ (AUC) của liposom doxorubicin trong đó doxorubicin hầu hết vẫn còn bao bọc ở bên trong các tiểu phân liposom (chứa khoảng 90% đến 95% lượng doxorubicin đo được) lớn hơn rất nhiều so với cácdang thuốc doxorubicin HCl thông thường.

Dược động hoc trong các quần thể

Dược động học của liposom doxorubicin được nghiên cứu trong một quần thể gồm 120 bệnh nhân thông qua 10 thử nghiệm lâm sàng khác nhau. Mô hình dược động học của liposom doxorubicin trong phạm vi liều 10mg/ m2 đến 60mg/ m2 phù hợp với mô hình 2 ngăn không tuyến tính với đâu vào bậc không (zero order) và quá trình đào thải theo phương thức Michaelis-Menten. Hệ số thanh thải gốc trung bình (mean intrinsic clearance) của liposom doxorubicin 14 0.030 L/h/m2 (0.008-0.152 L/h/m2) và thể tích phân bố trung tâm (central volume of distribution) là 1.93 L/m2 (0.96-3.85 L/ m2), xấp xỉ thể tích huyết tương, thời gian bán thải (half-life) trong khoảng 24 đến 231 giờ, trung bình là 73.9 giờ

Bệnh nhân ung thư vú

Dược động học liposom doxorubicin đã được nghiên cứu trên 18 bệnh nhân ung thư vú có kết quả tương tự như kết quả nghiên cứu đối với 120 bệnh nhân với các loại ung thư khác nhau. Hệ số thanh thải gốc trung bình là 0.016L/h/ m2 (thay đổi từ 0.009-0.027 L/h/ m2), thể tích phân bố trung tâm 1.46L/ m2 (thay đổi từ 1.10-1.64 L/ m2). Thời gian bán thải trung bình 71.5 giờ (thay đổi từ 45.2-98.5 giờ).

Bệnh nhân ung thư buồng trứng

Kết quả nghiên cứu dược động học thu được trên 11 bệnh nhân ung thư buồng trứng tương tự kết quả trên 120 bệnh nhân với nhiều dạng ung thư khác nhau. Hệ số thanh thải gốc trung bình 0.021L/h/m2 (0.009-0.041 L/h/ m2), thể tích phân bố trung tâm 1.95 L/ m2 (1.67 -2.40 L/ m2), thời gian bán thải trung bình là 75.0 giờ (36.1-125 giờ).

Bệnh nhân AIDS-KS

Dược động học của liposom doxorubicin HCL được đánh giá trên 23 bệnh nhân Kaposi’s sarcoma (KS) sau khi truyền 20 mg/m2 vòng 30 phút. Các thông số được động học của liposom doxorubicin (chủ yếu biểu thị cho doxorubicin HCL còn ở bên trong các tiểu phân liposom) được trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1. Các thông số dược động học của Liposom doxorubicin ở bệnh nhân AIDS-KS

Giá trị trung bình + Sai số chuẩn, n= 23

*Giá trị tại thời điểm ngây sau khi kết thúc 30 phút truyền thuốc

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Thành phần không hoạt tính: Cholesterol, Sucrose, Nước cất pha tiêm.

6.2. Tương kỵ :

Doxorubicin không được trộn với bất cứ thuốc nào sau đây (và cũng không được truyền nhỏ giọt trong cùng dây truyền): Heparin, fluorouracil, aminophylin, cephalothin, methotrexat, dexamethason, diazepam, hydrocortison, furosemid.

Doxorubicin bền vững trong dung dịch truyền phối hợp với vincristin. Một dung dịch phối hợp phố biến trong dung dịch natri clorid 0,9% chứa doxorubicin 1,4 mg/lít và vincristin 0,33 mg/lít. Doxorubicin cũng có thể kết hợp với cyclophosphamid, dacarbazin, bleomycin, vinblastin.

6.3. Bảo quản:

Lọ thuốc chưa mở được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 2°C ~ 8°C. Tránh làm đông lạnh thuốc.

Sau khi pha loãng với dung dịch Dextrose 5% trong nước, dung dịch pha loãng của Lipo-Dox nên được sử dụng ngây hoặc bảo quản ở nhiệt độ 2°C – 8°C trong vòng 24 giờ.

Huỷ bỏ lượng thuốc đã dùng dở.

6.4. Thông tin khác :

Mỗi lọ thuốc chứa 10 ml pegylated liposomal doxorubicin HCl nồng độ 2mg/mL (20mg/ lọ) để pha loãng truyền tĩnh mạch. Thuốc ở dạng hỗn dịch vô trùng, màu đỏ, mờ. Hoạt chất doxorubicin HCl là một kháng sinh độc tế bào họ anthracycline chiết xuất từ Streptomyces peucetius varcaesius.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM