1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Deferiprone
Phân loại: Thuốc giải độc. Thuốc giải độc do ngộ độc sắt
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): V03AC02.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: SaVi Deferipron
Hãng sản xuất : Công ty cổ phần dược phẩm SaVi.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nang 250mg, 500 mg.
Thuốc tham khảo:
| SAVI DEFERIPRON 250 | ||
| Mỗi viên nang có chứa: | ||
| Deferiprone | …………………………. | 250 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Deferipron được chỉ định để điều trị các tình trạng quá tải sắt (ứ đọng) ở bệnh nhân mắc bệnh thiểu máu tan huyết di truyền (thalassemia) nghiêm trọng khi chống chỉ định điều trị với deferoxamin hoặc do không đáp ứng phù hợp.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Thường dùng đường uống. Điều trị deferipron nên được bắt đầu và duy trì bởi bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị bệnh thalassemia.
Liều dùng:
Người lớn và trẻ em trên 10 tuổi:
Liều thường dùng: uống 25mg/kg thẻ trọng, uống 3 lần một ngày (tổng liều là 75mg/kg thể trọng/ngày).
Tổng liều hàng ngày trên 100mg/kg thể trọng không được khuyến cáo vì có khả năng gia tăng nguy cơ các phản ứng phụ bất lợi.
Để có được một liều khoảng 75mg/kg/ngày, sử dụng số lượng viên được đề xuất trong bảng dưới đây theo trọng lượng cơ thể của bệnh nhân.
| Trọng lượng cơ thể
(Kg) |
Tổng liều(mg) | Liều lượng
(mg, 3 lần/ ngày) |
Số lượng viên (3 lần/ ngày) |
| 20 | 1500 | 500 | 2 |
| 30 | 2250 | 750 | 3 |
| 40 | 3000 | 1000 | 4 |
| 50 | 3750 | 1250 | 5 |
| 60 | 4500 | 1500 | 6 |
| 70 | 5250 | 1750 | 7 |
| 80 | 6000 | 2000 | 8 |
| 90 | 6750 | 2250 | 9 |
Tác động của deferipron trong việc giảmsắt trong cơ thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi liều lượng và mức độ quá tải sắt. Sau khi bắt đầu điều trịdeferipron nên khuyến khích việc theo dõi nồng độ ferritin huyết thanh hoặc các chỉ số khác của hấp thu sắt trong cơ thẻ mỗi hai đến ba tháng để đánh giá hiệu quả lâu dài của liệu pháp chelat trong việc kiểm soát hấp thu sắt của cơ thể. Cần điều chỉnh liều dùng đẻ đáp ứng theo thay đổi của từng bệnh nhân và mục tiêuđiều trị (duy trì, giảm gánh nặng sắt cho cơ thể). Gián đoạn điều trị với deferipron nên được xem xét nếu đo ferritin huyét thanh giảm xuống dưới 500 mcg/lit.
Trẻ em đến 10 tuổi
Có rất ít thông tin về việc sử dụng deferipron ở trẻ em từ 6 đến 10 tuổi và không có dữ liệu về sử dụng deferipron ở trẻ em dưới 6 tuổi
4.3. Chống chỉ định:
Mẫn cảm với deferipron hoặc bất kỳ tá dược trong công thức.
Có tiền sử giảm bạch cầu trung tính tái diễn thường xuyên.
Có tiền sử mất bạch cầu hạt.
Trường hợp mang thai và cho con bú.
Do không rõ cơ chế tác động của deferipron gây ra giảm bạch cầu trung tính, bệnh nhân không được dùng các thuốc được biết là có liên quan tới giảm bạch cầu hoặc những thuốc có thể gây mất bạch cầu hạt.
4.4 Thận trọng:
Giảm bạch cầu trung tính/mất bạch cầu hạt
Deferipron, đã được chứng minh là gây giảm bạch cầu trung tính, bao gồm mắt bạch cầu hạt.
Bạch cầu trung tính của bệnh nhân cần được theo dõi mỗi tuần. Các thử nghiệm lâm sàng, giám sát hàng tuần việc đếm bạch cầu trung tính đã cho hiệuquảtrong việc xác định các trường hợp giảm bạch cầu và mất bạch cầu hạt. Giảm bạch cầu và mất bạch cầu hạt được giải quyết ngay khi ngưng điều trị.
Nếu bệnh nhân bị nhiễm trùng trong khi sử dụng deferipron, nên ngưng điều trị và đếm số lượng bạch cầu trung tính thường xuyên. Bệnh nhân cần được tư vân để báo cáo ngay với bác sĩ bất kỳ triệu chứng biểu hiện nhiễm trùng như sốt, đau họng và triệu chứng giống cúm.
Việc điều trị với deferipron không nên tiến hành nếu bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính. Nguy cơ mất bạch cầu hạt và giảm bạch cầu trung tính tăng cao nêu giá trị đếm được của bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) ít hơn 1,5 x 10^9/lit.
Trường hợp giảm bạch cầu
Hướng dẫn bệnh nhân ngưng ngay lập tức deferipron và tất cả các thuốc khác có khả năng gây giảm bạch cầu. Bệnh nhân được khuyên nên hạn chế tiếp xúc với các cá nhân khác để giảm nguy cơ nhiễm trùng. Thực hiện xét nghiệm đếm tổng số hồng câu (CBC), có kèm theo đếm bạch cầu, gôm cả số lượng bạch cầu trung tính và số lượng tiểu cầu. Sau khi có dấu hiệu giảm bạch cầu trung tính hồi phục, cần khuyến cáo tiếp tục đếm trong ba tuần liên tiếp CBC hàng tuần, đếm bạch cầu, bạch câu trung tính và số lượng tiểu cầu để đảm bảo bệnh nhân hồi phục hoàn toàn. Nếu có bất kỳ bằng chứng nhiễm trùng phát triển đồng thời với việc giảm bạch cầu, cần thực hiện việc cấy vi khuân và áp dụng các thủ tục chân đoán phù hợp đề xác định một phác đồ điều trị thích hợp.
Trường hợp giảm bạch cầu nghiêm trọng hoặc mất bạch cầu hạt
Thực hiện theo các hướng dẫn trên và áp dụng điều trị thích hợp như sử dụng các yếu tố kích thích bạch câu hạt (GCSF), bắt đầu cùng với ngày xác định sự kiện nảy, sử dụng hàng ngày cho đến khi tình trạng này được giải quyết.
Tính gây ung thư/đột biến gen
Theo tổng quan của các kết quả về tính gây ung thư, tiềm năng gây ung thư của deferipron không thể được loại trừ.
Nồng độ ion Zn2+ huyết tương
Khuyến cáo việc giám sát nồng độ Zn2+ huyết tương và bổ sung trong trường hợp thiếu hụt.
Bệnh nhân HIV dương tính hoặc thiếu khã năng miễn dịch khác
Không có số liệu về việc sử dụng deferipron cho bệnh nhân nhiễm HIV hoặc bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch khác. Trong điều kiện deferipron có thể có liên quan tới giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt, việc điều trị cho bệnh nhân thiếu khả năng miễn dịch là không nên trừ phi lợi ích lớn hơn nguy cơ tiềm ẩn.
Suy thận hoặc suy gan và xơ gan
Không có dữ liệu về việc sử dụng deferipron ở bệnh nhân suy thận hoặc gan. Do deferipron được thải trừ chủ yếu qua thận nên có thể làm tăng nguy cơ biến chứng ở bệnh nhân suy thận. Tương tự như vậy, do deferipron được chuyển hóa ở gan nên việc sử dụng phải thận trọng cho bệnh nhân có rồi loạn chức năng gan. Chức năng thận và gan cần được theo dõi cho nhóm bệnh nhân này khi điều trị với deferipron. Nếu có sự gia tăng liên tục alanin aminotransferase (ALT) trong huyết thanh, có thể phải xem xét việc gián đoạn điều trị deferipron. Ở bệnh nhân (halassemia có mối liên quan giữa bệnh xơ gan và quá tải sắt và/hoặc viêm gan siêu vi C. Chăm sóc đặc biệt cho viêm gan phải được thực hiện để đảm bảo rằng việc thải sắt của bệnh nhân viêm gan C là tối ưu. Ở những bệnh nhân này việc theo dõi kiểm tra cẩn thận mô học gan được khuyến khích.
Đổi màu nước tiểu
Bệnh nhân nên được thông báo là nước tiểu có thể bị đổi màu thành hơi đỏ hoặc nâu do sự bài tiết của phức hợp sắt deferipron.
Quá liều mãn tính và rối loạn thần kinh
Rối loạn thần kinh đã được quan sát thấy ở trẻ em được điều trị với liều gấp 2,5 – 3 lần so với liều khuyến cáo trong nhiều năm. Khi kê đơn cần lưu ý là việc sử dụng các liều trên 100 mg/kg/ngày không được khuyến cáo.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Không có tác động.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Phụ nữ dự định mang thai phải được thông báo để tránh mang thai vì những thuộc tính gây vỡ nhiễm sắc thể và gây quái thai của thuốc.
Những phụ nữ này phải được khuyên nên dùng biện pháp tránh thai và phải được khuyến cáo ngưng deferipron ngay lập tức nếu họ có thai hoặc dự định có thai.
Thời kỳ cho con bú:
Người ta không biết liệu deferipron có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Không có các nghiên cứu sinh sản trước và sau sinh được thực hiện ở động vật.
Deferipron không được sử dụng cho các bà mẹ đang cho con bú. Nếu việc điều trị là không thể tránh khỏi, việc cho con bú phải được dừng lại
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Trong qua trinh điều trị với deferipron các phản ứng phụ thường gặp nhất được báo cáo ở các thử nghiệm lâm sàng là buồn nôn, nôn, đau bụng và sắc tố niệu (chromaturia) trong hơn 10% số bệnh nhân. Các phản ứng phụ nghiêm trọng nhất được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng với deferipron là mất bạch cầu hạt, được định nghĩa như mức đếm bạch cầu trung tính tuyệt đối dưới 0,5 x 10^9/lít, xảy ra ở khoảng 1% bệnh nhân. Nhóm giảm bạch cầu trung tính ít nghiêm trọng hơn được báo cáo ở khoảng 5% bệnh nhân.
Phổ biến (> 1/10),
Rối loạn hệ tiêu hóa:Buồn nôn, nôn, đau bụng dưới
Rối loạn thận và niệu: tiểu ra màu (sắc tô niệu)
Thường gặp (>= 1/100 đến <1⁄10),
Rối loạn máu và hệ bạch huyết: giảm bạch cầu trung tính, mất bạch cầu hạt
Rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡng: Tăng thèm ăn
Rối loạn hệ thần kinh: Đau đầu
Rối loạn hệ tiêu hóa: Tiêu chảy
Rối loạn cơ xương – mô liên kết: Đau khớp
Rối loạn chung: Mệt mỏi
Phát hiện khi xét nghiệm: Tăng men gan
Không rõ tỷ lệ (không thê ước tính từ dữ liệu có sẵn).
Rồi loạn hệ miễn dịch: Phản ứng quá mẫn
Rối loạn da và mô: Phát ban, mề đay
Mô tả phản ứng phụ được lựa chọn
Các phản ứng phụ nghiêm trọng nhất được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng với deferipron là mất bạch cầu hạt (bạch cầu trung tính < 0,5×10^9/1) với tỷ lệ 1,1% (có 0,6 trường hợp cho 100 bệnh nhân/năm điều trị).
Tiêu chảy, chủ yếu là nhẹ và thoáng qua được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị với deferipron. Các tác động trên đường tiêu hóa thường gặp hơn khi mới bắt đầu điều trị và thường biến mắtở hầu hết bệnh nhân trong vòng một vài tuần mà khôngcần ngừng điều trị. Ở một số bệnh nhân có thể có lợi khi cho giảm liều deferipron và sau đó tăng dần trở lại đến liều cũ. Các bệnh ở khớp, dao động từ đau nhẹ ở một hoặc nhiều khớp tới viêm khớp nặng kèm tràn dịch và gây tồn thương đáng kể, cũng đã được báo cáo ởbệnh nhân được điều trị với deferipron. Các bệnhở khớp thường nhẹ và thoáng qua.
Tăng nồng độ men gan trong huyết thanh được báo cáo ở một sô bệnh nhân dùng deferipron. Trong đa sô các bệnh nhân này, sự gia tăng khôngcó triệu chứng, thoáng qua và trở về giá trị cơ bản mà không cần ngưng,hoặc.giảm liều deferipron.
Một số bệnh nhân mặc xo gan tiến triển có liên quan đến sự gia tăng tình trạng quá tải sắt hoặc viêm gan C.
Nồng độ Zn (kẽm) trong huyết tương thấp có liên quan tới deferipron ở một số it bệnh nhân.Điều chỉnh về mức bình thường bằng bỗ sung kẽm bằng đường uống.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Tương tác giữa deferipron và các thuốc khác chưa có báo cáo. Tuy nhiên, do đeferipron liên kết với các cation kim loại, khả năng tổn tại tương tác giữa deferipron với các thuốc chứa cation hóa trị ba, chăng hạn như thuốc kháng acid có chứa nhôm, có thể xảy ra. Do đó, không nên dùng deferipron đồng thời với thuốc kháng acid chứa nhôm.
Cơ chế tác động của deferipron làm giảm bạch cầu trung tính chưa rõ, bệnh nhân không được sử dụng các loại thuốc được biết là có liên quan tới gây giảm bạch cầu hoặc gây mất bạch cầu hạt.
An toàn trong việc sử dụng deferipron đồng thời với Vitamin C chưa được nghiên cứu chính thức. Dựa trên các báo cáo về tương tác bất lợi có thể xảy ra giữa deferoxamin và vitamin C, cần thận trọng khi dùng deferipron và vitamin C đồng thời.
4.9 Quá liều và xử trí:
Không có trường hợp quá liều cấp tính được báo cáo. Tuy nhiên, rối loạn thần kinh (như các triệu chứng tiểu não, nhìn đôi, rung giật nhãn cầu bên, tâm thần chậm lại, chuyển động bàn tay và giảm trương lực trục) đã được quan sát thay ở trẻ em tình nguyện dùng thuốc theo liều gấp 2,5 lần liều tối đa khuyến cáo 100 mg/kg/ngày nhiều năm.
Các rối loạn thần kinh giảm và mất dần sau khi ngưng deferipron.
Trong trường hợp quá liều, giám sát lâm sàng chặt chẽ cho bệnh nhân là cần thiết.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh deferipron có hiệu quả trong việc thúc đẩy bài tiết sắt và một liều 25mg/kg ba lần mỗi ngày có thể ngăn chặn sự tiến triển tích lũy ion sắt theo đánh giá trên ferritin huyết thanh ở bệnh nhân thalassemia phụ thuộc vào truyền máu. Tuy nhiên, liệu pháp đào thải này có thể không nhất thiết đã bảo vệ chống lại tổn thương cơ quan do ion sắt gây ra.
Các nghiên cứu LA16-0102, LA-01 và LA08-9701 nhằm so sánh hiệu quả của deferipron với deferoxamin trong việc kiểm soát ferritin huyết thanh ở bệnh nhân thalassemia phụ thuộc vào truyền máu. Deferipron và deferoxamin tương đương nhau trong việc thúc đây sự ôn định mạng lưới, giảm tải sắt trong cơ thể cho dù có việc truyền sắt liên tục cho bệnh nhân (có sự khác biệt trong tỷ lệ bệnh nhân có xu hướng cho phản ứng âm tính ferritin huyết thanh giữa hai nhóm diều trị bằng các phân tích hồi quy; p > 0,05)..
Một phương pháp cộng hưởng từ MRI T2 cũng được sử dụng để định lượng tải sắt cho cơ tim. Sắt quá tải gây ra mất tín hiệu phụ thuộc nồng độ MRI T2*, do đó tăng sắt máu cơ tim làm giảm giá trị MRI T2* cơ tim. Giá trị MRI T2*cơ tim dưới 20 phần nghìn giây đại diện cho tình trạng quá tải sắt 9 trung tâm (tim). Giá trị MRI T2* tăng khi điều trị cho thấy sắt đang được gỡ bỏ khỏi tim. Mối tương quan thuận giữa giá trị MRI T2* và chức năng tim (được đo bằng suất tống máu thất trái (LVEF)) đã được ghi nhận.
Nghiên cứu LA16-0102 so sánh hiệu quả của deferipron với deferoxamin trên tim khi giảm tình trạng quá tải sắt và trong việc cải thiện chức năng tim (được đo bằng LVEF) ở những bệnh nhân thalassemia phụ thuộc vào truyền máu. Có 61 bệnh nhân tim quá tải sắt, trước đó được điều trị bằng deferoxamin, được chọn ngẫu nhiên để vn tục dùng deferoxamin (liều trung bình 43mg/kg/ngày, N = 31) hoặc chuyển sang dùng deferipron (liều trung bình 92mg/kg/ngày N = 29) trong khoảng thời gian nghiên cứu hơn 12 tháng, Deferipron đã tỏ ra vượt trội so với deferoxamin trên giảm tải sắt tim. Đã có sự cải thiện trong tín hiệu tim T2* hơn 3 mili giây ở bệnh nhân được điều trị bằng deferipron so với sự thay đổi khoảng 1 phần nghìn giây ở những bệnh nhân được điều trị với deferoxamin. Tại cùng thời điểm, LVEF đã tăng lên so với ban đầu bằng 3,07 + 3,58 đơn vị tuyệt đối (%) trong nhóm deferipron và 0,32 + 3,38 đơn vị tuyệt đối (%) trong nhóm deferoxamin (sự khác biệt giữa các nhóm; p = 0,003).
Nghiên cứu LAI2-9907 so sánh tỷ lệ sống sót, tỷ lệ mắc bệnh tim va tiến triển củabệnh, tim trên 129 bệnh nhân bị bệnh thiếu máu chủ yếu được điều trị ít nhất 4 nămvới deferipron (N=54) hoặc deferoxamin (N= 75). Đánh giá điểm cuối của tim (cardiac endpoingts) bằng siêu âm tim, điện tâm đồ (phân loại mới theo Hiệp hội Tìm New York) và tử vong do bệnh tim. Không có khác biệt đáng kế trong tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn chức năng tim ở đánh giá đầu tiên (13% cho deferipron so với 16% cho deferoxamin). Bệnh nhân bị rối loạn chức năng tìm ở đánh giá đầu tiên, không được điều trị với deferipron so với bốn (33%) bệnh nhân được điều trị với deferoxamin đã có tình trạng tim xấu đi (p= 0.245). Rối loạn chức năng tim mới được chân đoán xảy ra ở 13 (20,6%) bệnh nhân được điều trị với deferoxamin và ở 2 (4,3%) bệnh nhân điều trị với deferipron là những bệnh nhân không bị bệnh tim ở lần đánh giá đầu tiên (p=0,,013). Nhìn chung, bệnh nhân điều trị với deferipron xay ra rối loạn chức năng tim xấu đi ít hơn so với bệnh nhânđiều trị với deferoxamin khi đánh giá từ đầu tiên đến đánh giá cuối cùng (4% so với 20% p = 0007). Dữ liệu từ các tài liệu đã được côngbố phù hợp với các kết quả từ các nghiên cứu Apotex, chứng tỏ bệnh tim ít hơn và/hoặc sự sông sót tăng lên ở những bệnh nhân được điều trị bằng deferipron so với điều trị bằng deferoxamin.
Cơ chế tác dụng:
Deferiprone (3-hydroxy-1,2-dimethylpyridin-4-one) là một chất mang có hai nhánh, kết hợp với sắt theo tỉ lệ phân tử 3:1. Nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng deferiprone có hiệu quả trong việc thúc đẩy đào thải chất sắt và với liều 25 mg/kg ba lần một ngày có thể ngăn chặn quá trình ứ đọng chất sắt ở dạng ferritin huyết thanh, ở những bệnh nhân phụ thuộc vào truyền máu thalasemie.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu
Deferipron được hấp thu nhanh từ đường tiêu hóa trên. Nồng độ đỉnh huyết thanh xảy ra từ 45 đến 60 phút sau một liều duy nhất ở những bệnh nhân dùng thuốc lúc đói. Điều này có thể kéo dài đến 2 giờ ở những bệnh nhân dùng thuốc lúc no.
Chuyển hóa: Deferipron được chuyển hóa chủ yếu đến dạng liên hợp glucuronid. Chất chuyển hóa này không có khả năng liên kết với ion sắt do sự bất hoạt của các nhóm 3-hydroxy của deferipron. Nồng độ đỉnh huyết thanh của dạng glucuronid xảy ra 2 đến 3 giờ sau khi dùng deferipron.
Thải trừ: Ở người deferipron được thải trừ chu yếu qua thận, có 75% đến 90% liều dùng được tìm thấy trong nước tiểu sau 24 giờ đầu tiên, dưới dạng deferipron tự do, dạng chuyển hóa glucuronid và dạng phức hợp sắt-deferipron. Một lượng thay đổi được loại bỏ qua phân đã được báo cáo. Nửa đời bán thải trong hầu hết bệnh nhân là 2-3 giờ.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam