Vinorelbine – Navelbine IV

Thuốc Navelbine là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Navelbine (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Vinorelbine tartrate

Phân loại: Thuốc chống ung thư.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01CA04.

Brand name: NAVELBINE (IV)

Hãng sản xuất : Pierre Fabre Medicament

2. Dạng bào chế Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc pha dung dịch tiêm truyền: hộp 10 lọ 1mL, hộp 10 lọ 5mL

Mỗi mL: Vinorelbine ditartrate 13,85mg tương ứng vinorelbine 10mg.

Thuốc tham khảo:

NAVELBINE IV
Mỗi ml dung dịch có chứa:
Vinorelbine………………………….10 mg
Tá dược………………………….vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.

Ung thư vú tiến triển vùng hoặc di căn.

4.2. Liều dùng Cách dùng:

Cách dùng :

Thuốc chỉ dùng đường tiêm tĩnh mạch sau khi đã pha loãng thích hợp.

Chống chỉ định tiêm Navelbine vào ống tủy sống vì có thể gây tử vong.

Hướng dẫn sử dụng và thao tác: xem mục Thận trọng đặc biệt khi thải bỏ thuốc và cách xử lý khác.

Navelbine được khuyên dùng tiêm truyền tĩnh mạch chậm trong thời gian 6-10 phút sau khi pha loãng vào 20-50 ml dung dịch NaCl 0,9% hay dung dịch Glucose 5%.

Sau khi tiêm Navelbine xong luôn luôn phải “rửa” đường truyền bằng lượng dung dịch sinh lý với thể tích tối thiểu 250 ml.

Liều dùng:

Khi dùng đơn trị liệu, liều thường dùng là 25-30 mg/m2 mỗi tuần.

Khi dùng trong các phác đồ hóa trị liệu phối hợp đa chất, vẫn có thể dùng như liều thông thường, 25-30 mg/m2, nhưng dãn cách thời gian dùng ra, ví dụ chỉ dùng vào ngày 1 và ngày 5 hay ngày 1 và ngày 8 mỗi chu kỳ 3 tuần, tùy theo phác đồ.

Sử dụng ở người lớn tuổi: Kinh nghiệm sử dụng thuốc trên lâm sàng không cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ đáp ứng điều trị ở nhóm bệnh nhân lớn tuổi; tuy nhiên không thể loại trừ là ở một số bệnh nhân lớn tuổi sẽ có độ nhạy cảm cao hơn so với người trẻ. Tuổi tác không làm thay đổi dược động học của vinorelbine.

Sử dụng ở bệnh nhân suy gan: Dược động học của Navelbine cũng không thay đổi ở bệnh nhân có kèm suy chức năng gan mức độ vừa và nặng. Tuy nhiên khi dùng thuốc này cho các bệnh nhân suy chức năng gan nặng, nên giảm liều dùng còn 20 mg/m2 và theo dõi sát các thông số huyết học (xem mục Cảnh báo và Dược động học).

Sử dụng ở bệnh nhân suy thận: Do Navelbine chỉ thải trừ một lượng nhỏ qua thận, nên không có cơ sở lý luận dược động học về việc giảm liều ở các bệnh nhân suy thận.

Sử dụng ở trẻ em: Chưa xác định được độ an toàn và hiệu quả điều trị ở bệnh nhi. Vì vậy Navelbine hiện chưa được khuyên dùng ở các đối tượng này (xem mục Dược lực học).

4.3. Chống chỉ định:

Thuốc này chống chỉ định trong các trường hợp sau:

Bệnh nhân được biết quá mẫn với vinorelbin hay các vinca akcaloid khác, hoặc với bất kỳ thành phần nào của Navelbine.

Bệnh nhân giảm bạch cầu hạt trung tính <1.500/mm3 hoặc đang bị nhiễm trùng nặng hay mới mắc gần đây (trong vòng 2 tuần).

Bệnh nhân giảm số lượng tiểu cầu <100.000/mm3.

Bệnh nhân đang cho con bú (Xem mục Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú).

Chống chỉ định dùng vinorelbine với vaccine ngừa bệnh sốt vàng (Xem mục Tương tác).

4.4 Thận trọng:

Cảnh báo đặc biệt

Navelbine nên dùng dưới sự giám sát của bác sĩ có kinh nghiệm về hóa trị liệu.

Do nguy cơ chính khi dùng Navelbine là ức chế hệ tạo máu, nên khi dùng thuốc này cần theo dõi sát các chỉ số huyết học (như: nồng độ hemoglobin, số lượng bạch cầu chung, bạch cầu hạt trung tính, tiểu cầu) vào ngày bắt đầu mỗi chu kỳ hóa trị.

Tác dụng phụ khiến phải giảm liều thuốc là giảm bạch cầu hạt trung tính. Tác dụng phụ này không có tính tích lũy, với đặc điểm xuất hiện ngưỡng giảm thấp nhất vào giữa ngày 7 và ngày 14 sau khi dùng Navelbine, sau đó sẽ nhanh chóng phục hồi trong vòng 5-7 ngày. Nếu số lượng bạch cầu hạt trung tính giảm còn dưới 1.500/mm3 và/hoặc số lượng tiểu cầu <100.000/mm3, nên trì hoãn vào thuốc đợt mới cho đến khi các dòng tế bào hồi phục.

Nếu bệnh nhân có triệu chứng và dấu hiệu gợi ý nhiễm trùng, nên khảo sát ngay lập tức các tình trạng này.

Thận trọng đặc biệt khi sử dụng

Cần lưu ý đặc biệt khi chỉ định Navelbine cho bệnh nhân có tiền sử bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ (xem mục Tác dụng ngoại ý).

Dược động học của Navelbine không thay đổi ở bệnh nhân có kèm suy chức năng gan vừa và nặng. Việc chỉnh liều Navelbine cho nhóm bệnh nhân đặc biệt này, xem mục Liều lượng và Cách dùng.

Do Navelbine chỉ thải trừ lượng ít qua thận, nên không có cơ sở lý luận cho việc giảm liều Navelbine ở bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận (xem mục Liều lượng và Cách dùng).

Navelbine không nên dùng đồng thời với xạ trị nếu như trường chiếu xạ trị bao trùm vùng gan.

Việc dùng đồng thời vinorelbine với các vaccine sống giảm độc lực khác không được khuyến cáo (đối với vaccine ngừa bệnh sốt vàng xem mục chống chỉ định).

Cần thận trọng khi dùng kết hợp Navelbine với các thuốc khác, gồm: chất ức chế hay chất kích hoạt mạnh lên hệ thống enzyme CYP3A4. Do đó, không khuyến cáo dùng kết hợp vinorelbine với phenytoin fosphenytoin, itraconazole, ketoconazole hoặc posaconazole (xem mục Tương tác).

Nên phòng tránh mọi tiếp xúc của thuốc với mắt: vì có nguy cơ gây kích ứng nghiêm trọng, thậm chí gây loét giác mạc nếu thuốc phun hay xịt lên mắt. Khi xảy ra tình huống này, cần rửa mắt ngay lập tức với dung dịch NaCl 0,9% (loại vô trùng dùng truyền tĩnh mạch).

Cần lưu ý đặc biệt khi dùng Navelbine trên các bệnh nhân người Nhật vì bệnh phổi mô kẽ được báo cáo xảy ra ở nhóm dân số này cao hơn.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc: Hiện chưa có nghiên cứu về tác động của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc, nhưng trên cơ sở dược động học, vinorelbine không gây ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, sự thận trọng là cần thiết ở những bệnh nhân được điều trị bằng vinorelbine vì một số tác dụng không mong muốn (xem mục Tác dụng ngoại ý).

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Hiện tại không đủ dữ kiện về việc sử dụng vinorelbine cho phụ nữ mang thai. Nghiên cứu trên động vật cho thấy vinorelbine gây độc thai nhi và gây quái thai.

Dựa trên kết quả nghiên cứu ở động vật và tác dụng dược lý của chất này, cho thấy vinorelbine có thể có nguy cơ gây độc cho thai và gây quái thai.

Không nên dùng Navelbine trong thai kỳ, trừ khi ích lợi điều trị cho bệnh nhân được mong đợi rõ rệt hơn so với nguy cơ tiềm tàng.

Nếu bệnh nhân có thai trong thời gian đang dùng thuốc này, bệnh nhân cần được thông báo về các nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi và cần được theo dõi sát. Nếu có điều kiện nên cho bệnh nhân tư vấn về di truyền.

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ:

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ phải sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong suốt quá trình điều trị và 3 tháng sau khi điều trị.

Thời kỳ cho con bú:

Hiện không rõ Navelbine có qua sữa mẹ hay không. Sự bài tiết Navelbine ra sữa mẹ chưa được nghiên cứu trên súc vật. Do không thể loại trừ nguy cơ cho đứa trẻ bú sữa mẹ, chúng ta cần ngưng cho bé bú sữa mẹ trước khi bắt đầu điều trị bằng Navelbine (xem mục Chống chỉ định).

Khả năng sinh sản:

Bệnh nhân nam đang được điều trị bằng Navelbine cần được khuyên không nên có con trong thời gian điều trị và ít nhất ba tháng sau khi ngưng điều trị. Trước khi điều trị, bệnh nhân cần được tư vấn việc bảo quản tinh trùng đông lạnh vì Navelbine có nguy cơ gây vô sinh tạm thời hay vĩnh viễn.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Dưới đây là bảng liệt kê (theo hệ cơ quan và theo tần suất) các tác dụng phụ được báo cáo không phải các trường hợp riêng lẻ.

Các tần suất được định nghĩa như sau: “rất thường gặp” (≥1/10), “thường gặp” (≥1/100, <1/10), “ít gặp” (≥1/1.000, <1/100), “hiếm gặp” (≥1/10.000, <1/1.000) và “rất hiếm gặp” (<1/10.000) theo quy ước xếp mức độ thường gặp các tác dụng phụ và xếp loại hệ cơ quan, MedDRA.

Phản ứng có hại thường gặp nhất được báo cáo là sự ức chế tủy xương kèm biểu hiện giảm bạch cầu hạt trung tính, thiếu máu, các rối loạn thần kinh, độc tính hệ tiêu hóa gồm buồn nôn, nôn, viêm dạ dày, táo bón, tăng men gan thoáng qua, rụng tóc, viêm tĩnh mạch khu trú.

Các phản ứng có hại được ghi nhận bổ sung sau khi thuốc đã đưa ra thị trường cũng được đưa vào theo bảng xếp loại MedRDA, với tần suất ghi là “không rõ”.

Rất thường gặp: ≥1/10

Thường gặp: ≥1/100, <1/10

Ít gặp: ≥1/1.000, <1/100

Hiếm gặp: ≥1/10.000, <1/1.000

Rất hiếm gặp: <1/10.000

Không rõ: Các trường hợp được báo cáo sau khi thuốc đã đưa ra thị trường.

Thông tin chi tiết về các tác dụng phụ của thuốc:

Các phản ứng được mô tả theo bảng xếp loại của WHO (grade 1 = G1; grade 2 = G2; grade 3 = G3; grade 4 = G4; grade 1-4 = G1-4; grade 1-2 = G1=2; grade 3-4 = G3-4).

Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng

Thường gặp: Nhiễm khuẩn, nhiễm virus, nhiễm nấm ở nhiều vị trí khác nhau (hệ hô hấp, tiết niệu, tiêu hóa…) mức độ từ nhẹ đến vừa, thường có thể hồi phục với điều trị thích hợp.

Ít gặp: Sốc nhiễm trùng nặng có kèm suy chức năng tạng. Nhiễm khuẩn huyết.

Rất hiếm gặp: Nhiễm khuẩn huyết đôi khi gây tử vong.

Không rõ: Sốc nhiễm trùng do giảm bạch cầu hạt.

Rối loạn hệ tạo máu và lymphô

Rất thường gặp: Ức chế tủy xương, dẫn đến chủ yếu là giảm bạch cầu hạt trung tính (G3: 24,3%; G4: 27,8%), có thể hồi phục sau 5-7 ngày và không có tính tích lũy theo thời gian. Thiếu máu (G3-4: 7,4%).

Thường gặp: Giảm tiểu cầu (G3-4: 2,5%), hiếm khi nghiêm trọng.

Không rõ: Sốt giảm số lượng bạch cầu hạt trung tính. Giảm cả ba dòng tế bào máu (pancytopenia).

Rối loạn hệ miễn dịch

Không rõ: Phản ứng dị ứng hệ thống, như triệu chứng phản vệ, sốc phản vệ, hoặc phản ứng dạng sốc phản vệ.

Rối loạn hệ nội tiết

Không rõ: Hội chứng tiết ADH không thích hợp (SIADH).

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng

Hiếm gặp: Giảm nặng Natri máu.

Không rõ: Chán ăn.

Rối loạn hệ thần kinh

Rất thường gặp: Rối loạn thần kinh (G3-4: 2,7%), bao gồm mất phản xạ gân sâu. Yếu chi dưới: được ghi nhận sau thời gian dài hóa trị.

Ít gặp: Dị cảm nặng với bất thường cảm giác và/hoặc vận động. Các tác dụng phụ này thường có thể hồi phục khi ngưng dùng Navelbine.

Rối loạn ở tim

Hiếm gặp: Bệnh tim thiếu máu cục bộ, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đôi khi gây tử vong.

Rất hiếm gặp: Nhịp tim nhanh, hồi hộp đánh trống ngực, các rối loạn nhịp khác.

Rối loạn hệ mạch máu

Ít gặp: Huyết áp thấp, cao huyết áp, đỏ bừng mặt, lạnh ngoại vi.

Hiếm gặp: Huyết áp thấp nghiêm trọng, suy tuần hoàn.

Hệ hô hấp và các rối loạn trong lồng ngực, trung thất

Ít gặp: Khó thở, co thắt phế quản có thể xảy ra khi điều trị bằng Navelbine tương tự khi điều trị với các vinca alkaloids khác.

Hiếm gặp: Bệnh phổi mô kẽ đôi khi gây tử vong.

Rối loạn hệ tiêu hóa

Rất thường gặp:

Viêm niêm mạc (G1-4: 15%) khi điều trị Navelbine đơn hóa trị.

Buồn nôn, nôn (G1-2: 30,4%; G3-4: 2,2%). Điều trị chống nôn có thể giúp giảm tần suất xảy ra các triệu chứng này.

Táo bón: là triệu chứng chính (khi điều trị Navelbine đơn chất: táo bón G3-4: 2,7%; khi Navelbine phối hợp với các thuốc hóa trị khác: táo bón G3-4: 4,1%). Một số trường hợp hiếm có thể dẫn đến liệt ruột.

Thường gặp: Tiêu chảy, thường từ nhẹ đến vừa.

Hiếm gặp: Liệt ruột. Có thể dùng lại khi có nhu động ruột trở lại. Viêm tụy cấp.

Rối loạn hệ gan – mật

Rất thường gặp: Tăng tạm thời men gan trên các xét nghiệm chức năng gan (G1-2) mà lâm sàng không triệu chứng (tăng AST: 27,6%; tăng ALT: 29,3%).

Rối loạn da và mô dưới da

Rất thường gặp: Rụng tóc thường mức độ nhẹ, (G3-4: 4,1% khi dùng Navelbine đơn chất).

Hiếm gặp: Phản ứng da toàn thân.

Không rõ: Nổi ban đỏ ở tay và chân.

Rối loạn mô liên kết và hệ cơ xương

Thường gặp: Đau khớp, bao gồm cả đau hàm và đau cơ.

Các rối loạn chung và tình trạng tại vị trí tiêm thuốc

Rất thường gặp: Phản ứng tại vị trí tiêm có thể bao gồm hồng ban, đau bỏng rát, thay đổi màu tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch cục bộ (local phlebitis) (G3-4: 3,7% khi dùng Navelbine đơn chất).

Thường gặp: Suy nhược, mệt mỏi, sốt, đau nhức ở nhiều vị trí khác nhau bao gồm cả đau vùng ngực, đau vùng bướu đã được ghi nhận ở bệnh nhân điều trị bằng Navelbine.

Hiếm gặp: Hoại tử cục bộ. Các tác dụng phụ này có thể giảm bằng cách đảm bảo rằng khi tiêm thuốc, kim tiêm phải nằm đúng trong lòng mạch hay catheter trong đúng tĩnh mạch, và cần bơm thuốc kiểu bolus (“bơm dây”), sau đó xả dịch truyền tự do vào tĩnh mạch (“rửa” tĩnh mạch) vừa bơm.

Báo cáo tác dụng phụ:

Báo cáo các triệu chứng nghi là tác dụng phụ của thuốc sau khi dược phẩm đã được đưa ra thị trường là công việc rất quan trọng.

Nhờ việc này, chúng ta sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá sự cân bằng giữa hiệu quả và nguy cơ của thuốc.

Các nhân viên y tế được yêu cầu báo cáo bất kỳ tác dụng phụ nghi ngờ nào thông qua hệ thống cảnh báo dược quốc gia.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Đa số tác dụng phụ của vinorelbin có thể phục hồi được. Nếu có các tác dụng phụ nặng trong khi dùng vinorelbin thì phải ngừng dùng thuốc hoặc phải giảm liều và áp dụng các biện pháp phù hợp. Phải thận trọng nếu sử dụng lại và đề phòng khả năng bị độc trở lại (xem phần Điều chỉnh liều).

Dặn người bệnh không tiêm vắc xin trong quá trình dùng thuốc (do thuốc ức chế miễn dịch).

Nói rõ các tác dụng độc của thuốc, các triệu chứng của bị độc (nhất là các triệu chứng đòi hỏi cấp cứu như suy hô hấp, co thắt phế quản, thủng ruột…) cho người bệnh và dặn phải báo ngay cho thầy thuốc để có can thiệp kịp thời.

Nếu tiêm tĩnh mạch: Phải thật chắc chắn là kim tiêm hoặc ống catheter đã nằm trong lòng mạch thì mới bơm thuốc để tránh thuốc ra ngoài gây hoại tử mô và/hoặc viêm tắc tĩnh mạch. Ngừng truyền ngay nếu nghi ngờ thuốc ra ngoài mạch máu và hút dịch ra khỏi catheter càng nhiều càng tốt. Đánh giá tổn thương. Pha loãng hyaluronidase trong dung dịch natri clorid 0,9% để có nồng độ 15 đơn vị/ml rồi tiêm 150 đơn vị vào vùng bị thoát thuốc ra ngoài. Nếu cần thì chườm nóng. Nếu bị tổn thương nặng thì có thể cần can thiệp phẫu thuật để cắt bỏ chỗ dính.

Để tránh các phản ứng tại chỗ: Nên tiêm tĩnh mạch trong thời gian từ 6 đến 10 phút, không nên tiêm lâu tới 20 phút; nếu truyền tĩnh mạch thì nên truyền nhanh 100 ml dịch trước truyền thuốc và sau khi đã truyền xong thuốc thì truyền tiếp 400 ml dịch có thêm dexamethason.

Nếu bị hội chứng rối loạn bài tiết ADH: Điều trị hỗ trợ, hạn chế truyền dịch, kiểm soát chặt chẽ nước và điện giải.

Nếu bị suy tủy: Dùng yếu tố kích thích tạo máu để làm giảm hiện tượng giảm bạch cầu hạt: Filgrastim 5 microgam/kg/ngày tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch; Sargramostim: 250 microgam/m2/ngày truyền tĩnh mạch trong 4 giờ. Theo dõi công thức máu toàn phần. Nếu bị độc thần kinh: Điều trị triệu chứng. Các triệu chứng thường cục bộ và hồi phục hoàn toàn sau khi ngừng dùng thuốc.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Tương tác chung cho tất cả thuốc độc tế bào

Chống chỉ định dùng đồng thời (xem mục Chống chỉ định)

Vaccine ngừa bệnh sốt vàng: do tăng nguy cơ phản ứng nặng toàn thân liên quan với vaccine.

Không khuyến cáo dùng đồng thời (xem mục Cảnh báo)

Vaccine sống giảm độc lực (riêng vaccine ngừa bệnh sốt vàng: chống chỉ định): Nguy cơ phản ứng nặng toàn thân liên quan với vaccine, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này gia tăng ở bệnh nhân bị ức chế miễn dịch do bệnh lý kèm theo của họ. Vì vậy người ta khuyên dùng vaccine chứa mầm bệnh bị bất hoạt (kiểu vaccine ngừa bệnh bại liệt) nếu có dạng này.

Phenytoin (và, bằng cách ngoại suy, fosphenytoin): Không khuyên dùng do các thuốc độc tế bào làm nguy cơ tăng các cơn động kinh do giảm hấp thu phenytoin ở đường tiêu hóa. Mặt khác phenytoin hoặc fosphenytoin làm giảm hiệu quả các thuốc độc tế bào do gia tăng chuyển hóa ở gan.

Cần thận trọng khi dùng đồng thời

Chất đối kháng vitamin K: Gia tăng nguy cơ huyết khối và xuất huyết trong bệnh lý khối u. Ngoài ra, có thể có tương tác thuốc giữa thuốc đối kháng vitamin K và hóa trị liệu. Cần theo dõi INR thường xuyên hơn.

Kháng sinh họ macrolide (clarithromycin, erythromycin, telithromycin): Làm gia tăng độc tính của thuốc chống phân bào, vì clarithromycin, erythromycin hay telithromycin làm giảm chuyển hóa thuốc chống phân bào ở gan. Cần theo dõi sát trên lâm sàng, xét nghiệm labo. Nếu có thể, nên đổi dùng một loại kháng sinh khác.

Cobicistat: Gia tăng độc tính thần kinh của thuốc chống phân bào vì cobicistat làm giảm chuyển hóa thuốc chống phân bào ở gan. Cần theo dõi sát trên lâm sàng. Nếu có thể, nên chỉnh liều thuốc chống phân bào.

Cần xem xét khi dùng đồng thời

Thuốc ức chế miễn dịch (cyclosporin, everolimus, sirolimus, tacrolimus): Quá trình ức chế miễn dịch xảy ra quá mức làm tăng nguy cơ xảy ra các rối loạn tăng sinh lymphô.

Các tương tác thuốc đặc trưng của các vinca alkaloid

Không khuyến cáo dùng đồng thời (xem mục Cảnh báo)

Itraconazole, posaconazole, ketoconazole: Tăng độc tính thần kinh của các vinca-alkaloid do giảm chuyển hóa ở gan do itraconazole, ketoconazole, posaconazole.

Cần thận trọng khi dùng đồng thời

Thuốc ức chế protease: Gia tăng độc tính của thuốc chống phân bào do giảm chuyển hóa ở gan do thuốc ức chế protease. Theo dõi sát trên lâm sàng và có thể chỉnh liều thuốc chống phân bào.

Cần xem xét khi dùng đồng thời

Mitomycin C: Tăng nguy cơ độc trên phổi của mitomycin và của vinca alkaloid (xem mục Tác dụng ngoại ý).

Do vinca alkaloid được biết là cơ chất cho glycoprotein P, nên tuy không có các nghiên cứu chuyên biệt, chúng ta cũng cần thận trọng khi phối hợp Navelbine với các thuốc điều hòa mạnh chất vận chuyển qua màng này.

Các tương tác thuốc đặc trưng của vinorelbine

Vinorelbine chủ yếu được chuyển hóa qua hệ thống men CYP3A4. Vì vậy kết hợp thuốc điều trị ung thư gồm vinorelbine với các thuốc ức chế các đồng phân của hệ thống men CYP3A4 có thể làm tăng nồng độ vinorelbine trong máu. Phối hợp thuốc gồm các chất gây cảm ứng mạnh các đồng phân của men này có thể làm giảm nồng độ của vinorelbine (xem mục Cảnh báo).

Kết hợp điều trị gồm Navelbine và các thuốc khác loại gây độc trên tủy xương có thể khiến tác dụng phụ ức chế tủy nặng hơn.

Không có sự tương tác qua lại về dược động học khi phối hợp hóa trị gồm vinorelbine và cisplatin trong suốt nhiều chu kỳ hóa trị. Tuy nhiên tần suất xảy ra giảm bạch cầu hạt liên quan với Navelbine xảy ra cao hơn khi sử dụng kết hợp Navelbine và cisplatin, so với khi dùng Navelbine đơn chất.

Thuốc chống nôn như thuốc đối kháng 5HT3 (ví dụ như ondansetron, granisetron) không làm thay đổi dược động học của viên nang mềm Navelbine (xem phần Cảnh báo).

Thực phẩm không thay đổi dược động học của vinorelbine.

Navelbine IV: Một nghiên cứu pha I dùng vinorelbine tiêm tĩnh mạch phối hợp với lapatinib cho thấy tăng tần suất các trường hợp giảm bạch cầu trung tính (bạch cầu trung tính giảm độ 3/4). Trong nghiên cứu vừa đề cập, liều khuyến cáo dùng của vinorelbine tiêm tĩnh mạch là 22,5 mg/m2 dùng ngày 1 và ngày 8 mỗi 3 tuần, còn lapatinib kết hợp thì dùng liều 1.000 mg mỗi ngày. Vì vậy, các kết hợp này cần chỉ định thận trọng.

4.9 Quá liều và xử trí:

Triệu chứng: Quá liều Navelbine có thể làm giảm sinh tủy xương, đôi khi kèm nhiễm trùng, sốt, liệt ruột. Quá liều Navelbine có thể gây rối loạn chức năng gan.

Điều trị cấp cứu: Các phương pháp điều trị nâng đỡ chung, phối hợp truyền máu, dùng yếu tố kích thích tủy xương và kháng sinh phổ rộng, nên tiến hành sớm tùy đánh giá của bác sĩ điều trị. Cần theo dõi chặt chẽ chức năng gan khi quá liều Navelbine.

Chất đối kháng (antidote): Hiện tại chưa có chất đối kháng của Navelbine.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý trị liệu: Thuốc chống ung thư độc tế bào thuộc họ vinca alkaloid.

Mã ATC: L01CA04 (L – Các thuốc chống ung thư và điều tiết miễn dịch).

Navelbine là thuốc chống ung thư loại vinca alkaloid, nhưng không giống các vinca alkaloid khác, thành phần catharantin của vinorelbin được biến đổi về mặt cấu trúc. Ở mức độ phân tử, vinorelbin tác động lên sự cân bằng động của tubulin trong phức bộ vi ống của tế bào. Vinorelbin ức chế sự polymer hóa của tubulin và liên kết chọn lọc ưu tiên với các vi ống phân bào. Chỉ ở liều cao vinorelbin mới tác động lên vi ống trong sợi trục của các tế bào thần kinh. Navelbine gây khởi phát sự xoắn của tubulin ít hơn tác động này của vincristin.

Navelbine ngăn chặn phân bào ở giai đoạn G2+M, làm tế bào chết ở giai đoạn gian kỳ hoặc ở lần phân bào tiếp theo.

Ở bệnh nhân trẻ em, độ an toàn và hiệu quả của Navelbine chưa được xác định. Các dữ liệu lâm sàng từ 2 nghiên cứu pha II không chia nhóm sử dụng Navelbine tiêm tĩnh mạch, với cỡ mẫu 33 và 46 bệnh nhi bị bướu đặc tái phát (bao gồm sarcôm cơ vân, các loại sarcôm phần mềm khác, sarcôm Ewing, sarcôm mỡ, sarcôm bao hoạt dịch, sarcôm sợi, ung thư hệ thần kinh trung ương, sarcôm xương, bướu nguyên bào thần kinh. Liều sử dụng của vinorelbine trong các nghiên cứu này là 30-33,75 mg/m2, dùng ngày 1 và ngày 8 của chu kỳ 21 ngày, hay 1 lần mỗi tuần trong 6-8 tuần. Kết quả cho thấy không có hiệu quả lâm sàng nào có ý nghĩa. Dữ liệu về độc tính của thuốc trên bệnh nhi tương tự các độc tính gặp ở người lớn (xem mục Liều lượng và Cách dùng).

Cơ chế tác dụng:

Vinorelbin gắn vào tubulin là protein trong vi quản của suốt phân bào. Phức hợp tubulin-vinorelbin cản trở sự trùng hợp của các tiểu đơn vị tubulin nên các vi quản trong tế bào không được hình thành. Sự phân bào bị chặn lại ở các pha M và S. Thuốc cũng có thể ảnh hưởng lên hô hấp tế bào, lên hoạt tính ATPase, lên sự vận chuyển calci nhờ calmodulin, lên chuyển hóa của acid amin, AMP và glutation.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Các thông số dược động học của Navelbine được đánh giá trong máu.

Phân bố thuốc

Thể tích phân bố thuốc ở trạng thái cân bằng của Navelbine lớn, trung bình khoảng 21,2 L/kg (dao động 7,5 – 39,7 L/kg), cho thấy sự phân bố rộng rãi vào mô.

Navelbine gắn kết ít với proteine huyết tương (13,5%). Tuy nhiên thuốc này gắn kết chặt chẽ với tế bào máu, đặc biệt là tiểu cầu (78%).

Có sự hấp thu rõ rệt vinorelbine ở phổi, như đánh giá qua sinh thiết mô phổi, với mức độ cao hơn trong huyết thanh đến 300 lần. Vinorelbin không vào được hệ thần kinh trung ương.

Chuyển hóa sinh học

Tất cả các chất chuyển hóa của vinorelbine đều tạo thành bởi các đồng phân của hệ thống men CYP3A4, thuộc hệ cytochrome P450, ngoại trừ chất chuyển hóa 4-O-deacetylvinorelbin có khả năng tạo thành do enzyme carboxyl esterase. Chất 4-O-deacetylvinorelbin là chất chuyển hóa duy nhất hoạt động và là chất chuyển hóa chính được tìm thấy trong máu.

Không tìm thấy chất chuyển hóa của vinorelbin ở dạng kết hợp sulfat hoặc glucuronid.

Thải trừ

Thời gian bán thải của vinorelbin trung bình khoảng 40 giờ. Sự thanh thải khỏi máu rất cao, đạt khoảng lưu lượng máu ở gan, và trung bình khoảng 0,72 L/giờ/kg (khoảng 0,32 – 1,26 L/giờ/kg). Thải trừ qua thận thấp (<5% liều dùng đối với dạng viên và <20% liều đối với dạng tiêm tĩnh mạch) và bao gồm chủ yếu các hợp chất gốc ban đầu. Thải trừ qua đường mật là đường thải trừ chủ yếu, ở dạng vinorelbin không bị biến đổi (là dạng hợp chất phục hồi chính) và các dạng chất chuyển hóa.

Các nhóm bệnh nhân đặc biệt

Bệnh nhân suy thận, suy gan:

Hiện chưa có nghiên cứu đầy đủ về ảnh hưởng của tình trạng suy chức năng thận lên thải trừ của vinorelbin. Tuy nhiên, không cần thiết giảm liều vinorelbin trong trường hợp giảm chức năng thận, vì thuốc này ít thải trừ qua thận.

Navelbine IV: Ảnh hưởng của tình trạng rối loạn chức năng gan trên dược động học của thuốc được báo cáo đầu tiên trong một nghiên cứu ở bệnh nhân bị ung thư vú di căn gan. Nghiên cứu này kết luận là chỉ ghi nhận được sự thay đổi độ thanh thải trung bình của vinorelbine khi gan xâm nhiễm >75%. Một nghiên cứu khác, pha I, khảo sát về chỉnh liều thuốc, tiến hành ở bệnh nhân ung thư có kèm rối loạn chức năng gan trong đó: 6 bệnh nhân bị rối loạn mức độ vừa (bilirubin ≤2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường [2 x UNL]) và men gan ≤5 x UNL), được điều trị vinorelbine với liều 25 mg/m2; và 8 bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan nặng (bilirubin >2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường [2 x UNL]) và/hoặc men gan >5 x UNL), dùng liều Vinorelbin tối đa đến 20 mg/m2. Độ thanh thải trung bình ở hai nhóm bệnh nhân này tương tự độ thanh thải của vinorelbin ở các bệnh nhân có chức năng gan bình thường. Vì vậy dược động học của vinorelbin không thay đổi khi bệnh nhân có tình trạng rối loạn chức năng gan bất kỳ mức độ nào. Tuy nhiên, với cách tiếp cận thận trọng, nên giảm liều Navelbine ở các bệnh nhân suy chức năng gan nặng (còn 20 mg/m2) và theo dõi sát các thông số huyết học khi dùng Navelbine.

Bệnh nhân lớn tuổi: Một nghiên cứu dùng Navelbine ở bệnh nhân lớn tuổi (≥70 tuổi) mắc bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC), cho thấy dược động học của Navelbine không bị ảnh hưởng bởi độ tuổi. Tuy nhiên, do bệnh nhân lớn tuổi thường yếu, chúng ta cần sử dụng Navelbine thận trọng khi tăng dần liều (xem mục Liều lượng và Cách dùng).

Mối liên hệ dược lực học – dược động học

Mối liên hệ chặt chẽ đã được chỉ ra giữa sự xuất hiện vinorelbin trong máu với sự giảm tế bào bạch cầu và bạch cầu đa nhân trung tính.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Nước cất tinh khiết….

6.2. Tương kỵ :

Không pha thuốc bằng các dung dịch kiềm vì gây tủa.

Không pha lẫn vinorelbin với bất kỳ thuốc nào.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản thuốc ở trong tủ lạnh từ 2°C – 8°C. Bảo quản trong bao bì gốc đã đóng kín.

Không lưu trữ Navelbine IV ở dạng cấp đông thuốc.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM