Cấu tạo hóa học Adalimumab (Adalimumab chemical)

Adalimumab – (Hoạt chất)

Thông tin chung về hoạt chất, dược chất Adalimumab

Adalimumab là một loại thuốc ngăn chặn yếu tố hoại tử khối u (TNF) và làm giảm tác dụng của một chất trong cơ thể có thể gây ra tình trạng viêm. Adalimumab được sử dụng để điều trị một số bệnh liên quan tới viêm do hệ miễn dịch tự gây ra (Gọi là bệnh tự miễn) như viêm khớp dạng thấp, vẩy nến, viêm cột sống dính khớp, bệnh Crohn, viêm khớp vô căn ở trẻ vị thành niên, viêm loét đại tràng và viêm màng bồ đào…. Dưới đây là thông tin chung của hoạt chất, thuốc Adalimumab (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…):

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Adalimumab

Phân loại: Thuốc dị ứng và hệ miễn dịch > Thuốc điều hòa miễn dịch > Thuốc ức chế TNF alfa > Điều trị viêm khớp dạng thấp

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine).

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L04AB04.

Biệt dược gốc: Humira

Biệt dược, thuốc Generic: Hiện chưa có thuốc generic, thuốc tương đương tại Việt Nam.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm 10mg/0,1ml. Đóng trong bơm tiêm đóng sẵn thuốc đơn liều 0,2mL; 0,4mL; 0,8mL.

Hình ảnh cấu trúc hóa học của dược chất:

Cấu tạo hóa học Adalimumab (Adalimumab chemical)

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

3.1. Adalimumab là thuốc gì?

Adalimumab là một loại thuốc ngăn chặn yếu tố hoại tử khối u (TNF) và làm giảm tác dụng của một chất trong cơ thể có thể gây ra tình trạng viêm. Adalimumab được sử dụng để điều trị một số bệnh liên quan tới viêm do hệ miễn dịch tự gây ra (Gọi là bệnh tự miễn) như viêm khớp dạng thấp, vẩy nến, viêm cột sống dính khớp, bệnh Crohn, viêm khớp vô căn ở trẻ vị thành niên, viêm loét đại tràng và viêm màng bồ đào…

3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:

Adalimumab được một số bác sỹ gọi là thuốc sinh học, vậy thuốc sinh học là gì, thuốc sinh học khác gì với thuốc thường?

Thuốc sinh học là một loại thuốc được chế tạo từ cơ thể sống, ví dụ có thể được tạo ra từ protein, đường, DNA, tế bào hoặc mô sống. Nguồn chế tạo có thể là con người, động vật hoặc vi sinh vật (như vi khuẩn hoặc vi rút).

Thuốc sinh học kích hoạt một số protein hoặc tế bào nhất định trong hệ thống miễn dịch để tạo ra phản ứng cụ thể đối với các mục tiêu, trong khi nhiều loại thuốc thông thường sẽ kích hoạt toàn bộ hệ thống miễn dịch hoặc theo một cơ chế rộng hơn.

Thuốc hóa học là những phân tử nhỏ được tạo thành từ một số lượng nguyên tử hạn chế. Một loại thuốc hóa học có thể có hàng chục nguyên tử kết hợp với nhau. Trong khi một thuốc sinh học có thể có hàng nghìn nguyên tử, khiến chúng trở nên phức tạp hơn, đó cũng là lí do vì sao mà trong công thức cấu tạo của thuốc sinh học là các hình vẽ 3D phức tạp và không đơn giản như cấu trúc của các thuốc thông thường. Bởi vì thuốc sinh học rất phức tạp nên khó chế tạo và đắt hơn nhiều so với thuốc thông thường.

Adalimumab hoạt động như thế nào?

Nguyên nhân chung của các bệnh viêm ví dụ như Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthritis) hay Viêm đại tràng (Ulcerative Colitis) là do các phản ứng viêm không kiểm soát, ảnh hưởng xấu đến các tế bào/mô khoẻ mạnh. Kháng thể trong adalimumab được thiết kế để gắn vào Tumour Necrosis Factor-alpha (TNF-alpha), là 1 loại protein kích thích quá trình viêm trong cơ thể. Khi đó TNF-alpha sẽ bị làm bất hoạt, đồng nghĩa với việc giảm các phản ứng viêm và triệu chứng của bệnh.

Có các thuốc sinh học nào khác để điều trị viêm khớp dạng thấp (RA)?

Hiện nay ngoài Humira (Adalimumab), còn có các thuốc sau đã được phê duyệt để điều trị viêm khớp dạng thấp và đã được cấp phép lưu hành ở Việt Nam, hầu hết đều là thuốc phát minh bao gồm: Golimumab (Simponi); Tocilizumab (Actemra); Infliximab (Remicade); Etanercept (Enbrel); Rituximab (Mabthera)….

Adalimumab có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?

Adalimumab, tính tới năm 2024 thuốc này có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam. Tuy nhiên do giá thành cao và thường điều trị các bệnh ít gặp, nên bảo hiểm y tế chỉ thanh toán 50% giá trị thuốc, phần còn lại người bệnh phải thanh toán.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Adalimumab thường được chỉ định để điều trị (Có thể phối hợp với một số loại thuốc khác):

Viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp tự phát tuổi thanh thiếu niên

Viêm đa khớp tự phát tuổi thanh thiếu niên

Viêm khớp thể viêm nhiều điểm bám tận

Viêm khớp cột sống thể trục: Viêm cột sống dính khớp (AS).

Viêm khớp vảy nến.

Vảy nến, vảy nến thể mảng ở trẻ em.

Viêm tuyến mồ hôi mưng mủ (HS).

Bệnh Crohn.

Bệnh viêm loét đại tràng.

Viêm màng bồ đào.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Adalimumab được tiêm dưới da.

Điều trị bằng Adalimumab nên được bắt đầu và theo dõi bởi bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm trong việc chẩn đoán và điều trị những tình trạng theo đó Adalimumab được chỉ định. Bác sĩ nhãn khoa được khuyên nên tham vấn với chuyên gia phù hợp trước khi bắt đầu điều trị với Adalimumab. Bệnh nhân điều trị với Adalimumab nên được cung cấp thẻ cảnh báo đặc biệt.

Sau khi được đào tạo thích hợp về kỹ thuật tiêm, bệnh nhân có thể tự tiêm Adalimumab nếu được bác sĩ của họ xác nhận là phù hợp và với theo dõi y khoa khi cần thiết.

Trong khi điều trị với Adalimumab, các trị liệu đồng thời khác (ví dụ corticosteroid và/hoặc các thuốc ức chế miễn dịch) nên được tối ưu hóa.

Liều dùng:

*Người lớn:

Viêm khớp dạng thấp

Liều khuyến cáo của Adalimumab ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp ở người trưởng thành là liều đơn 40 mg adalimumab tiêm dưới da mỗi 2 tuần. Methotrexate nên được tiếp tục sử dụng trong quá trình điều trị với Adalimumab.

Các glucocorticoid, salicylate, thuốc kháng viêm không steroid hoặc các thuốc giảm đau có thể được tiếp tục trong khi điều trị bằng Adalimumab.

Viêm cột sống dính khớp, viêm khớp cột sống thể trục không có bằng chứng hình ảnh học về viêm cột sống dính khớp và viêm khớp vảy nến

Liều Adalimumab khuyến cáo cho bệnh nhân viêm cột sống dính khớp, viêm khớp cột sống thể trục không có bằng chứng hình ảnh học của viêm cột sống dính khớp và bệnh nhân viêm khớp vảy nến là liều đơn 40 mg adalimumab tiêm dưới da mỗi 2 tuần.

Những dữ liệu hiện có cho thấy đáp ứng lâm sàng thường đạt được sau 12 tuần điều trị. Việc tiếp tục điều trị nên được xem xét lại ở các bệnh nhân không đáp ứng trong khoảng thời gian trên.

Vảy nến

Liều khuyến cáo của Adalimumab ở bệnh nhân trưởng thành là liều khởi đầu 80 mg tiêm dưới da, tiếp theo là 40 mg tiêm dưới da mỗi 2 tuần bắt đầu 1 tuần sau liều đầu tiên.

Việc tiếp tục điều trị quá 16 tuần nên được xem xét lại một cách cẩn thận với những bệnh nhân không đáp ứng trong khoảng thời gian nói trên.

Ở bệnh nhân đáp ứng không đầy đủ sau 16 tuần có thể được hưởng lợi từ việc tăng tần suất liều lên 40 mg mỗi tuần. Lợi ích và nguy cơ của việc tiếp tục điều trị bằng Adalimumab mỗi tuần nên được xem xét lại một cách cẩn thận ở những bệnh nhân đáp ứng không đủ sau khi tăng tần suất liều. Nếu đáp ứng đầy đủ đạt được sau khi tăng tần suất liều, có thể giảm liều thành 40 mg mỗi 2 tuần.

Viêm tuyến mồ hôi mưng mủ

Liều được khuyến cáo cho liệu trình điều trị với Adalimumab ở bệnh nhân trưởng thành bị viêm tuyến mồ hôi mưng mủ là 160 mg vào Ngày 1 (4 liều 40 mg tiêm vào một ngày hoặc hai liều 40 mg mỗi ngày trong vòng hai ngày liên tiếp), theo sau bởi liều 80 mg 2 tuần sau vào Ngày 15 (2 liều 40 mg tiêm trong một ngày). Hai tuần sau (Ngày 29) tiếp tục với một liều 40 mg mỗi tuần. Kháng sinh có thể được tiếp tục dùng trong khi điều trị bằng Adalimumab nếu cần thiết. Bệnh nhân được khuyến cáo nên sử dụng dung dịch sát khuẩn ngoài da trên vùng da bị viêm tuyến mồ hôi mưng mủ hàng ngày trong quá trình điều trị với Adalimumab.

Việc tiếp tục điều trị quá 12 tuần nên được xem xét lại một cách cẩn thận ở bệnh nhân không có sự cải thiện trong khoảng thời gian này.

Nếu việc điều trị cần gián đoạn, Adalimumab liều 40 mg mỗi tuần có thể được sử dụng lại.

Lợi ích và nguy cơ của liệu trình điều trị lâu dài liên tục nên được định kỳ đánh giá lại.

Bệnh Crohn

Liều điều trị ban đầu của Adalimumab được khuyến cáo cho bệnh nhân trưởng thành bị bệnh Crohn hoạt động mức độ trung bình và nặng là 80 mg tại Tuần 0, tiếp tục với 40 mg ở Tuần 2. Trong trường hợp cần một đáp ứng nhanh hơn với việc điều trị, liệu trình 160 mg ở Tuần 0 (được sử dụng 4 mũi tiêm trong một ngày hoặc hai mũi tiêm mỗi ngày trong hai ngày liên tiếp), 80 mg ở Tuần 2, có thể được sử dụng với nhận thức rõ ràng là nguy cơ các biến cố bất lợi là cao hơn trong quá trình điều trị ban đầu.

Sau liều điều trị ban đầu, liều được khuyến cáo là 40 mg mỗi 2 tuần tiêm dưới da. Cách khác, nếu bệnh nhân đã ngưng điều trị với Adalimumab và các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh tái xuất hiện, Adalimumab có thể được sử dụng lại. Có ít kinh nghiệm trong việc sử dụng lại Adalimumab sau hơn 8 tuần kể từ liều trước đó.

Khi điều trị duy trì, corticosteroid có thể được giảm liều phù hợp với các hướng dẫn thực hành lâm sàng.

Một số bệnh nhân có giảm đáp ứng có thể được hưởng lợi từ việc tăng tần suất liều thành 40 mg Adalimumab mỗi tuần.

Một số bệnh nhân không đáp ứng sau Tuần 4 có thể được hưởng lợi từ việc điều trị duy trì tiếp tục cho tới Tuần 12. Việc tiếp tục điều trị nên được xem xét lại một cách cẩn thận ở bệnh nhân không đáp ứng trong khoảng thời gian này.

Viêm loét đại tràng

Liều điều trị ban đầu của Adalimumab được khuyến cáo cho bệnh nhân trưởng thành có bệnh viêm loét đại tràng mức độ trung bình và nặng là 160 mg ở Tuần 0 (liều có thể được sử dụng thành 4 mũi tiêm trong một ngày hoặc hai mũi tiêm mỗi ngày trong 2 ngày liên tiếp) và 80 mg ở Tuần 2. Sau liều điều trị ban đầu, liều được khuyến cáo là 40 mg mỗi hai tuần tiêm dưới da.

Trong khi điều trị duy trì, corticosteroid có thể được giảm liều tương thích với các hướng dẫn thực hành lâm sàng.

Một số bệnh nhân có giảm đáp ứng có thể được hưởng lợi từ việc tăng tần suất liều thành 40 mg Adalimumab mỗi tuần.

Những dữ liệu hiện có cho thấy đáp ứng lâm sàng thường đạt được trong vòng 2-8 tuần điều trị. Việc điều trị với Adalimumab không nên được tiếp tục ở những bệnh không không đáp ứng trong vòng thời gian này.

Viêm màng bồ đào

Liều khuyến cáo của Adalimumab cho bệnh nhân trưởng thành bị viêm màng mạch nho là liều khởi đầu với 80 mg, tiếp tục với liều 40 mg mỗi 2 tuần bắt đầu một tuần sau liều đầu tiên. Kinh nghiệm về việc bắt đầu đơn trị với Adalimumab còn hạn chế. Điều trị với Adalimumab có thể được bắt đầu bằng việc kết hợp với corticosteroid và/hoặc với chất điều hòa miễn dịch không sinh học khác. Corticosteroid dùng đồng thời có thể được giảm liều tương thích với các hướng dẫn thực hành lâm sàng từ hai tuần sau khi bắt đầu điều trị với Adalimumab.

Việc đánh giá lợi ích và nguy cơ của việc tiếp tục điều trị dài hạn được khuyến cáo thực hiện mỗi năm.

*Người cao tuổi: Không cần hiệu chỉnh liều.

*Suy giảm chức năng gan và/hoặc thận: Adalimumab chưa được nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân này. Chưa có khuyến cáo nào về liều được thiết lập.

*Trẻ em

Viêm khớp tự phát tuổi thiếu niên

Viêm đa khớp tự phát tuổi thiếu niên từ 2 đến 12 tuổi: Liều Adalimumab khuyến cáo cho bệnh nhân viêm đa khớp tự phát thiếu niên, tuổi từ 2-12, là 24 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể cho đến liều đơn tối đa là 20 mg adalimumab (cho bệnh nhân từ 2-4 tuổi), 40 mg adalimumab (cho bệnh nhân từ 4-12 tuổi) mỗi 2 tuần, tiêm dưới da.

Bệnh nhân từ 13 tuổi, dùng liều 40 mg mỗi hai tuần, không quan tâm đến diện tích bề mặt cơ thể.

Viêm khớp thể viêm nhiều điểm bám tận:

Liều Adalimumab được khuyến cáo cho bệnh nhân viêm khớp thể viêm nhiều điểm bám tận từ 6 tuổi trở lên là 24 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể cho đến liều đơn tối đa là 40 mg adalimumab mỗi hai tuần tiêm dưới da. Thể tích tiêm được lựa chọn dựa trên chiều cao và cân nặng của người bệnh (bảng 22).

Adalimumab chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân viêm khớp thể viêm nhiều điểm bám tận nhỏ hơn 6 tuổi.

Vảy nến thể mảng trẻ em

Liều Adalimumab được khuyến cáo là 0,8 mg/kg cân nặng (tối đa 40 mg mỗi liều) tiêm dưới da mỗi tuần cho hai liều đầu tiên và mỗi hai tuần sau đó. Việc tiếp tục điều trị hơn 16 tuần nên được xem xét một cách cẩn thận ở bệnh nhân không đáp ứng trong khoảng thời gian này.

Nếu việc tái điều trị với Adalimumab được chỉ định, nên tuân thủ hướng dẫn nêu trên về liều và thời gian điều trị.

Sự an toàn của Adalimumab ở bệnh nhân nhi có vảy nến thể mảng đã được đánh giá trong khoảng thời gian trung bình 13 tháng.

Việc dùng Adalimumab cho chỉ định này ở bệnh nhân nhỏ hơn 4 tuổi là không phù hợp.

Bệnh Crohn trẻ em

Bệnh Crohn ở trẻ em dưới 40 kg:

Liều ban đầu Adalimumab được khuyến cáo cho đối tượng trẻ em với bệnh Crohn hoạt động thể trung bình tới nặng là 40 mg ở Tuần 0, tiếp tục với 20 mg ở Tuần 2. Trường hợp cần có đáp ứng điều trị nhanh hơn, liệu trình 80 mg Tuần 0 (có thể dùng hai mũi tiêm một ngày), 40 mg ở Tuần 2 có thể được sử dụng, với nhận thức rõ là nguy cơ biến cố bất lợi có thể cao hơn ở liều ban đầu cao hơn.

Sau khi điều trị ban đầu, liều khuyến cáo là 20 mg tiêm dưới da mỗi 2 tuần. Một số bệnh nhân đáp ứng không đủ có thể được hưởng lợi từ việc tăng tần suất dùng thuốc thành 20 mg Adalimumab mỗi tuần.

Bệnh Crohn ở trẻ em ≥ 40kg:

Liều ban đầu Adalimumab được khuyến cáo cho bệnh nhân nhi có bệnh Crohn hoạt động thể trung bình và nặng là: 80 mg Tuần 0, tiếp tục với 40 mg Tuần 2. Trường hợp cần đáp ứng điều trị nhanh hơn, liệu trình 160 mg ở Tuần 0 (dùng 4 liều tiêm trong một ngày hoặc hai liều tiêm một ngày trong hai ngày liên tiếp), 80 mg Tuần 2 có thể được sử dụng, với nhận thức rõ ràng rằng nguy cơ các biến cố bất lợi có thể cao hơn ở liều ban đầu cao hơn.

Sau khi điều trị ban đầu, liều khuyến cáo là 40 mg mỗi hai tuần, tiêm dưới da. Một số bệnh nhân đáp ứng không đủ có thể được hưởng lợi từ việc tăng tần suất sử dụng lên 40 mg Adalimumab mỗi tuần.

Việc điều trị liên tục nên được xem xét một cách cẩn thận ở những bệnh nhân không đáp ứng trước Tuần 12.

Việc dùng Adalimumab cho chỉ định này ở bệnh nhân dưới 6 tuổi là không phù hợp.

Viêm tuyến mồ hôi mưng mủ trẻ em

An toàn và hiệu quả của Adalimumab với bệnh viêm tuyến mồ hôi mưng mủ ở bệnh nhi tuổi 12 đến 17 tuổi chưa được thiết lập. Không có thông tin sẵn có. Việc sử dụng Adalimumab cho chỉ định này ở bệnh nhi dưới 12 tuổi là không phù hợp.

Viêm loét đại tràng trẻ em

An toàn và hiệu quả của Adalimumab ở bệnh nhi 4 – 17 tuổi chưa được thiết lập. Không có thông tin sẵn có. Việc dùng Adalimumab cho chỉ định này ở bệnh nhi nhỏ hơn 4 tuổi là không phù hợp.

Viêm khớp vảy nến và viêm khớp cột sống thể trục bao gồm cả viêm cột sống dính khớp

Việc dùng Adalimumab cho bệnh nhi cho chỉ định viêm cột sống dính khớp và viêm khớp vảy nến là không phù hợp.

Viêm màng bồ đào trẻ em

Sự an toàn và hiệu quả của Adalimumab ở bệnh nhi từ 2-17 tuổi chưa được thiết lập. Không có dữ liệu sẵn có.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Lao thể hoạt động hoặc các nhiễm trùng nghiêm trọng khác như: nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm trùng cơ hộ.

Suy tim mức độ trung bình cho tới nặng (phân loại NYHA mức III/IV).

4.4 Thận trọng:

Nhiễm trùng

Bệnh nhân dùng chất đối kháng TNF nhạy cảm hơn với những nhiễm trùng nghiêm trọng. Suy giảm chức năng phổi có thể tăng nguy cơ phát triển nhiễm trùng. Vì thế, bệnh nhân nên được giám sát chặt chẽ về tình trạng nhiễm trùng, gồm cả lao, trước, trong và sau điều trị với Adalimumab. Vì việc thải trừ Adalimumab có thể mất đến bốn tháng nên việc giám sát nên được tiếp tục trong suốt khoảng thời gian này.

Việc điều trị bằng Adalimumab không nên được bắt đầu với bệnh nhân có nhiễm trùng thể hoạt động, bao gồm cả nhiễm trùng mạn tính hay khu trú cho tới khi nhiễm trùng được kiểm soát. Ở bệnh nhân đã phơi nhiễm với lao và bệnh nhân đi tới vùng có nguy cơ lao hoặc bệnh nấm cao như nhiễm histoplasma, coccidioides hoặc blastomyces, nguy cơ và lợi ích của việc điều trị bằng Adalimumab nên được xem xét trước khi bắt đầu điều trị (xem Các nhiễm trùng cơ hội khác).

Bệnh nhân phát triển một nhiễm trùng mới khi đang điều trị với Adalimumab nên được giám sát chặt chẽ và trải qua một đánh giá chẩn đoán tổng thể. Việc dùng Adalimumab nên được dừng lại nếu một bệnh nhân phát triển một nhiễm trùng mới nghiêm trọng hoặc nhiễm trùng huyết và một liệu trình kháng sinh hay kháng nấm nên được bắt đầu cho tới khi kiểm soát được nhiễm trùng. Bác sĩ điều trị nên thăm khám cẩn thận khi xem xét việc dùng Adalimumab ở bệnh nhân có tiền sử nhiễm trùng tái lại hoặc có tình trạng bệnh lý đi kèm mà làm bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng, bao gồm cả việc sử dụng đồng thời các thuốc ức chế miễn dịch.

Nhiễm trùng nặng

Nhiễm trùng nặng, bao gồm cả nhiễm trùng huyết, do vi khuẩn, trực khuẩn, nấm thâm nhiễm, ký sinh trùng, virus hay những nhiễm trùng cơ hội khác như listeria, legionella và pneumocystis đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng Adalimumab.

Những nhiễm trùng nặng khác thấy trong những thử nghiệm lâm sàng bao gồm, viêm phổi, viêm thận bể thận, viêm khớp nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn máu. Nhập viện và những kết cục tử vong khác liên quan đến nhiễm trùng đã được báo cáo.

Lao

Lao, bao gồm cả lao tái hoạt động và lao mới, đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng Adalimumab. Những báo cáo này gồm những ca lao phổi và lao ngoài phổi (rải rác).

Trước khi điều trị với Adalimumab, tất cả bệnh nhân nên được đánh giá về nhiễm trùng lao cả thể hoạt động và thể tiềm ẩn (“latent”). Việc đánh giá này bao gồm một sự đánh giá y khoa chi tiết về tiền sử lao, hoặc phơi nhiễm trước đó với người có lao đang hoạt động và việc sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch hiện tại hay trước đó. Các xét nghiệm sàng lọc phù hợp (xét nghiệm tuberculin và X- quang) nên được thực hiện ở tất cả các bệnh nhân (có thể áp dụng các khuyến cáo tại chỗ). Việc tiến hành và kết quả của các xét nghiệm này được khuyến cáo nên ghi chép trong thẻ cảnh báo bệnh nhân. Người kê đơn được nhắc về nguy cơ kết quả xét nghiệm turberculin âm tính giả, đặc biệt ở bệnh nhân bệnh nặng hoặc bị suy giảm miễn dịch.

Nếu được chẩn đoán lao thể hoạt động, việc dùng Adalimumab không nên bắt đầu (xem mục Chống chỉ định).

Trong tất cả các tình huống được miêu tả ở dưới, cân bằng lợi ích/nguy cơ nên được xem xét một cách rất cẩn thận.

Nếu nghi ngờ lao tiềm ẩn, bác sĩ có kinh nghiệm trong việc điều trị lao nên được tham vấn.

Nếu chẩn đoán có lao tiềm ẩn, việc điều trị thích hợp nên được bắt đầu với điều trị dự phòng lao trước khi bắt đầu điều trị với Adalimumab, tương thích với các khuyến cáo tại địa phương.

Việc sử dụng liệu pháp kháng lao dự phòng nên được xem xét trước khi bắt đầu dùng Adalimumab ở bệnh nhân với vài yếu tố hoặc yếu tố nguy cơ có ý nghĩa với lao mặc dù xét nghiệm lao âm tính và ở những bệnh nhân có tiền sử lao tiềm ẩn hoặc lao hoạt động mà không thể xác nhận việc đã được điều trị lao đủ liệu trình.

Dù được điều trị dự phòng với lao, nhiều ca lao tái phát đã xảy ra ở bệnh nhân điều trị với Adalimumab. Một số bệnh nhân đã được điều trị thành công với lao hoạt động đã tái mắc lao trong khi được điều trị với Adalimumab.

Bệnh nhân nên được hướng dẫn tìm những lời khuyên y khoa nếu dấu hiệu/triệu chứng gợi ý nhiễm trùng lao (ví dụ: ho lâu, hao mòn/ giảm cân, sốt nhẹ, lơ đãng) xảy ra trong hoặc sau khi điều trị với Adalimumab.

Các nhiễm trùng cơ hội khác

Nhiễm trùng cơ hội, bao gồm cả nhiễm nấm xâm lấn đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân sử dụng Adalimumab. Những nhiễm trùng này không được nhận thấy một cách thống nhất ở những bệnh nhân dùng các thuốc kháng TNF và điều này dẫn đến việc trì hoãn trong việc sử dụng liệu trình phù hợp, đôi khi còn dẫn đến những kết cục gây chết người.

Những bệnh nhân phát triển dấu hiệu và triệu chứng như sốt, mệt mỏi, giảm cân, ra mồ hôi, ho, khó thở, và/hoặc thâm nhiễm phổi hoặc những bệnh toàn thân nghiêm trọng khác có hoặc không có sốc đi kèm, nên nghi ngờ một nhiễm nấm xâm lấn và việc sử dụng Adalimumab nên được dừng sớm. Việc chẩn đoán và sử dụng liệu pháp kháng nấm theo kinh nghiệm ở những bệnh nhân này nên có sự tham vấn với bác sĩ điều trị có kinh nghiệm trong việc chăm sóc bệnh nhân nhiễm nấm xâm lấn.

Viêm gan siêu vi B tái hoạt động

Sự tái kích hoạt viêm gan siêu vi B đã xảy ra ở những bệnh nhân sử dụng thuốc kháng TNF, bao gồm cả Adalimumab, ở những bệnh nhân mang virus mạn tính (kháng thể bề mặt dương tính). Một số trường hợp đã có kết cục gây chết người. Bệnh nhân nên được xét nghiệm nhiễm virus viêm gan B trước khi bắt đầu điều trị với Adalimumab. Với bệnh nhân, có xét nghiệm virus viêm gan B dương tính, việc tham vấn với bác sĩ có kinh nghiệm trong việc điều trị viêm gan B là được khuyến cáo.

Những người mang virus viêm gan B cần điều trị với Adalimumab nên được giám sát chặt chẽ ở những dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng viêm gan B hoạt động trong suốt liệu trình và nhiều tháng sau khi kết thúc điều trị. Dữ liệu đầy đủ từ việc điều trị những bệnh nhân mang virus viêm gan B bằng liệu pháp kháng virus kết hợp cùng với liệu pháp kháng TNF để ngăn chặn sự tái hoạt virus viêm gan B không có. Ở bệnh nhân đã có sự tái hoạt virus viêm gan B, nên ngừng Adalimumab và một liệu trình kháng virus có hiệu lực cùng điều trị hỗ trợ phù hợp nên được bắt đầu.

Các biến cố thần kinh

Các thuốc kháng TNF, gồm cả Adalimumab, có liên quan tới những trường hợp hiếm những khởi phát mới hoặc tăng nặng các triệu chứng lâm sàng và/hoặc bằng chứng hình ảnh học của bệnh hủy myelin hệ thống thần kinh trung ương bao gồm xơ cứng bì hệ thống và viêm dây thần kinh thị giác và bệnh thoái hóa myelin ngoại biên, bao gồm hội chứng Guillain-Barre. Người kê đơn nên xem xét cẩn thận trong việc sử dụng Adalimumab ở bệnh nhân đã có hoặc mới khởi phát những rối loạn thoái hóa myelin ở hệ thần kinh trung ương và ngoại biên, việc dừng sử dụng Adalimumab nên được xem xét nếu những rối loạn này xuất hiện. Có sự liên quan được biết đến giữa viêm màng bồ đào trung gian và rối loạn thoái hóa myelin trung ương. Đánh giá chức năng thần kinh nên được thực hiện ở những bệnh nhân viêm màng bồ đào trung gian trước khi bắt đầu điều trị với Adalimumab và định kỳ trong suốt quá trình điều trị để đánh giá những rối loạn thoái hóa myelin trung ương đã tồn tại trước đó hoặc đang phát triển.

Phản ứng dị ứng

Các phản ứng dị ứng nghiêm trọng liên quan đến Adalimumab là hiếm trong các thử nghiệm lâm sàng. Những phản ứng dị ứng không nghiêm trọng liên quan đến Adalimumab là không thường gặp trong các thử nghiệm lâm sàng. Những báo cáo về những phản ứng dị ứng nghiêm trọng gồm phản ứng phản vệ đã được ghi nhận sau khi sử dụng Adalimumab. Nếu một phản ứng phản vệ hoặc phản ứng dị ứng nghiêm trọng khác xuất hiện, việc dùng Adalimumab nên được dừng ngay lập tức và các liệu pháp thích hợp nên được bắt đầu.

Ức chế miễn dịch

Trong một nghiên cứu có 64 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp được điều trị với Adalimumab, không thấy có bằng chứng về sự giảm các phản ứng tăng nhạy cảm dạng chậm, giảm lượng globulin miễn dịch hoặc thay đổi trong sự liệt kê các tế bào phản ứng lại kích thích tế bào T, tế bào B, tế bào diệt tự nhiên, đơn bào, đại thực bào và bạch cầu trung tính.

Các bệnh ác tính và rối loạn tăng sinh bạch cầu lympho

Trong những phần đối chứng của các thử nghiệm lâm sàng với các chất đối kháng TNF, nhiều ca ác tính, bao gồm cả u lympho đã được quan sát thấy ở bệnh nhân nhóm dùng các chất ức chế TNF hơn so với bệnh nhân trong nhóm đối chứng. Tuy nhiên, việc xảy ra này hiếm. Trong bối cảnh sau lưu hành, những trường hợp ung thư bạch cầu đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng chất đối kháng TNF. Có sự tăng nguy cơ nền cho u lympho và bệnh bạch cầu ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có phản ứng viêm hoạt động mạnh, lâu dài, điều này làm phức tạp thêm sự ước tính nguy cơ. Với những kiến thức hiện tại, nguy cơ có thể trong việc phát triển bệnh u lympho, bệnh bạch cầu và những bệnh ác tính khác ở bệnh nhân điều trị với chất đối kháng TNF là không thể loại trừ.

Bệnh ác tính, một số trong đó gây chết người, đã được báo cáo ở bệnh nhân nhi, thiếu niên, và người trẻ tuổi (cho tới 22 tuổi) được điều trị với chất đối kháng TNF (bắt đầu điều trị khi không quá 18 tuổi), bao gồm cả adalimumab trong giai đoạn sau lưu hành. Khoảng nửa số các trường hợp là u lympho. Những trường hợp khác đại diện cho nhiều bệnh ác tính khác nhau và bao gồm những bệnh ác tính hiếm gặp, thường có liên quan đến việc ức chế hệ miễn dịch. Nguy cơ phát triển các bệnh lý ác tính ở trẻ em và vị thành niên được điều trị với chất đối kháng TNF là không thể loại trừ.

Một số hiếm các trường hợp ung thư hạch tế bào lympho T gan lách sau lưu hành đã được xác định ở bệnh nhân điều trị bằng adalimumab. Loại u lympho T hiếm gặp này có một quá trình diễn tiến bệnh rất nguy kịch và thường gây tử vong. Một vài trường hợp trong số các ung thư hạch tế bào lympho T gan lách điều trị với Adalimumab xảy ra ở bệnh nhân trẻ, được điều trị với azathioprine hoặc 6-mercaptopurine cho bệnh viêm ruột. Nguy cơ tiềm tàng với kết hợp azathioprine hoặc 6-mercaptopurne và Adalimumab nên được xem xét cẩn thận. Nguy cơ phát triển bệnh ung thư hạch tế bào lympho T gan lách ở bệnh nhân điều trị với Adalimumab không thể được loại trừ.Chưa có nghiên cứu nào có sự tham gia của những bệnh nhân có tiền sử bệnh ác tính hoặc những bệnh nhân được điều trị bằng Adalimumab tiếp tục sau sự phát triển của một bệnh mạn tính. Do đó, cần thận trọng xem xét việc sử dụng Adalimumab trong điều trị ở những bệnh nhân này.

Tất cả bệnh nhân và đặc biệt bệnh nhân có tiền sử sử dụng liệu pháp ức chế miễn dịch kéo dài, hoặc bệnh nhân vảy nến có tiền sử điều trị bằng PUVA nói riêng, nên được thăm khám để xác định ung thư da melanoma, trước và trong khi điều trị với Adalimumab. Melanoma và ung thư tế bào Merkel đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị với các chất đối kháng TNF, bao gồm cả adalimumab.

Trong một nghiên cứu thăm dò đánh giá việc sử dụng của các chất ức chế TNF khác, infliximab, ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) trung bình đến nặng, nhiều bệnh mạn tính, hầu hết ở phổi, đầu và cổ, được báo cáo ở bệnh nhân điều trị bằng infliximab nhiều hơn so với bệnh nhân nhóm đối chứng ở tất cả các bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá nhiều. Vì vậy, cần thận trọng trong việc sử dụng bất cứ một chất đối kháng TNF nào ở bệnh nhân COPD, cũng như những bệnh nhân với tăng nguy cơ bệnh lý ác tính do hút thuốc lá nhiều.

Với những dữ liệu hiện tại chưa cho biết liệu việc điều trị với adalimumab có ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển loạn sản hoặc ung thư đại tràng. Tất cả các bệnh nhân viêm loét đại tràng, những người có tăng nguy cơ loạn sản hoặc ung thư đại tràng (ví dụ, bệnh nhân viêm loét đại tràng lâu dài hoặc viêm xơ đường mật nguyên phát), hoặc người có tiền sử loạn sản hay ung thư đại tràng trước đó nên được sàng lọc loạn sản đều đặn trước khi dùng thuốc và trong suốt quá trình diễn tiến bệnh. Việc đánh giá nên gồm cả việc soi đại tràng và sinh thiết theo khuyến cáo cơ sở.

Các phản ứng huyết học

Một số hiếm các báo cáo về giảm ba dòng tế bào máu, bao gồm thiếu máu không tái tạo được báo cáo với các chất đối kháng TNF. Biến cố có hại ở hệ huyết học, bao gồm việc giảm các dòng tế bào máu có ý nghĩa y học (ví dụ: giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu) đã được báo cáo với Adalimumab. Tất cả bệnh nhân nên được khuyên tìm kiếm sự chăm sóc y khoa nếu có các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý sự loạn tạo máu (sốt kéo dài, bầm, chảy máu, xanh xao) khi dùng Adalimumab. Việc ngừng liệu pháp Adalimumab nên được xem xét với bệnh nhân rối loạn huyết học được xác định.

Tiêm phòng

Sự đáp ứng kháng thể tương tự với vaccin phế cầu 23-valent tiêu chuẩn và vaccin virus cúm 3-valent được quan sát trong một nghiên cứu 226 bệnh nhân trưởng thành có viêm khớp dạng thấp được điều trị với adalimumab hoặc giả dược. Không có dữ liệu sẵn có về việc truyền bệnh thứ phát do vaccin sống ở bệnh nhân dùng Adalimumab.

Bệnh nhi được khuyến cáo, nếu có thể, cập nhật tất cả các mũi tiêm chủng tương thích với hướng dẫn tiêm chủng hiện hành trước khi điều trị bằng Adalimumab.

Bệnh nhân điều trị bằng Adalimumab có thể tiêm chủng đồng thời, ngoại trừ vaccin sống. Việc tiêm chủng vaccin sống với trẻ sơ sinh đã phơi nhiễm với adalimumab trong tử cung không được khuyến cáo trong vòng năm tháng sau liều tiêm adalimumab cuối cùng của mẹ trong thời kỳ mang thai.

Suy tim sung huyết

Trong một thử nghiệm lâm sàng với chất kháng TNF khác quan sát thấy sự làm nặng thêm suy tim sung huyết và tăng tỷ lệ tử vong do suy tim sung huyết. Nhiều ca nặng thêm tình trạng suy tim sung huyết đã được báo cáo ở bệnh nhân sử dụng Adalimumab. Adalimumab nên được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân suy tim nhẹ (phân loại NYHA I/II). Adalimumab chống chỉ định trong suy tim sung huyết trung bình đến nặng. Điều trị với Adalimumab phải được ngưng ở bệnh nhân phát triển triệu chứng mới hoặc xấu đi của suy tim sung huyết.

Các bệnh lý tự miễn

Việc điều trị với Adalimumab có thể dẫn đến sự hình thành các kháng thể tự miễn. Tác động của việc điều trị dài hạn với Adalimumab với sự phát triển của bệnh tự miễn là chưa được biết. Nếu một bệnh nhân phát triển những triệu chứng gợi ý hội chứng giống lupus sau khi điều trị với Adalimumab và dương tính với kháng thể kháng DNA chuỗi xoắn kép, việc điều trị thêm với Adalimumab không nên được tiếp tục.

Việc dùng đồng thời với các thuốc sinh học chống thấp khớp làm thay đổi diễn tiến bệnh (bDMARDs) hoặc các chất đối kháng TNF

Những nhiễm trùng nghiêm trọng được thấy trong các nghiên cứu lâm sàng có sử dụng đồng thời anakinra và một chất đối kháng TNF khác, etanercept, không mang thêm lợi ích lâm sàng nào so với việc dùng etanercept đơn độc. Vì bản chất các biến cố bất lợi được thấy khi kết hợp etanercept và anakinra, những độc tính tương tự có thể do sự kết hợp anakinra và các chất đối kháng TNF khác. Vì vậy, sự kết hợp adalimumab và anakinra không được khuyến cáo.

Việc dùng đồng thời adalimumab với các DMARDs sinh học khác (anakinra và abatacept) hoặc các chất đối kháng TNF khác không được khuyến cáo dựa trên việc có thể tăng nguy cơ nhiễm trùng, bao gồm những nhiễm trùng nghiêm trọng và những tương tác dược lý tiềm tàng khác.

Phẫu thuật

Những kinh nghiệm về sự an toàn của các quy trình phẫu thuật trên bệnh nhân sử dụng Adalimumab còn hạn chế. Thời gian bán thải dài của adalimumab nên được xem xét nếu lên kế hoạch phẫu thuật. Một bệnh nhân cần phẫu thuật khi đang điều trị với Adalimumab nên được giám sát nhiễm trùng một cách chặt chẽ cùng với những hành động phù hợp. Kinh nghiệm an toàn ở bệnh nhân thay khớp nhân tạo khi dùng Adalimumab còn hạn chế.

Sự tắc ruột non

Thất bại đáp ứng với điều trị bệnh Crohn có thể biểu thị sự tồn tại của hẹp xơ hóa cố định cần phẫu thuật. Dữ liệu hiện có cho thấy Adalimumab không làm nặng hơn hoặc gây tắc ruột.

Người già

Tần suất những nhiễm trùng nghiêm trọng ở bệnh nhân điều trị với Adalimumab trên 65 tuổi (3,7%) là cao hơn so với những bệnh nhân dưới 65 tuổi (1,5%). Một vài trong số đó có kết cục tử vong. Khi điều trị bệnh nhân lớn tuổi nên có sự chú ý đặc biệt, liên quan đến nguy cơ nhiễm trùng.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Adalimumab có thể có ảnh hưởng nhỏ lên khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Chóng mặt và suy giảm thị giác có thể xảy ra sau khi dùng Adalimumab.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Những dữ liệu lâm sàng về sự phơi nhiễm với Adalimumab trong thời kỳ mang thai còn hạn chế.

Trong một nghiên cứu độc tính đang diễn tiến, thực hiện trên khỉ, không thấy dấu hiệu của độc tính trên mẹ, độc tính trên phôi và hoạt tính gây quái thai. Các dữ liệu tiền lâm sàng trên độc tính sau khi sinh của adalimumab không có (xem mục An toàn tiền lâm sàng).

Do tính chất ức chế TNFα, adalimumab dùng trong thời kỳ mang thai có thể ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bình thường ở trẻ mới sinh. Việc dùng adalimumab không được khuyến cáo trong thời kỳ mang thai.

Adalimumab có thể đi qua hàng rào nhau thai vào huyết thanh của trẻ sơ sinh nếu mẹ được điều trị với adalimumab trong thời kỳ mang thai. Do đó, những trẻ sơ sinh này có thể có nguy cơ nhiễm trùng. Việc dùng vaccin sống cho trẻ sơ sinh phơi nhiễm với adalimumab trong tử cung không được khuyến cáo trong vòng 5 tháng sau liều tiêm adalimumab cuối cùng của mẹ trong thời kỳ mang thai.

Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản/Sự tránh thai ở nam và nữ

Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản được khuyến cáo mạnh mẽ nên có biện pháp ngừa thai đầy đủ để ngăn sự mang thai và tiếp tục dùng ít nhất năm tháng sau lần điều trị cuối cùng bằng Adalimumab.

Sự thụ thai

Không có dữ liệu tiền lâm sàng về ảnh hưởng của adalimumab lên sự thụ thai.

Thời kỳ cho con bú:

Việc adalimumab có bài tiết trong sữa người hay được hấp thu vào hệ thống tuần hoàn sau khi sử dụng thuốc hay không thì không được rõ.

Tuy nhiên, vì globulin miễn dịch người được bài tiết trong sữa nên phụ nữ không nên cho con bú trong vòng ít nhất năm tháng sau lần điều trị cuối cùng bằng Adalimumab.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Bảng: Tác dụng không mong muốn
Phân loại hệ thống cơ quan Tần suất Tác dụng ngoại ý
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng* Rất phổ biến Nhiễm trùng đường hô hấp (bao gồm nhiễm trùng hô hấp trên và dưới, viêm phổi, viêm xoang, viêm họng, viêm mũi họng và viêm phổi do virus herpes).
Phổ biến Nhiễm trùng toàn thân (bao gồm nhiễm trùng huyết, nhiễm nấm Candida và cúm).

Nhiễm trùng đường ruột (bao gồm viêm ruột do virus),

nhiễm trùng da và mô mềm (bao gồm viêm mé móng, viêm tế bào, chốc lở, viêm cân mạc hoại tử và nhiễm Herpes zoster),

nhiễm trùng tai,

nhiễm trùng miệng (bao gồm nhiễm Herpes simplex, nhiễm herpes ổ miệng và nhiễm trùng răng),

nhiễm trùng đường sinh sản (bao gồm nhiễm nấm âm hộ, âm đạo),

nhiễm trùng đường tiết niệu (bao gồm nhiễm trùng thận-bể thận),

nhiễm nấm,

nhiễm trùng khớp.

Không phổ biến Nhiễm trùng hệ thần kinh (bao gồm viêm màng não do virus),

nhiễm trùng cơ hội và lao (bao gồm nhiễm coccidioides, histoplasmavà Mycobacterium avium complex),

nhiễm trùng do vi khuẩn,

nhiễm trùng mắt,

viêm túi thừa1

U lành tính, ác tính và không xác định (bao gồm u nang và polyps)* Phổ biến Ung thư da ngoại trừ melanoma (bao gồm ung thư tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy),

u lành tính

Không phổ biến u lympho**,

u tạng đặc (gồm ung thư vú, u phổi và u tuyến giáp),

u melanin**

Hiếm gặp Bệnh bạch cầu1
Không biết Ung thư hạch tế bào lympho T gan lách1,

Ung thư tế bào Merkel (ung thư nội tiết thần kinh ở da)1

Rối loạn hệ tạo máu và bạch huyết* Rất phổ biến Giảm bạch cầu máu (gồm giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt), thiếu máu
Phổ biến Tăng bạch cầu, giảm tiểu cầu
Không phổ biến Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn
Hiếm gặp Giảm ba dòng tế bào máu ngoại vi
Rối loạn hệ miễn dịch* Phổ biến Quá mẫn, dị ứng (bao gồm dị ứng theo mùa)
Không phổ biến Bệnh Sarcoid1, viêm mạch
Hiếm gặp Phản vệ1
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng Rất phổ biến Tăng lipid
Phổ biến Hạ kali máu, tăng acid uric, natri máu bất thường, giảm calci máu, giảm đường máu, giảm phosphat máu, mất nước
Rối loạn về tâm thần Phổ biến Thay đổi tâm trạng (gồm trầm cảm),

lo lắng,

mất ngủ

Rối loạn hệ thần kinh trung ương* Rất phổ biến Đau đầu
Phổ biến Dị cảm (bao gồm giảm xúc cảm),

đau nửa đầu,

chèn ép rễ thần kinh

Không phổ biến Biến cố mạch máu não1,

run,

bệnh lý thần kinh

Hiếm gặp Xơ cứng bì hệ thống,

rối loạn hủy myelin (viêm thần kinh thị giác, hội chứng Guillain-Barre)1

Rối loạn thị giác Phổ biến Giảm thị lực,

viêm kết mạc,

viêm mí mắt,

sưng mắt

Không phổ biến Chứng nhìn đôi
Rối loạn về tai và ốc tai Phổ biến Chóng mặt
Không phổ biến Điếc, ù tai
Rối loạn tim* Phổ biến Chứng nhịp tim nhanh
Không phổ biến Chứng nhồi máu cơ tim1,

loạn nhịp tim,

suy tim sung huyết

Hiếm gặp Ngừng tim
Rối loạn mạch Phổ biến Cao huyết áp,

đỏ bừng,

ổ tụ huyết

Không phổ biến Phình động mạch chủ,

tắc động mạch,

chứng viêm tĩnh mạch huyết khối

Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất* Phổ biến Hen,

khó thở,

ho

Không phổ biến Thuyên tắc phổi1,

bệnh phổi mô kẽ,

bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,

viêm phổi,

tràn dịch màng phổi1

Hiếm gặp Xơ hóa phổi1
Rối loạn đường tiêu hóa Rất phổ biến Đau bụng,

nôn & buồn nôn

Phổ biến Xuất huyết đường tiêu hóa,

chứng khó tiêu, bệnh trào ngược dạ dày thực quản,

hội chứng Sicca

Không phổ biến Viêm tụy,

chứng khó nuốt,

phù mặt

Hiếm gặp Thủng đường tiêu hóa1
Rối loạn hệ gan mật* Rất phổ biến Tăng enzym gan
Không phổ biến Viêm túi mật và sỏi mật,

gan nhiễm mỡ,

tăng bilirubin

Hiếm gặp Viêm gan,

tái hoạt động virus viêm gan B1,

viêm gan tự miễn1)

Không biết Suy gan1
Rối loạn da và mô dưới da Rất phổ biến Ngứa (bao gồm ngứa bong vảy)
Phổ biến vảy nến nặng hơn hay vảy nến mới khởi phát (bao gồm vảy nến mụn mủ lòng bản tay chân)1,

mày đay,

thâm tím (gồm cả ban xuất huyết),

viêm da (gồm cả eczema),

gãy móng,

tăng tiết mồ hôi,

rụng tóc1,

ngứa

Không phổ biến Ra mồ hôi ban đêm,

sẹo

Hiếm gặp Hồng ban đa dạng1,

hội chứng Stevens-Johnson1,

phù mạch1,

viêm mao mạch da1

Không biết Làm nặng hơn triệu chứng của viêm bì cơ1
Rối loạn hệ cơ xương khớp và mô liên kết Rất phổ biến Đau cơ xương
Phổ biến Co thắt cơ (gồm tăng creatin phosphokinase máu)
Không phổ biến Tiêu cơ vân, lupus ban đỏ hệ thống
Hiếm gặp Hội chứng giống lupus1
Rối loạn thận và hệ tiết niệu Phổ biến Suy giảm chức năng thận, đái ra máu
Không phổ biến Tiểu đêm
Rối loạn hệ thống sinh sản và vú Không phổ biến Rối loạn xuất tinh
Những rối loạn chung và những tình trạng tại nơi dùng thuốc* Rất phổ biến Những phản ứng tại vị trí tiêm (bao gồm ban đỏ tại vị trí tiêm)
Phổ biến Đau ngực,

phù,

sốt1

Không phổ biến Viêm
Điều tra* Phổ biến Rối loạn đông máu và chảy máu (bao gồm kéo dải thời gian thromboplastin riêng phần hoạt hóa),

kiểm tra kháng thể tự miễn dương tính (gồm kháng thể kháng DNA chuỗi kép),

tăng lactate dehydrogenase máu

Chấn thương, nhiễm độc và biến chứng do quy trình Phổ biến Giảm hồi phục
* thông tin thêm được tìm thấy ở các mục CHỐNG CHỈ ĐỊNH, CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC và TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN

** gồm những nghiêm cứu nhãn mở mở rộng

1) gồm những dữ liệu báo cáo tự nguyện

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Adalimumab được nghiên cứu trong bệnh viêm khớp dạng thấp, viêm đa khớp tự phát tuổi thanh thiếu niên và viêm khớp vảy nến, bệnh nhân dùng Adalimumab đơn trị liệu hoặc dùng cùng với methotrexate. Sự hình thành kháng thể thì thấp hơn khi Adalimumab được sử dụng cùng với methotrexate so với dùng đơn trị liệu. Việc dùng Adalimumab không có methotrexate dẫn đến tăng sự hình thành kháng thể, tăng thải trừ, và giảm tác dụng của adalimumab.

Sự kết hợp Adalimumab và anakinra không được khuyến cáo.

Việc kết hợp Adalimumab và abatacept không được khuyến cáo.

4.9 Quá liều và xử trí:

Không một độc tính giới hạn liều nào được quan sát trong những thử nghiệm lâm sàng. Mức liều cao nhất được đánh giá là chế độ đa liều tiêm tĩnh mạch 10 mg/kg, cao hơn mức liều khuyến cáo xấp xỉ 15 lần.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý: Chất ức chế miễn dịch, chất ức chế yếu tố hoại tử u alpha (TNF-α).

Mã ATC: L04AB04.

Sau khi điều trị với Adalimumab, một sự giảm nhanh chóng nồng độ chất phản ứng trong pha cấp của viêm (CRP và tốc độ lắng hồng cầu ESR) và cytokine huyết thanh (IL-6) được quan sát thấy, so với mức cơ bản ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Nồng độ huyết thanh của matrix metalloproteinases (MMP-1 và MMP-3) tạo sự tái cấu trúc mô, chịu trách nhiệm cho sự hủy sụn cũng giảm đi sau khi dùng Adalimumab. Bệnh nhân điều trị với Adalimumab thường có sự cải thiện về những dấu hiệu huyết học của viêm mạn tính.

Một sự giảm nhanh nồng độ CRP cũng được quan sát thấy ở bệnh nhân viêm đa khớp tự phát thiếu niên, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng và viêm tuyến mồ hôi mưng mủ sau khi điều trị với Adalimumab. Ở bệnh nhân Crohn quan sát thấy được sự giảm số lượng những tế bào biểu hiện những dấu chứng viêm ở đại tràng, bao gồm một sự giảm có ý nghĩa sự biểu hiện TNFα.

Cơ chế tác dụng:

Adalimumab gắn đặc hiệu vào TNF và trung hòa chức năng sinh học của TNF bằng cách khóa sự tương tác với các thụ thể bề mặt tế bào TNF p55 và p75. Adalimumab cũng điều hòa những đáp ứng sinh học được gây ra hoặc được điều hòa bởi TNF, bao gồm sự thay đổi trong mức độ phân tử kết dính chịu trách nhiệm cho sự di chuyển của bạch cầu (ELAM-1, VCAM-1 và ICAM-1 với một nồng độ ức chế 50% IC50 là 0,1 đến 0,2 nM).

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu và phân bố

Sau khi tiêm dưới da liều đơn 40 mg, sự hấp thu và phân bố của adalimumab chậm, với nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được sau khi tiêm khoảng 5 ngày. Sinh khả dụng tuyệt đối trung bình của adalimumab được đánh giá từ ba nghiên cứu cho một liều đơn 40 mg tiêm dưới da là 64%. Sau khi tiêm tĩnh mạch những liều đơn biến thiên từ 0,25 đến 10 mg/kg, nồng độ tỉ lệ với liều dùng. Sau khi tiêm liều 0,5 mg/kg (~40 mg), độ thanh thải biến thiên từ 11 đến 15 ml/giờ, thể tích phân bố (Vss) biến thiên từ 5 đến 6 lít và thời gian bán thải ở giai đoạn cuối cùng trung bình xấp xỉ là hai tuần. Nồng độ adalimumab trong hoạt dịch của một vài bệnh nhân viêm khớp dạng thấp biến thiên từ 31-96% so với nồng độ trong huyết thanh.

Thải trừ

Tập hợp các phân tích dược động học với dữ liệu thu được từ 1300 bệnh nhân RA đã phát hiện ra một khuynh hướng là độ thanh thải của adalimumab cao hơn rõ ràng khi khối lượng cơ thể tăng. Sau khi điều chỉnh sự khác nhau về khối lượng, giới tính và tuổi có một ảnh hưởng rất nhỏ lên độ thanh thải của adalimumab. Nồng độ trong huyết thanh của adalimumab dạng tự do (không gắn với kháng thể kháng adalimumab, AAA) đã được thấy là thấp hơn ở những bệnh nhân có AAA có thể đo được.

Bệnh gan hoặc bệnh thận

Adalimumab chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân suy gan hoặc suy thận.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

6.2. Tương kỵ :

Do các nghiên cứu về tính tương kỵ còn thiếu, thuốc này không được pha trộn với các thuốc khác.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản thuốc ở nhiệt độ 2-8ºC (trong tủ lạnh). Không được làm đông lạnh. Giữ nguyên bơm tiêm trong hộp giấy, tránh ánh sáng.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc biệt dược gốc Humira.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM