Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Marcain
Marcain là dung dịch tiêm gây tê đẳng trọng có chứa thành phần chính là Bupivacaine nồng độ 20 mg/4ml. Marcain do công ty AstraZeneca sản xuất và đăng ký. Dung dịch Marcain được chỉ định để gây tê vùng hoặc gây tê tại chỗ và giảm đau trong một số trường hợp phẫu thuật hoặc hậu phẫu. Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Marcain (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…):
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Bupivacaine (Bupivacain hydrochlorid)
Phân loại: Thuốc gây mê gây tê > Thuốc gây tê > Thuốc tê tại chỗ.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine).
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01BB01.
Biệt dược gốc: Hiện chưa có thuốc đăng ký biệt dược gốc tại Việt Nam.
Biệt dược: Marcain
Hãng sản xuất : AstraZeneca AB.
Hãng đăng kí: AstraZeneca.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Dung dịch tiêm 0,5% : ống 20 ml chứa 100mg Bupivacain, hộp 5 ống
Hình ảnh tham khảo:
| MARCAIN | ||
| Mỗi lọ 20ml dung dịch tiêm có chứa: | ||
| Bupivacaine | …………………………. | 100 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Thông tin dành cho người sử dụng:
3.1. Marcain là thuốc gì?
Marcain là dung dịch tiêm gây tê đẳng trọng có chứa thành phần chính là Bupivacaine nồng độ 20 mg/4ml. Marcain do công ty AstraZeneca sản xuất và đăng ký. Dung dịch Marcain được chỉ định để gây tê vùng hoặc gây tê tại chỗ và giảm đau trong một số trường hợp phẫu thuật hoặc hậu phẫu.
3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:
Sự khác biệt giữa Bupivacaine thông thường/đẳng trọng và Bupivacaine heavy (ưu trọng) là gì?
Bupivacaine thông thường còn được gọi là Bupivacain đẳng trọng (tương đương tỷ trọng với dịch não tủy), Bupivacaine ưu trọng được làm tăng tỷ trọng bằng cách thêm glucose (80 mg/mL) vào Bupivacain hydroclorid thông thường 5mg/ml. Sự khác biệt giữa hai dạng này được cho là ảnh hưởng đến khả năng khuếch tán và phân bố của chúng sau khi tiêm vào dịch não tủy, Bupivacain ưu trọng dung nạp tốt hơn và có xu hướng chìm xuống trong dịch não tủy thì loại đẳng trọng có xu hướng nổi lên trên, tuy vậy hiệu quả vẫn chưa được kết luận rõ ràng. Xem thêm phân tích tại bài viết: Theo dòng thời sự với bupivacaine
Bupivacaine có phải là chất giảm đau gây nghiện như morphin không?
Morphine là thuốc giảm đau gây nghiện nhóm opioid được dùng để giảm đau. Trong khi đó Bupivacaine và Lidocaine cùng nhóm là thuốc gây tê tại chỗ, được dùng để giảm đau bằng cách chặn tín hiệu đau ở các đầu dây thần kinh. So với Lidocain thì Bupivacaine khởi phát tác dụng ở mức “trung bình”, còn lidocaine khởi phát tác dụng “nhanh” .
Bupivacaine có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?
Bupivacaine CÓ nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam. Bupivacaine nằm trong nhóm thuốc gây tê gây mê và thường dùng đường tiêm, do đó người bệnh chỉ có thể được sử dụng thuốc này tại các cơ sở khám chữa bệnh theo tuyến bảo hiểm y tế.
4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:
4.1. Chỉ định:
Dung dịch Marcain được chỉ định để gây tê vùng hoặc gây tê tại chỗ và giảm đau trong những trường hợp sau :
Gây tê phẫu thuật
Phong bế ngoài màng cứng để phẫu thuật.
Phong bế vùng (phong bế dây thần kinh lớn và nhỏ và gây tê tiêm thấm).
Giảm đau
Truyền liên tục hoặc tiêm cách khoảng vào khoang ngoài màng cứng để giảm đau hậu phẫu hoặc khi sinh.
Phong bế vùng (phong bế dây thần kinh nhỏ và gây tê tiêm thấm).
Việc lựa chọn 4 nồng độ 0,125%, 0,25%, 0,375% và 0,5%, có thể làm thay đổi mức độ phong bế vận động.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng để tiêm gây tê tại chỗ hoặc truyền liên tục vào khoang ngoài màng cứng. Nên tiêm chậm, hút bơm tiêm thường xuyên để tránh tiêm nhầm vào mạch máu gây ra phản ứng nhiễm độc.
GHI CHÚ :
Liều đề nghị :
Tính dung nạp rất khác nhau giữa từng bệnh nhân và tác dụng gây độc có thể xảy ra sau bất kỳ thủ thuật gây tê nào. Do đó cần phải luôn luôn theo dõi bệnh nhân. Cần lưu ý rằng liều bupivacaine ở bất kỳ thời điểm nào cũng không được vượt quá 2 mg/kg thể trọng (dung dịch có và không có adrenaline). Tuy nhiên, liều sử dụng phải được điều chỉnh tùy theo từng bệnh nhân và thủ thuật gây tê, và liều tối đa được nêu trên chỉ nên xem như một hướng dẫn.
Tiêm :
Tiêm liều lập lại bupivacaine có thể gây sự gia tăng đáng kể nồng độ thuốc trong máu với mỗi liều lập lại, do sự tích tụ thuốc hoặc các chất chuyển hóa, hoặc do sự thoái biến chuyển hóa chậm.
Nên tránh tiêm nhanh một thể tích lớn thuốc gây tê và nên sử dụng từng liều nhỏ khi có thể. Đối với hầu hết các chỉ định, thời gian tác dụng của liều Marcain duy nhất là đủ để gây tê.
Hạ huyết áp :
Khi gây tê ngoài màng cứng chùm đuôi ngựa, đoạn thắt lưng và đoạn ngực, có thể quan sát thấy sự giảm huyết áp đáng kể và/hoặc liệt khoảng gian sườn, có lẽ là do sử dụng quá liều, tư thế bệnh nhân không đúng hoặc do tiêm nhầm thuốc gây tê vào khoang dưới màng nhện. Hạ huyết áp và chậm nhịp tim có thể xảy ra do phong bế giao cảm.
Liều kiểm tra (liều test) :
Đối với gây tê ngoài màng cứng, nên sử dụng liều kiểm tra từ 3-5 ml dung dịch thuốc gây tê, tốt nhất là dung dịch chứa đến 15 mcg adrenaline, (ví dụ 3 ml dung dịch Marcain 0,5% có adrenaline 1 : 200000). Việc thăm hỏi bệnh nhân và thường xuyên theo dõi nhịp tim và huyết áp cần được duy trì trong 5 phút sau liều kiểm tra, sau đó nếu không có dấu hiệu tiêm nhầm vào tĩnh mạch hoặc khoang dưới màng nhện thì có thể dùng liều chính.
Việc sử dụng liều kiểm tra chứa adrenaline có thể có nhiều thuận lợi hơn do tiêm nhầm adrenaline vào tĩnh mạch sẽ được nhận biết nhanh bởi sự gia tăng nhịp tim, thường trong vòng 40 giây. Để phát hiện điều này, cần theo dõi tần số và nhịp tim trên điện tâm đồ.
Tiêm nhầm vào trong vỏ (intrathecal) có thể nhận biết bởi dấu hiệu phong bế tủy sống.
Trước khi tiêm tổng liều, cần hút bơm tiêm nhiều lần. Liều chính cần được tiêm chậm với tốc độ 25-50 mg/phút, trong khi đó cần quan sát các dấu hiệu sống và thường xuyên hỏi chuyện bệnh nhân. Nếu các triệu chứng hoặc dấu hiệu nhiễm độc xảy ra, phải ngừng tiêm ngay lập tức.
Liều dùng:
Cũng như với tất cả các loại thuốc gây tê, liều sử dụng thay đổi và tùy thuộc vào vùng cần được gây tê, tình trạng mạch máu ở mô, số đoạn thần kinh cần phong bế, mức độ gây tê, và mức độ giãn cơ cần thiết, khả năng dung nạp của từng người, kỹ thuật gây tê, và tình trạng thực thể của bệnh nhân.
Nên sử dụng liều thấp nhất đạt hiệu quả gây tê. Nói chung, nồng độ và liều lượng để gây tê phẫu thuật thì cao hơn nồng độ và liều lượng cần thiết để giảm đau. Thể tích thuốc sử dụng ảnh hưởng đến mức độ lan truyền của sự phong bế.
Dạng trình bày của dung dịch tiêm Marcain nhằm để sử dụng một lần duy nhất. Cần loại bỏ phần dung dịch thừa khi đã mở ống tiêm.
Sau đây là bảng hướng dẫn liều sử dụng. Kinh nghiệm của thầy thuốc và hiểu biết về tình trạng thực thể của bệnh nhân rất quan trọng trong việc quyết định liều sử dụng. Đến nay kinh nghiệm cho thấy rằng liều 400 mg được sử dụng trong vòng 24 giờ được dung nạp tốt ở người lớn cân nặng trung bình.
Liều đề nghị cho dung dịch Marcain có và không có adrenaline đối với các thủ thuật gây tê khác nhau ở bệnh nhân trưởng thành khỏe mạnh, cân nặng trung bình 70 kg. Nói chung, liều lượng của dung dịch thuốc gây tê có adrenaline tương đương với liều lượng của dung dịch thuốc tê không có adrenaline.
Liều khuyến cáo :
*Dung dịch này chủ yếu được dùng để tiêm ngoài màng cứng phối hợp với một thuốc thuộc nhóm opium thích hợp khác để giảm đau hậu phẫu. Để tìm hiểu thêm chi tiết về thủ thuật gây tê, xin tham khảo y văn hiện hành.
| . | Nồng độ | Liều lượng | |
| mg/ml | ml | mg | |
| GÂY TÊ PHẪU THUẬT | |||
| Ngoài màng cứng đoạn thắt lưng | |||
| Phẫu thuật bụng, khung chậu và chi dưới, kể cả mổ lấy thai | 5,0 | 15-30 | 75-150 |
| Ngoài màng cứng đoạn ngực | |||
| Phẫu thuật bụng trên và ngực | 2,5 | 5-15 | 12,5-37,5 |
| 5,0 | 5-10 | 25-50 | |
| Ngoài màng cứng chùm đuôi ngựa | 2,5 | 15-40 | 37,5-100 |
| 5,0 | 15-25 | 75-125 | |
| Các phong bế khác | |||
| – Tiêm thấm tại chỗ | 2,5 | 5-60 | 12,5-150 |
| 5,0 | 5-30 | 25-150 | |
| – Khoản gian sườn (mỗi đoạn đốt sống) | 2,5 | 4-8 | 10-20 |
| 5,0 | 3-5 | 15-25 | |
| – Đám rối cánh tay | 5,0 | 20-30 | 100-150 |
| – Thần kinh hông | 5,0 | 10-20 | 50-100 |
| 3 trong 1(thần kinh đùi, thần kinh bịt và thần kinh bì ngoài) | 5,0 | 10-20 | 50-100 |
| Âm hộ | 2,5-5,0 | 5-10 mỗi bên | 7,5-100 |
| GIẢM ĐAU | |||
| Ngoài màng cứng chùm đuôi ngựa | |||
| Giảm đau hậu phẫu | 2,5 | 20-30, tiêm bolus | 50-75, tiêm bolus |
| Ngoài màng cứng đoạn thắt lưng | |||
| Tiêm (bao gồm giảm đau khi sinh) | 2,5-5,0 | 6-12, tiêm bolus, tiếp theo là: | 15-60, tiêm bolus, tiếp theo là: |
| Truyền liên tục (bao gồm giảm đau khi sinh và giảm đau hậu phẫu) | 1,25* | 10-15 ml/giờ | 12,5-18,75 mg/giờ |
| 2,5 | 5-7,5 ml/giờ | 12,5-18,75 mg/giờ | |
| Ngoài màng cứng đoạn ngực | |||
| Truyền liên tục để giảm đau hậu phẫu | 1,25* | 5-10 ml/giờ | 6,25-12,5 mg/giờ |
Sử dụng thuốc ở trẻ em
Kinh nghiệm sử dụng bupivacaine ở trẻ em dưới 10 tuổi còn giới hạn. Liều sử dụng ở trẻ em phải tính theo thể trọng, có thể lên đến 2 mg/kg.
Việc thêm adrenaline sẽ kéo dài thời gian phong bế khoảng 50-100%.
Sử dụng thuốc ở bệnh nhân cao tuổi và suy nhược
Bệnh nhân cao tuổi và suy nhược, kể cả những bệnh nhân có ức chế dẫn truyền cơ tim một phần hoặc hoàn toàn, bệnh gan tiến triển hoặc rối loạn chức năng thận nặng cần được giảm liều phù hợp tình trạng thực thể của bệnh nhân (xem Thận trọng).
4.3. Chống chỉ định:
Dị ứng và tăng nhạy cảm với thuốc gây tê nhóm amide hoặc sodium metabisulfite trong dung dịch có adrenalin. Test da chỉ có giá trị hạn chế trong việc phát hiện tính nhạy cảm với thuốc.
Chống chỉ định gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống ở những bệnh nhân hạ huyết áp chưa được điều chỉnh.
Không được gây tê khi có nhiễm trùng ở vùng tiêm và/hoặc khi có nhiễm khuẩn huyết.
Chống chỉ định bupivacaine trong phong bế cạnh cổ tử cung trong sản khoa, gây tê vùng đường tĩnh mạch (Bier’s block) và tất cả các dạng truyền tĩnh mạch.
Cần lưu ý đến chống chỉ định chung đối với thủ thuật gây tê ngoài màng cứng khi dùng bất kỳ thuốc gây tê tại chỗ nào.
Chống chỉ định bổ sung đối với dung dịch có adrenaline :
Chống chỉ định adrenaline trong trường hợp mà sự xuất hiện cơn nhịp nhanh có thể gây tử vong, như nhiễm độc giáp hoặc bệnh lý tim nặng, hoặc trong sản khoa khi huyết áp người mẹ vượt quá 130/80 mmHg.
Dung dịch có adrenaline không được sử dụng để gây tê ở những phần cơ thể kém tưới máu hoặc được cung cấp máu bởi các động mạch tận, như ngón tay, ngón chân, mũi, tai hoặc dương vật. Có khả năng gây co thắt động mạch và hoại thư do thiếu máu cục bộ ở vùng xa so vị trí tiêm.
Không được sử dụng dung dịch có adrenaline ở những bệnh nhân được biết là mẫn cảm với các amine cường giao cảm.
Không được sử dụng dung dịch có adrenaline ở hầu hết bệnh nhân bị xơ vữa động mạch não.
4.4 Thận trọng:
Khi sử dụng bất kỳ một thuốc gây tê nào, thì phương tiện và thuốc hồi sức, kể cả oxy, phải sẵn có đển xử trí các tác dụng ngoại ý trên hệ tim mạch, hô hấp, hệ thần kinh trung ương.
Do khả năng hạ huyết áp và chậm nhịp tim sau phong bế dây thần kinh lớn, nên đặt canula tĩnh mạch trước khi tiêm thuốc tê.
Chậm trễ trong xử trí thích hợp nhiễm độc do liều sử dụng, kém thông khí vì bất kỳ lý do nào và/hoặc thay đổi nhạy cảm có thể dẫn đến nhiễm acid, ngừng tim và tử vong.
Nên tiêm chậm, hút bơm tiêm thường xuyên để tránh tiêm nhầm vào mạch máu gây ra phản ứng nhiễm độc.
Cần theo dõi cẩn thận và thường xuyên các dấu hiệu hô hấp, tim mạch và trạng thái ý thức của bệnh nhân sau mỗi lần tiêm thuốc gây tê. Luôn ghi nhớ rằng ở những lần tiêm như vậy, bồn chồn, lo lắng, ù tai, chóng mặt, hoa mắt, run, trầm cảm, hoặc ngủ gà ngủ gật có thể là các dấu hiệu cảnh báo sớm của nhiễm độc thần kinh trung ương.
Để phong bế thần kinh ngoại biên lớn có thể cần phải dùng một lượng lớn thuốc gây tê ở những vùng có nhiều mạch máu thường gần với các mạch máu lớn. Do vậy làm tăng nguy cơ tiêm vào mạch máu và/hay hấp thu toàn thân mà có thể dẫn đến nồng độ thuốc cao trong huyết tương. Đã có báo cáo về trường hợp ngưng tim hoặc tử vong trong khi dùng bupivacaine để gây tê ngoài màng cứng hoặc phong bế thần kinh ngoại biên. Trong một số trường hợp, việc hồi sức cho bệnh nhân đã gặp khó khăn hoặc thất bại mặc dù đã dùng thuốc và biện pháp xử trí thích hợp.
Heparin trọng lượng phân tử thấp và heparinoids (Khối máu tụ trong khoang tủy sống/khoang ngoài màng cứng) – Khi gây tê trục thần kinh (gây tê ngoài màng cứng/tủy sống) trên bệnh nhân đã chống đông máu hoặc có kế hoạch chống đông máu bằng heparin trọng lượng phân tử thấp và hepanoids thì có nguy cơ có khối máu tụ trong khoang tủy sống hoặc khoang ngoài màng cứng. Điều này có thể dẫn đến tình trạng tê liệt trong thời gian dài hoặc vĩnh viễn. Nguy cơ của các biến cố này tăng lên khi dùng các ống thông (catheter) vào khoang ngoài màng cứng, chọc khoang tủy sống/khoang ngoài màng cứng nhiều lần hoặc gây chấn thương và khi dùng đồng thời với các thuốc ảnh hưởng đến sự cầm máu như NSAID, thuốc ức chế tiểu cầu hoặc các thuốc kháng đông khác. Bệnh nhân nên được theo dõi thường xuyên dấu hiệu và triệu chứng tổn thương thần kinh.
Tính an toàn và hiệu quả của Marcain phụ thuộc vào liều dùng thích hợp, kỹ thuật chính xác và sự thận trọng đầy đủ. Cần tham khảo y văn về các kỹ thuật chuyên khoa và điều cần lưu ý đối với các thủ thuật gây tê tủy sống.
Nên sử dụng liều thấp nhất đạt hiệu quả gây tê (xem Liều Lượng và Cách Sử Dụng). Tiêm nhiều lần Marcain có thể gây tích lũy bupivacaine hoặc các dạng chuyển hóa của nó và có thể dẫn đến nhiễm độc.
Khả năng dung nạp khi nồng độ thuốc trong máu tăng thay đổi theo tình trạng bệnh nhân. Bệnh nhân lớn tuổi, trẻ em hoặc bệnh nhân mất sức, bao gồm bệnh nhân có block dẫn truyền một phần hoặc toàn phần, bệnh gan tiến triển, hoặc suy chức năng thận cần phải giảm liều phù hợp tuổi và tình trạng thực thể.
Thận trọng khi sử dụng bupivacaine ở trẻ em dưới 12 tuổi.
Thận trọng khi sử dụng bupivacaine ở bệnh nhân động kinh, tổn thương dẫn truyền cơ tim, chậm nhịp tim, sốc nặng, nhiễm độc digitalis. Bupivacaine cũng cần được sử dụng thận trọng đối với những bệnh nhân có suy giảm chức năng tim mạch do những đối tượng này có ít khả năng bù trừ các thay đổi chức năng liên quan đến sự kéo dài thời gian dẫn truyền nhĩ thất do thuốc.
Ở những bệnh nhân có hội chứng Stock-Adams hoặc hội chứng Wolff-Parkinson-White, cần đặc biệt thận trọng để tránh tiêm nhầm vào động-tĩnh mạch.
Thuốc gây tê nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân có bệnh lý thần kinh hoặc thần kinh-cơ trước đó, ví dụ bệnh nhược cơ. Thận trọng trong gây tê cột sống, chùm đuôi ngựa, ngoài màng cứng, khi có bệnh lý thần kinh trung ương nghiêm trọng, hoặc bệnh lý tủy sống, ví dụ viêm màng não, tắc nghẽn lưu thông dịch não tủy, xuất huyết nội sọ hoặc trong tủy sống, bướu, viêm tủy xám bại liệt, giang mai, lao, hoặc tổn thương ở tủy sống do di căn.
Bupivacaine được thải trừ chủ yếu bởi sự chuyển hóa ở gan và những thay đổi về chức năng gan có thể có ảnh hưởng đáng kể đến chuyển hóa của bupivacaine.
Bupivacaine có độ thanh thải phụ thuộc vào phần không gắn kết của nó và độ thanh thải chuyển hóa nội sinh. Do đó bupivacaine cần được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân có bệnh gan nặng.
Thận trọng khi sử dụng ở những bệnh nhân suy chức năng thận nặng do nhiễm toan và nồng độ protein huyết tương giảm thường gặp ở những bệnh nhân này có thể làm tăng nguy cơ nhiễm độc toàn thân. Bệnh nhân cường giáp cũng dễ nhiễm độc bupivacaine hơn.
Việc tiêm nhầm một liều nhỏ thuốc gây tê vào mạch máu hoặc khoang dưới màng nhện khi tiêm ở vùng cổ và đầu, như khi phong bế hậu nhãn cầu, răng và phong bế hạch sao, có thể gây ra tác dụng ngoại ý tương tự như nhiễm độc toàn thân được ghi nhận khi tiêm nhầm liều lớn vào mạch máu.
Thầy thuốc khi tiến hành phong bế hậu nhãn cầu cần lưu ý rằng đã có ghi nhận về hiện tượng trụy tim mạch và ngừng thở sau khi tiêm thuốc gây tê để phong bế hậu nhãn cầu. Trước khi phong bế hậu nhãn cầu, các thiết bị, thuốc men và nhân lực phải được chuẩn bị sẵn sàng giống như khi thực hiện các thủ thuật gây tê vùng khác. Trong một số hiếm trường hợp tiêm hậu nhãn cầu, có thể tiêm nhầm vào khoang dưới màng nhện gây mù tạm thời, trụy tim mạch, ngừng thở, co giật, v.v. Trường hợp này cần được chẩn đoán và xử trí nhanh chóng.
Nhịp tim chậm ở thai nhi thường xảy ra sau phong bế cạnh cổ tử cung khi dùng 1 số thuốc gây tê nhóm amide và có thể liên quan với sự nhiễm toan và hạ oxy máu ở thai nhi. Những nguy cơ khác có thể xảy ra là sinh non, nhiễm độc thai và thai lưu (xem Chống Chỉ Định).
Nên sử dụng thận trọng bupivacaine ở những bệnh nhân mẫn cảm với thuốc.
Cần đặc biệt thận trọng khi sử dụng dung dịch có adrenaline ở những bệnh nhân cao huyết áp nặng hoặc chưa được điều trị, nhiễm độc giáp chưa được kiểm soát tốt, bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ, ức chế cơ tim, thiểu năng tuần hoàn mạch máu não, bệnh tiểu đường tiến triển và bất kỳ bệnh lý nào khác cũng có thể trở nên trầm trọng hơn bởi tác dụng của adrenaline (xem Chống chỉ định). Adrenaline có thể gây cơn gây đau thắt ngực ở những bệnh nhân mắc bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ.
Dung dịch có adrenaline nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân rung thất, nhịp tiền rung, nhịp tim nhanh, nhồi máu cơ tim, trụy tuần hoàn do sử dụng phenothiazine và phì đại tiền liệt tuyến.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Tùy thuộc liều sử dụng, thuốc gây tê có thể có ảnh hưởng nhẹ lên chức năng tâm thần và phối hợp và có thể làm suy yếu tạm thời khả năng phối hợp và vận động.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: A
US FDA pregnancy category: C
Khả năng gây ung thư/ Đột biến/ Rối loạn khả năng sinh sản :
Những nghiên cứu dài hạn về hầu hết thuốc gây tê, kể cả bupivacaine, để đánh giá khả năng gây ung thư vẫn chưa được thực hiện. Chưa có những nghiên cứu chính thức về khả năng gây đột biến của thuốc. Ảnh hưởng lên khả năng sinh sản vẫn chưa được xác định.
Thời kỳ mang thai:
Sau khi gây tê ngoài màng cứng ở phụ nữ đang chuyển dạ, bupivacaine đi qua hàng rào nhau thai. Tuy nhiên, nồng độ thuốc tại tĩnh mạch rốn thấp hơn so với nồng độ thuốc trong tuần hoàn máu người mẹ.
Bupivacaine được sử dụng hiệu quả để giảm đau trong sản khoa và rất hiếm tác dụng ngoại ý xảy ra trong giai đoạn chuyển dạ hoặc lúc sanh. Nên kiểm tra nồng độ đường huyết ở trẻ sơ sinh sau khi gây tê vùng trong sản khoa.
Tính an toàn trong sử dụng bupivacaine ở phụ nữ có thai ngoại trừ giai đoạn chuyển dạ vẫn chưa được xác định. Mặc dù bupivacaine đã được sử dụng rộng rãi trong phẫu thuật ở phụ nữ có thai và chưa ghi nhận tác động có hại nào đối với mẹ hoặc bào thai, chưa có những nghiên cứu đầy đủ và có đối chứng ở phụ nữ có thai về tác động của bupivacaine trên sự phát triển bào thai. Do đó, cần sử dụng thận trọng trong thai kỳ hơn là trong giai đoạn chuyển dạ.
Adrenaline được sử dụng ở nhiều phụ nữ có thai và phụ nữ ở độ tuổi mang thai và chưa có bằng chứng về sự gia tăng tỷ lệ quái thai hoặc tác động có hại trực tiếp khác đối với thai nhi.
Việc dùng thêm adrenaline có thể làm giảm lưu lượng máu và tính co bóp của tử cung, đặc biệt sau khi tiêm nhầm vào mạch máu thai phụ.
Adrenaline có thể làm chậm giai đoạn 2 của quá trình chuyển dạ do ức chế sự co bóp tử cung.
Nên sử dụng dung dịch không có adrenaline trong suốt giai đoạn chuyển dạ để phong bế âm hộ.
Thời kỳ cho con bú:
Bupivacaine đi qua sữa mẹ. Lượng bupivacaine trong sữa người mẹ đang sử dụng bupivacaine đường tiêm hầu như không tích tụ đáng kể ở trẻ bú mẹ.
Ở nồng độ thuốc trong huyết thanh của mẹ lên đến 0,45 mcg/ml khi sử dụng bupivacain gây tê ngoài màng cứng trong trường hợp sanh thường, bupivacaine vẫn không được phát hiện trong sữa mẹ trong 24 giờ đầu sau khi sanh (mức phát hiện là 0,02 mcg/ml).
Khả năng xảy ra phản ứng dị ứng hoặc phản ứng đặc ứng do bupivacaine ở trẻ bú mẹ vẫn còn cần được xác định.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tác dụng ngoại ý do bupivacaine hiếm gặp trừ phi dùng quá liều, hấp thu nhanh hoặc tim nhầm vào mạch máu.
Tác dụng ngoại ý do bupivacaine tương tự các tác dụng ngoại ý được quan sát thấy ở các thuốc gây tê khác thuộc nhóm amide và liên quan nhiều đến hệ thần kinh trung ương và tim mạch. Nhìn chung, các phản ứng này có liên quan đến liều sử dụng và có thể do nồng độ thuốc trong huyết tương cao gây ra do quá liều hoặc do hấp thu nhanh, thải trừ chậm, thay đổi chuyển hóa, tiêm nhầm vào mạch máu, hoặc do mẫn cảm, phản ứng đặc ứng hoặc giảm dung nạp ở một số bệnh nhân.
Sau đây là những phản ứng thường được ghi nhận trong các phản ứng ngoại ý :
Hệ thần kinh trung ương :
Các biểu hiện trên thần kinh trung ương là kích thích và/ hoặc ức chế và có thể đặc trưng bởi choáng váng, bồn chồn, sợ hãi, thờ ơ, lú lẫn, chóng mặt, ngủ gà ngủ gật, ù tai, hoa mắt, nôn mửa, cảm giác nóng, lạnh hoặc tê, co rút, run, co giật, mất tri giác, ức chế hô hấp và/hoặc ngừng hô hấp, kích động, nuốt khó và nói lắp.
Biểu hiện kích thích có thể xảy ra rất nhanh hoặc không xảy ra, trong trường hợp này, biểu hiện đầu tiên của sự nhiễm độc có thể là lơ mơ rồi mất tri giác và ngừng hô hấp.
Trạng thái lơ mơ khi sử dụng bupivacaine thường là dấu hiệu sớm cảnh báo nồng độ thuốc cao trong máu và có thể xảy ra do hấp thu nhanh. Ở bệnh nhân mất tri giác, cần theo dõi dấu hiệu suy tuần hoàn, vì tác động trên thần kinh trung ương có thể không rõ ràng như là 1 biểu hiện sớm của sự nhiễm độc trong một số trường hợp có thể tiến triển đến co giật và cuối cùng là ức chế và/hoặc ngừng hô hấp. Cần có thiết bị hồi sức và thuốc chống co giật để xử trí những bệnh nhân này (xem phần Quá Liều).
Hệ tim mạch :
Biểu hiện trên tim mạch do tiêm nhầm vào mạch máu thường là ức chế và đặc trưng bởi nhịp tim chậm, hạ huyết áp, trụy tim mạch, có thể dẫn đến ngừng tim.
Huyết động học :
Gây tê vùng có thể dẫn đến hạ huyết áp ở người mẹ.
Dị ứng :
Phản ứng dị ứng được đặc trưng bởi tổn thương da, mề đay, phù nề hoặc phản ứng phản vệ.
Dị ứng với thuốc gây tê nhóm amide rất hiếm gặp. Sodium metabisulfit có trong dung dịch chứa adrenaline có thể gây phản ứng dị ứng. Nếu phản ứng dị ứng xảy ra, có thể xử trí bằng các biện pháp thường qui.
Việc phát hiện mẫn cảm bằng test da không đáng tin cậy.
Thần kinh :
Tần suất các phản ứng ngoại ý do sử dụng thuốc gây tê có liên quan đến tổng liều sử dụng và cũng phụ thuộc vào từng loại thuốc, đường sử dụng và tình trạng sinh lý của bệnh nhân.
Khi phong bế ngoài màng cứng đoạn thắt lưng hoặc chùm đuôi ngựa, tình trạng đặt nhầm catheter vào khoang dưới màng nhện đôi khi xảy ra. Các tác dụng ngoại ý xảy ra sau đó có thể phụ thuộc một phần vào lượng thuốc được tiêm vào dưới màng cứng.
Các tác dụng ngoại ý này có thể bao gồm sự phong bế tủy sống ở mức độ khác nhau (kể cả phong bế hoàn toàn tủy sống), hạ huyết áp thứ phát do phong bế tủy sống, mất khả năng kiểm soát bàng quang và ruột, mất cảm giác vùng tầng sinh môn, và khả năng sinh dục.
Sự suy yếu kéo dài thần kinh vận động, cảm giác và/hoặc tự chủ (kiểm soát cơ vòng) của một số đoạn tủy sống thấp với khả năng hồi phục chậm (nhiều tháng), hoặc không hoàn toàn đã được ghi nhận ở một số hiếm trường hợp. Đau lưng và nhức đầu cũng được lưu ý sau khi dùng những thủ thuật này.
Các tác động do quá liều và tiêm nhầm vào mạch máu có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương và/hoặc hệ tim mạch (xem Quá Liều). Tiêm nhầm liều cao thuốc gây tê vào khoang dưới màng nhện có thể dẫn đến ức chế thần kinh trung ương, ngừng hô hấp và trụy tim mạch.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Xem hướng dẫn về liều lượng và cách xử trí quá liều.
Cần xử trí kiên trì.
Dùng dung dịch lipid (intralipid).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Thuốc chống loạn nhịp :
Thuốc gây tê nhóm amide, như bupivacaine, nên được dùng thận trọng ở những bệnh nhân đang dùng thuốc chống loạn nhịp, ví dụ mexiletine, do làm tăng tác động trên tim.
Các tương tác thuốc có thể xảy ra khi sử dụng dung dịch có adrenaline :
Các thuốc tác động trên hệ thống thần kinh trung ương :
Dung dịch có adrenaline nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân đang sử dụng các phenothiazine hoặc các chất ức chế men monoamine oxidase (MAO) vì tăng huyết áp trầm trọng kéo dài có thể xảy ra. Tác dụng của adrenaline có thể gia tăng bởi một số thuốc kháng histamine và hormone tuyến giáp (xem Thận Trọng). Các phenothiazine và butyrophenone có thể làm giảm hoặc mất tác động tăng huyết áp của adrenaline.
Các thuốc hỗ trợ chuyển dạ loại ergot :
Không nên sử dụng đồng thời dung dịch có adrenaline và các thuốc hỗ trợ chuyển dạ loại ergot vì có thể tương tác gây ra tăng huyết áp nặng, kéo dài và di chứng.
Thuốc ức chế thần kinh giao cảm :
Dung dịch có adrenaline phải được sử dụng thận trong khi có dùng thuốc phong bế thần kinh giao cảm (ví dụ: guanethidine, debrisoquine, bethanidine).
Thuốc chẹn bêta : Các thuốc chẹn bêta không chọn lọc trên tim như là propranolol làm tăng tác động tăng áp của adrenaline, có thể dẫn đến cao huyết áp trầm trọng và chậm nhịp tim.
Thuốc mê dạng hít :
Rối loạn nhịp tim nặng có thể xảy ra nếu chế phẩm có adrenaline được sử dụng ở những bệnh nhân đang dùng hoặc đã dùng chloroform, halothane, cyclopropane, triclorethylene hoặc các hợp chất halogen khác.
Glycoside trợ tim :
Dung dịch có adrenaline có thể tương tác với các glycoside trợ tim đưa đến rối loạn nhịp tim.
Quinidine :
Dung dịch có adrenaline có thể tương tác với quinidine gây rối loạn nhịp tim.
Thuốc hạ đường huyết :
Tăng đường huyết do adrenaline có thể dẫn đến mất kiểm soát đường huyết ở những bệnh nhân đái tháo đường được điều trị với các thuốc hạ đường huyết.
4.9 Quá liều và xử trí:
Trường hợp cấp cứu do sử dụng thuốc gây tê thường là do nồng độ thuốc cao trong huyết tương hoặc do tiêm nhầm thuốc gây tê vào khoang dưới màng nhện (xem Tác Dụng Ngoại Ý và Thận Trọng Lúc Dùng).
Khi tiêm nhầm thuốc gây tê vào tĩnh mạch, tác dụng gây độc sẽ biểu hiện rõ trong vòng 1-3 phút. Khi sử dụng quá liều, nồng độ đỉnh huyết tương có thể không đạt được trong vòng 20-30 phút, tùy thuộc vị trí tiêm và dấu hiệu nhiễm độc sẽ xuất hiện chậm hơn. Phản ứng nhiễm độc chủ yếu có liên quan đến hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch.
Triệu chứng nhiễm độc cấp :
Nhiễm độc hệ thần kinh trung ương là đáp ứng tăng dần với triệu chứng và dấu hiệu ngày càng nặng. Các triệu chứng đầu tiên là dị cảm quanh miệng, tê lưỡi, choáng váng, tăng thính lực, ù tai. Rối loạn thị giác và run cơ nặng hơn và xuất hiện trước khi bắt đầu cơn co giật toàn thân. Không được hiểu lầm các dấu hiệu này là biểu hiện của rối loạn hành vi. Có thể tiếp theo là mất tri thức và cơn động kinh lớn. Các biểu hiện này có thể kéo dài từ vài giây đến nhiều phút. Giảm oxy hít vào và tăng carbon dioxit máu xảy ra nhanh sau cơn co giật do tăng hoạt động cơ, cùng với trở ngại sự hô hấp bình thường và tổn thương đường hô hấp. Trường hợp nặng có thể ngừng thở. Nhiễm toan làm tăng độc tính của thuốc gây tê. Sự hồi phục là nhờ tái phân bố lại thuốc gây tê xuất phát từ hệ thần kinh trung ương và quá trình chuyển hóa. Có thể hồi phục nhanh trừ khi đã tiêm lượng lớn thuốc gây tê.
Nhiễm độc tim mạch là biểu hiện của trường hợp nặng hơn. Hạ huyết áp, chậm nhịp tim, rối loạn nhịp tim và thậm chí ngừng tim có thể xảy ra do nồng độ toàn thân của thuốc gây tê cao.
Dấu hiệu nhiễm độc hệ tim mạch thường xảy ra sau các dấu hiệu nhiễm độc hệ thần kinh trung ương, trừ khi bệnh nhân đang dùng thuốc gây mê hoặc thuốc an thần mạnh như benzodiazepine hoặc barbiturate.
Xử trí quá liều :
Nếu các dấu hiệu nhiễm độc toàn thân cấp tính xuất hiện, phải ngừng tiêm thuốc gây tê ngay lập tức.
Nếu co giật xảy ra, cần lập tức duy trì đường thở và thông khí hỗ trợ hoặc thông khí kiểm soát với oxy, bằng mặt nạ qua hệ thống dẫn khí áp lực dương. Cần đánh giá tình trạng tuần hoàn và luôn ghi nhớ rằng các thuốc được sử dụng để chống co giật có tác động ức chế tuần hoàn khi tiêm tĩnh mạch. Nếu co giật kéo dài mặc dù đã hỗ trợ hô hấp đầy đủ, và nếu tình trạng tuần hoàn cho phép, có thể tiêm tĩnh mạch các thuốc chống co giật thích hợp như barbiturate tác dụng rất nhanh (chẳng hạn như thiopentone) hoặc benzodiazepine (chẳng hạn như diazepam). Thầy thuốc nên tìm hiểu về các thuốc này trước khi sử dụng thuốc gây tê.
Suxamethonium sẽ làm ngưng nhanh co giật cơ nhưng đòi hỏi luồn ống vào khí quản và thông khí có kiểm soát, và chỉ nên được sử dụng bởi những người đã quen thuộc với các tiến trình này.
Nếu rung thất hoặc ngừng tim xảy ra, phải tiến hành điều trị hồi sức tim mạch có hiệu quả và duy trì một thời gian đủ lâu, nếu cần thiết. Thở oxy và thông khí tối ưu, hỗ trợ tuần hoàn cũng như điều trị nhiễm toan có tầm quan trọng quyết định.
Để làm mất tác dụng tăng huyết áp của adrenaline, dùng thuốc giãn mạch tác dụng nhanh như là nitrate hoặc thuốc ức chế α.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Bupivacaine, cũng như các thuốc gây tê khác, gây ức chế có hồi phục dẫn truyền xung động dọc theo sợi thần kinh bằng cách ngăn cản dòng ion natri đi vào qua màng tế bào thần kinh. Thuốc gây tê nhóm amide được nghĩ là có tác động tại kênh natri của màng tế bào thần kinh.
Thuốc gây tê có tác động tương tự trên màng tế bào có tính kích thích ở não và cơ tim. Nếu lượng thuốc quá mức đi vào tuần hoàn hệ thống nhanh, triệu chứng và dấu hiệu nhiễm độc sẽ xuất hiện, xuất phát chủ yếu từ hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch. Nhiễm độc hệ thần kinh trung ương thường xuất hiện trước tác động trên tim mạch do xảy ra ở nồng độ huyết tương thấp hơn. Tác động trực tiếp của thuốc gây tê trên tim bao gồm chậm dẫn truyền, ức chế co bóp cơ tim và cuối cùng là ngừng tim.
Tác động gián tiếp trên tim mạch, ví dụ tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim chậm, có thể xảy ra sau khi tiêm ngoài màng cứng hoặc tiêm tủy sống tùy theo mức độ ức chế giao cảm xảy ra đồng thời.
Adrenaline tác động trên cả thụ thể giao cảm bêta và alpha của mô được phân bố dây thần kinh giao cảm, trừ tuyến mồ hôi và động mạch ở mặt. Adrenaline là chất hoạt hóa thụ thể alpha quan trọng nhất. Adrenaline kích thích tim làm tăng lưu lượng tim : tăng huyết áp tâm thu ; giảm huyết áp tâm trương ; giãn cơ phế quản bị co thắt và huy động glycogen gan, dẫn đến tăng đường huyết và có thể gây glucose niệu.
Cơ chế tác dụng:
Cũng như các thuốc gây tê lidocaine, bupivacaine gây ức chế có hồi phục dẫn truyền xung động dọc theo sợi thần kinh bằng cách ngăn cản dòng ion natri đi vào qua màng tế bào thần kinh. (Các xung được gọi là điện thế hoạt động, phụ thuộc rất nhiều vào quá trình khử cực màng do dòng ion natri đi vào tế bào thần kinh thông qua các kênh natri). Bupivacaine đi qua màng tế bào thần kinh và phát huy tác dụng gây tê thông qua việc phong tỏa các kênh natri này. Khi ion natri không đi qua được kênh, bupivacaine sẽ ổn định màng ở trạng thái nghỉ và do đó ngăn ngừa sự dẫn truyền thần kinh.
Về mặt lâm sàng, thứ tự mất chức năng thần kinh như sau: (1) đau, (2) nhiệt độ, (3) xúc giác, (4) cảm giác vị trí cơ thể và (5) trương lực cơ xương.
Mặc dù đã được xác định rõ cơ chế chính của bupivacaine là thông qua việc chặn kênh natri, nhưng các tác dụng giảm đau bổ sung của bupivacaine còn được cho là do liên kết với thụ thể prostaglandin E2, phân nhóm EP1 (PGE2EP1), ức chế sản xuất prostaglandin, do đó làm giảm đau hạ sốt, giảm viêm.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Bupivacaine là thuốc gây tê nhóm amide, có tác dụng kéo dài, có liên quan về mặt hóa học với lignocaine và mepivacaine. Tác động khoảng gấp 4 lần so với lignocaine.Ở nồng độ 5 mg/ml thuốc có thời gian tác dụng dài, từ 2-5 giờ sau khi tiêm ngoài màng cứng với liều duy nhất và đến 12 giờ sau khi phong bế dây thần kinh ngoại biên. Thuốc khởi phát tác dụng phong bế chậm hơn so với lignocaine, đặc biệt khi gây tê dây thần kinh lớn.
Khi được sử dụng ở nồng độ thấp hơn (≤2,5 mg/ml), tác dụng trên sợi thần kinh vận động sẽ ít hơn và thời gian tác dụng ngắn hơn. Tuy nhiên, nồng độ thấp có thể được sử dụng thích hợp để giảm đau kéo dài, ví dụ khi sanh hoặc hậu phẫu.
Nồng độ bupivacaine trong huyết tương phụ thuộc liều sử dụng, đường sử dụng và tình trạng mạch máu ở vị trí tiêm. Sự hấp thu có thể chậm hơn bởi adrenaline.
Ở người, sau khi tiêm dung dịch Marcain để phong bế thần kinh ngoại biên, ngoài màng cứng hoặc chùm đuôi ngựa, nồng độ đỉnh của bupivacaine trong huyết tương đạt được trong vòng 30-45 phút, sau đó giảm đến nồng độ không đáng kể trong 3-6 giờ kế tiếp.
Phong bế gian sườn cho nồng độ đỉnh trong huyết tương cao nhất do hấp thu nhanh (nồng độ tối đa trong huyết tương khoảng 1-4 mg/l sau một liều 400 mg), trong khi tiêm dưới da bụng sẽ cho nồng độ thuốc trong huyết tương thấp nhất. Phong bế đám rối thần kinh lớn và phong bế ngoài màng cứng cho nồng độ thuốc trong huyết tương ở mức trung gian giữa 2 nồng độ nói trên. Ở trẻ em, sự hấp thu nhanh (nồng độ thuốc trong huyết tương trong khoảng 1-1,5 mg/l sau một liều 3 mg/kg) được ghi nhận khi phong bế chùm đuôi ngựa. Sự hấp thu có thể chậm hơn bởi adrenaline.
Bupivacaine có độ thanh thải huyết tương toàn phần 0,58 l/ phút, thể tích phân bố ở trạng thái hằng định là 73 lít, thời gian bán hủy 2,7 giờ và tỉ lệ chiết xuất ở mô gan là 0,40 sau khi tiêm tĩnh mạch thực nghiệm ở người lớn. Thời gian bán hủy pha cuối kéo dài khoảng 8 giờ ở trẻ sơ sinh. Ở trẻ lớn hơn 3 tháng tuổi, thời gian bán hủy tương tự ở người lớn. Bupivacaine gắn kết chủ yếu với α1- acid glycoprotein trong huyết tương, với tỷ lệ gắn kết trong huyết tương là 96%.
Sự hấp thu bupivacaine từ khoang ngoài màng cứng xảy ra theo 2 giai đoạn ; giai đoạn 1 trong khoảng 7 phút và giai đoạn 2 trong 6 giờ. Sự hấp thu chậm của thuốc vào máu làm hạn chế tốc độ thải trừ bupivacaine, điều này giải thích vì sao thời gian bán hủy sau khi tiêm ngoài màng cứng dài hơn sau khi tiêm tĩnh mạch.
Sự gia tăng α1-acid glycoprotein, xảy ra sau các phẫu thuật lớn, có thể gây tăng nồng độ bupivacaine huyết tương toàn phần. Phần thuốc tự do vẫn không đổi. Điều này giải thích vì sao nồng độ huyết tương toàn phần ở trên ngưỡng gây độc 2,6-3,0 mg/l được dung nạp tốt trong trường hợp này.
Bupivacaine được bài tiết qua nước tiểu chủ yếu dưới dạng chuyển hóa và 6% ở dạng không đổi. Sau khi tiêm ngoài màng cứng, lượng bupivacaine ở dạng không đổi được tìm thấy trong nước tiểu khoảng 0,2%, pipecolylxylidine (PPX) khoảng 1% và 4-hydroxy-bupivacaine khoảng 0,1% liều đã được sử dụng.
Các thông số dược động học có thể thay đổi đáng kể bởi 1 số yếu tố do bệnh gan và thận, đường sử dụng, tuổi bệnh nhân và thuốc được sử dụng đồng thời.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Sodium Cloride, Nước cất pha tiêm.
6.2. Tương kỵ :
Vì không có các nghiên cứu về tương kỵ, không nên trộn thuốc này với các thuốc khác.
6.3. Bảo quản:
Dạng ống thủy tinh có hạn dùng 3 năm khi bảo quản dưới 30°C.
Dạng lọ Top Hat đơn liều có hạn dùng 3 năm khi được bảo quản dưới 25°C.
Dạng ống nhựa Polyamp Duofit có hạn dùng 2 năm khi bảo quản dưới 30°C.
Dạng túi nhựa Polybag có hạn dùng 30 tháng khi bảo quản dưới 30°C.
Dung dịch có adrenaline cần được bảo quản tránh ánh sáng.
Thuốc gây tê phản ứng với một số kim loại có thể gây ra sự phóng thích các ion tương ứng, mà nếu tiêm vào, có thể gây nên những kích ứng nặng tại chỗ tiêm. Cần thận trọng để tránh sự tiếp xúc kéo dài giữa Marcain và bề mặt kim loại như bồn chứa, cannula, bơm tiêm có kim loại.
Cần loại bỏ dung dịch bị đổi màu và lượng thuốc còn dư.
Không nên tái hấp tiệt trùng ống Polyamp và dung dịch có adrenaline. Nếu cần, có thể tiệt trùng bề mặt với isopropyl alcohol (91%) hoặc ethanol 70% tinh khiết không pha loãng. Không nên ngâm ống thuốc hoặc lọ thuốc trong nước.
6.4. Thông tin khác :
Bupivacaine được xếp loại tác nhân ổn định màng tế bào và là thuốc gây tê thuộc nhóm amide. Dung dịch Marcain có thể chứa hoặc không chứa adrenaline.
Dung dịch tiêm Marcain là 1 dung dịch vô khuẩn, đẳng trương, gồm bupivacaine hydrochloride trong nước dùng để tiêm theo tiêu chuẩn của dược điển Anh. Độ pH của dung dịch được điều chỉnh bằng sodium hydroxide hoặc hydrochloric acid để ổn định trong khoảng 4,0-6,5 trong thời hạn sử dụng. Dung dịch có chứa chất chống oxy hóa.
Dung dịch tiêm Marcain có adrenaline là dung dịch vô khuẩn, đẳng trương, gồm bupivacaine hydrochloride trong nước dùng để pha tiêm theo tiêu chuẩn dược điển Anh. Độ pH của dung dịch được điều chỉnh bằng sodium hydroxide hoặc hydrochloride acid để ổn định trong khoảng 3,3-5,0 trong thời hạn sử dụng.
Dung dịch Marcain không chứa chất kháng khuẩn, chỉ nên sử dụng 1 lần và bỏ phần thuốc thừa.
6.5 Tài liệu tham khảo:
HDSD Thuốc Marcain do Troikaa Pharmaceuticals Ltd. sản xuất (2013).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM