Thuốc Valsar H là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Valsar H (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Valsartan

Phân loại: Thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II. Thuốc chống tăng huyết áp

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): D06B B03, J05A B01, S01A D03.

Biệt dược gốc: Diovan

Biệt dược: Valsar H

Hãng sản xuất : Hetero Labs Limited

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim: 80 mg.

Thuốc tham khảo:

VALSAR H 80
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Valsartan …………………………. 80 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Tăng huyết áp: Điều trị tăng huyết áp vô căn ở người lớn, tăng huyết áp ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 đến 18 tuổi.

Suy tim: Điều trị suy tim có triệu chứng trên các bệnh nhân người lớn khi không dùng được các chất ức chế enzym chuyển đổi Angiotensin (ACE), hoặc sử dụng như liệu pháp bổ sung cho chất ức chế ACE khi không dùng được chất chẹn beta.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Valsartan có thể dùng không phụ thuộc với các bữa ăn và nên uống với nước.

Liều dùng:

Tăng huyết áp:

Liều khởi đầu khuyến cáo là 80mg valsartan/ngày một lần. Tác dụng chống tăng huyết áp chủ yếu sẽ đạt được sau hai tuần, và đạt hiệu quả tối đa trong vòng 4 tuần. Đối với một số bệnh nhân mà huyết áp không được kiểm soát một cách phù hợp, có thể tăng liều dùng lên 160mg/ngày và tới liều tối đa là 320mg/ngày một lần. Có thể dùng valsartan cùng với các thuốc điều trị huyết áp khác. Dùng bổ sung chất lợi tiểu như hydrochlorothiazid sẽ giúp làm giảm huyết áp hơn nữa ở các bệnh nhân này.

Suy tim:

Liều khởi đầu khuyến cáo là 40mg ngày hai lần. Sau đó tăng dần lên 80mg và 160mg ngày hai lần với khoảng cách tối là hai tuần giữa mỗi lần chỉnh liều, tùy theo mức độ dung nạp của từng bệnh nhân. Cần cân nhắc giảm liều các thuốc lợi tiểu dùng. Liều tối đa được dùng trong các nghiên cứu lâm sàng là 320mg chia làm hai lần. Có thể dùng valsartan cùng các thuốc điều trị suy tim khác. Tuy nhiên không khuyến cáo sử dụng đồng thời với cả thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) và thuốc chẹn beta. Việc đánh giá bệnh nhân bị suy tim phải luôn bao gồm đánh giá chức năng thận.

Thông tin bổ sung trên các đối tượng cụ thể.

Người lớn tuổi: Không cần điều chỉnh liều.

Suy thận: Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinin > 10mL/phút.

Suy gan:

Valsartan chống chỉ định ở bệnh nhân suy gan nặng, bệnh xơ gan mật và ứ mật. Trên bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình không bị ứ mật, liều dùng valsartan không nên vượt quá 80 mg.

Trẻ em:

Tăng huyết áp ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 đến 18 tuổi:

Liều khởi đầu 40 mg ngày một lần ở trẻ cân nặng dưới 35kg và 80 mg ngày một lần ở trẻ cân nặng 35kg trở lên. Liều phải được điều chỉnh dựa trên đáp ứng đối với huyết áp. Đối với liều tối đa được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng đề nghị xem bảng dưới đây. Liều cao hơn liều liệt kê chưa được nghiên cứu và do đó không khuyến cáo dùng:

Cân nặng Liều tối đa khuyến cáo
>18 kg – <35 kg 80 mg
>35 kg – <80 kg 160 mg
580 kg – <160 kg 320 mg

Trẻ em dưới 6 tuổi: Các dữ liệu hiện có được mô tả trong phần dược lực học và dược động học. Tuy nhiên, chưa rõ độ an toàn và hiệu quả của thuốc valsartan trên trẻ em từ 1 đến 6 tuổi. Vì vậy khuyến cáo không dùng Valsartan cho trẻ em từ 1 đến 6 tuổi

Sử dụng trên bệnh nhân trẻ em từ 6 đến 18 tuổi suy thận: Việc dùng thuốc đối với bệnh nhi có độ thanh thải creatinin <30 ml/phút và bệnh nhi trải qua lọc máu chưa được nghiên cứu do đó không khuyến cáo dùng thuốc valsartan trên các bệnh nhân này. Không cần điều chỉnh liều cho các bệnh nhi có độ thanh thải creatinin >30 ml/phút. Cần theo dõi chặt chế chức năng thận và kali huyết thanh.

Sử dụng trên bệnh nhi từ 6 đến 18 tuổi suy gan: Cũng như trên người lớn, valsartan chống chỉ định trên bệnh nhi bị suy gan nặng, xơ gan tắc mật và trên bệnh nhân bị ứ mật. Các kinh nghiệm lâm sàng sử dụng thuốc valsartan trên bệnh nhi suy gan ở mức độ nhẹ đến vừa vẫn còn hạn chế. Liều lượng valsartan không được vượt quá 80 mg trên các bệnh nhân này.

Suy gan và gần đây mắc nhồi máu cơ tim trên các bệnh nhi: Không khuyên cáo sử dụng valsartan đề điều trị suy tim hoặc bị nhồi máu cơ tim gần đây trên trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi do thiếu dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược nào.

Suy gan nặng, xơ gan tắc mật và ứ mật.

Mang thai ở 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối thai kỳ.

4.4 Thận trọng:

Tăng kali huyết

Không khuyến cáo sử dụng đồng thời với thực phẩm bổ sung có kali, thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali, chế phẩm thay thế muối có kali hoặc các thuốc có thể làm tăng kali khác (như heparin…). Nên theo dõi nồng độ kali một cách hợp lý.

Suy giảm chức năng thận

Hiện chưa có kinh nghiệm về an toàn khi sử dụng valsartan cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 10 mL/ phút và bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo, vì vậy thận trọng khi sử dụng ở những bệnh nhân này. Không cần hiệu chỉnh liều cho người lớn có độ thanh thải > 10 mL/ phút.

Suy gan

Thận trọng khi sử dụng valsartan cho bệnh nhân suy gan ở mức độ nhẹ đến vừa phải.

Bệnh nhân mất natri và/hoặc mất thể tích

Trên các bệnh nhân mất natri và/hoặc mất dịch nặng trong trường hợp dùng liều cao các thuốc lợi tiểu có thể xuất hiện triệu chứng hạ huyết áp sau khi bắt đầu điều trị bằng valsartan. Cần điều trị mất natri và/hoặc mất dịch trước khi bắt đầu điều trị bằng valsartan, ví dụ bằng cách giảm liều thuốc lợi tiểu.

Hẹp động mạch thận

Chưa rõ việc sử dụng an toàn thuốc valsartan trên các bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp một bên. Độ an toàn của việc sir dung valsartan chưa được nghiên cứu. Sử dụng valsartan trong thời gian ngắn trên 12 bệnh nhân có hiện tượng tăng huyết áp do động mạch thận thứ cấp chuyển thành hẹp động mạch thận một bên không gây ra bất kỳ thay đổi đáng kể nào về huyết động lực ở thận, creatinin huyết thanh hoặc urê huyết (BUN). Tuy nhiên. các tác nhân khác ảnh hường tới hệ thống angiotensin ở thận có. thể lam tang ure huyết và creatinin huyết thanh trên bệnh nhân hẹp dòng mạch ở thận một bên, do đó cần theo dõi chức năng thận khi điều trị cho bệnh nhân bằng thuốc valsartan.

Ghép thận

Hiện chưa có kinh nghiệm về an toàn khi dùng valsartan cho bệnh nhân đã được ghép thận.

Tăng aldosterone nguyên phát

Các bệnh nhân tăng aldosterone nguyên phát không nên điều trị bằng Valsartan do hệ thống renin-angiotensin của họ không hoạt động.

Hẹp động mạch chủ và van hai lá, cơ tim phì đại tắc nghẽn

Cũng như các thuốc giãn mạch khác, thận trọng đặc biệt khi chỉ định dùng thuốc ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch chủ hoặc van hai lá, bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn (HOCM).

Các hiện tượng kích thích của hệ thống angiolensin ở thận: Trên các bệnh nhân mà chức năng thận phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống renin-angiotensin (ví đụ như bệnh nhân suy tim sung huyết nặng). việc điều trị với các thuốc ức chế eazym angiotensin chuyên đổi liên quan đến đái ít và/ hoặc tăng u rễ máu tiễn triển và trong một số trường hợp hiếm gặp có suy thận cấp và/ hoặc tử vong. Do valsartan là thuốc kháng angiotensin II, không loại trừ việc sử dụng valsartan có thể liên quan đến suy giảm chức năng thận.

Đối tượng là trẻ em:

Suy giảm chức năng thận

Sử dụng thuốc trên các bệnh nhi có độ thanh thải creatinin < 30 mL/ phút hoặc đang được chạy thận nhân tạo do chưa có nghiên cứu sử dụng thuốc trên những đối tượng này. Không cần hiệu chỉnh liều cho trẻ em có độ thanh thải creatinin > 30 mL/ phút. Cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận và kali huyết thanh khi điều trị với valsartan. Đặc biệt là dùng valsartan khi có sự hiện diện của những tình trạng khác (sốt, mất nước) dễ làm giảm chức năng thận.

Suy giảm chức năng gan

Cũng như với người lớn, valsartan chống chỉ định ở trẻ em bị suy gan nặng, xơ gan mật và ứ mật. Các kinh nghiệm lâm sàng sử dụng valsartan cho trẻ em bị suy gan nhẹ đến vừa còn hạn chế. Liều dùngvalsartan không vượt quá 80 mg trên các bệnh nhân này.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có nghiên cứu về tác dụng của thuốc lên khả năng lái xe. Khi lái xe hoặc vận hành máy móc đôi khi có thể xảy ra chóng mặt hoặc mệt mỏi.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Không sử dụng thuốc kháng thụ thể Angiotensin II (AITRAs) trong khi mang thai. Trừ khi sự tiếp tục liệu pháp AIIRAs là thực sự cần thiết, bệnh nhân dự định mang thai phải chuyển sang liệu pháp điều trị tăng huyết áp thay thế để đảm bảo an toàn trong thời kỳ mang thai. Khi được chẩn đoán có thai. Cần ngừng ngay việc điều trị bằng AIIRAs, và bắt đầu sử dụng liệu pháp thay thế nếu thích hợp.

Thời kỳ cho con bú:

Do không có thông tin về việc sử dụng valsartan trong thời kỳ cho con bú, không khuyến cáo sử dụng valsartan và nên sử dụng liệu pháp điều trị thay thế để đảm bảo an toàn hơn trong thời kỳ cho con bú, đặc biệt trong thời kỳ nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hoặc trẻ đẻ non.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Trong các nghiên cứu lâm sàng có kiểm chứng trên bệnh nhân bị tăng huyết áp, tần suất chung bị các phản ứng phụ (ADRs) được so sánh với giả dược và phù hợp với tính chất dược lý của valsartan. Tỷ lệ ADR không liên quan đến liều dùng hoặc thời gian điều trị và cũng cho thấy không có liên quan với giới tính, tuổi tác hoặc chủng tộc. Các ADR được báo cáo từ các nghiên cứu lâm sàng, kinh nghiệm sau khi thuốc ra thị trường và cácphát hiện về các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm được liệt kê dưới đây theo từnghệ cơ quan trong cơ thể:

Các phản ứng phụ được xếp loại theo tần suất, đầu tiên là hay gặp nhất, sử dụng quy ước sau đây: rất hay gặp (≥1/10); hay gặp (≥1/100, <1/10); ít gặp (≥1/1.000, <1/100); hiếm gặp (≥1/10.000, <1/1.000); rất hiếm gặp (<1/10.000) bao gồm cả các báo cáo đơn lẻ. Với mỗi nhóm tần suất, các phản ứng phụ được xếp loại theo thứ tự độ nghiêm trọng giảm dần.

Đối với tất cả các ADR được báo cáo từ các kinh nghiệm sau khi thuốc ra thị trường và các phát hiện về các Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm, không thể xác định tần số cho bất kỳ ADR nào và đo đó được ghi là tần số “chưa biết “,

Rối loạn hệ thống máu và bạch cầu
Chưa được biết Giảm hemoglobin, giảm tỷ lệ hồng cầu, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu
Rối loạn hệ miễn dịch
Chưa được biết Quá mẫn bao gồm cả bệnh huyết thanh
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Chưa được biết Tăng Kali huyết
Rối loạn tai và hệ thống tai trong
Không phổ biến Chóng mặt, hoa mắt.
Rối loạn mạch
Chưa được biết Viêm mạch
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
Không phổ biến Ho
Rối loạn hệ tiêu hóa
Không phổ biến Đau bụng
Rối loạn gan-mật
Chưa được biết Tăng các thông số trong đánh giá chức năng gan bao gồm tăng bilirubin huyết thanh
Rối loạn da và mô dưới da
Chưa được biết Phù mạch, phát ban, ngứa
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết
Chưa được biết Chứng đau cơ
Rối loạn thận và tiết niệu
Chưa được biết Suy thận và thiểu năng thận, tăng creatinin huyết thanh.
Rối loạn toàn thân
Không phổ biến Mệt mỏi

*

Đối tượng trẻ em:

Tăng huyết áp: Tác dụng chống tăng huyết áp của valsartan đã được đánh giá trong hai nghiên cứu lâm sàng mù đôi ngẫu nhiên trên 561 bệnh nhân nhi từ 6 đến 18 tuổi. Ngoại trừ các-rối loạn gan ruột (đau bụng, buồn nôn, nôn) và chóng mặt, không có sự khác nhau về loại, tần suất và mức độ của tác dụng không mong muốn trong thông số an toàn trên bệnh nhân nhi từ 6 đến 18 tuổi và bệnh nhân người lớn đã được báo cáo..

Đánh giá khả năng nhận thức của hệ thần kinh và phát triển trí tuệ của bệnh nhi từ 6 đến 16 tuổi đã chứng tỏ không có tác động ngoại ý liên quan đến tổng quan về mặt lâm sàng sau điều trị bằng valsartan với thời gian lên tới một năm.

Trong cuộc nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi trên 90 trẻ em từ 1 đến 6 tuổi, cuộc nghiên cứu này tiếp tục mở rộng bằng một nghiên cửu nhãn mở trong một năm, đã ghi nhận hai trường hợp tử vong và các trường hợp tăng transaminase ở gan rõ rệt. Các trường hợp này xảy ra trên các đối tượng mắc các bệnh kèm theo.

Chưa xác định được nguyên nhân tương quan với valsartan. Trong cuộc nghiên cứu thứ hai trên 75 trẻ em được chọn ngẫu nhiên từ 1 đến 6 tuổi, khi điều trịbằng thuốc valsartan thì không ghi nhận thấy trường hợp tử vong hoặc tăng transaminase gan đáng kể.

Đã ghi nhận thây hiện tượng tăng kali máu phố biến hơn trên trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 đến 18 tuổi trước đây đã bị bệnh thận mãn tính.

Trong các cuộc nghiên cứu lâm sàng có kiểm chứng trên các bệnh nhân sau khi bị nhồi máu cơ tim và /hoặc suy tim, đã ghi nhận thấy có sự thay đổi về độ an toàn so với tổng quan về độ an toàn đã được ghi nhận trên các bệnh nhân tăng huyết áp. Điều này có thể liên quan đến các bệnh nhân đã có bệnh tiềm ẩn từ trước. Các tác dụng ngoại ý xảy ra trên các bệnh nhân sau khi bị nhồi máu cơ tìm và /hoặc suy tim được liệt kê dưới đây:

Rối loạn hệ thống máu và bạch cầu
Chưa được biết Giảm tiểu cầu
Rối loạn hệ miễn dịch
Chưa được biết Quá mẫn bao gồm cả bệnh huyết thanh
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Không phổ biến Tăng Kali huyết
Chưa được biết Tăng Kali huyết thanh
Rối loạn tai và hệ thống tai trong
Không phổ biến Chóng mặt, hoa mắt.
Rối loạn hệ thần kinh
Phổ biến Chóng mặt, chóng mặt tư thế
Không phổ biến Ngất xỉu, nhức đầu
Rối loạn trên tim
Không phổ biến Suy tim
Rối loạn trên mạch
Phổ biến Hạ huyết áp, hạ huyết áp tư thế đứng
Chưa được biết Viêm mạch
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
Không phổ biến Ho
Rối loạn hệ tiêu hóa
Không phổ biến Buồn nôn tiêu chảy
Rối loạn gan-mật
Chưa được biết Tăng giá trị các thông số trong đánh giá chức năng gan
Rối loạn da và mô dưới da
Không phổ biến Phù mạch,
Chưa được biết phát ban, ngứa
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết
Chưa được biết Chứng đau cơ
Rối loạn thận và tiết niệu
Phổ biến Suy thận và thiểu năng thận.
Không phổ biến Suy thận cấp, tăng creatinin huyết thanh
Chưa được biết tăng ure máu.
Rối loạn toàn thân
Không phổ biến Suy nhược, Mệt mỏi

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Trong quá trình nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát ở người tăng huyết áp, các ADR tương đương giữa nhóm điều trị bằng valsartan và nhóm dùng placebo. Tần suất ADR không phụ thuộc vào liều, thời gian điều trị, tuổi, giới tính hoặc dân tộc

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Không khuyến cáo dùng đồng thời:

Lithi

Việc tăng nồng độ Lithi trong huyết thanh và độc tính đã được báo cáo trong quá trình sử dụng đồng thời valsartan với các chất ức chế ACE. Do chưa có nghiên cứu về việc sử dụng đồng thời của valsartan và Lithi, sự kết hợp này không được khuyến cáo. Nếu cần thiết phải dùng kết hợp thuốc với Lithi, theo dõi cẩn thận nồng độ lithi trong huyết thanh.

Thuốc lợi tiểu giữ kali, bổ sung kali, các chất thay thế muối chứa kali và các chất khác có thể làm tăng nồng độ kali: Nếu sản phẩm thuốc ảnh hưởng đến nồng độ kali được sử dụng đồng thời với valsartan, cần theo dõi chặt chẽ nồng độ kali huyết tương.

Nếu việc kết hợp valsartan với các thuốc ảnh hưởng đến nồng độ kali là cần thiết kết hợp với, nên theo dõi nồng độ kali ở bệnh nhân.

Cần thận trọng khi sử dụng đồng thời:

Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), bao gồm chọn lọc COX-2 inhibitors, acid acetylsalicylic> 3 g / ngày), và NSAID không chọn lọc.

Khi chất đối kháng angiotensin II kết hợp với thuốc NSAID, có thể làm suy giảm tác dụng hạ huyết áp. Hơn nữa, việc kết hợp thuốc đối kháng angiotensin II và NSAID có thể dẫn đến tăng nguy cơ xấu đi của chức năng thận và tăng kali huyết thanh. Do đó, cần theo dõi chức năng thận khi bắt đầu điều trị cũng như bệnh nhân nên uống đủ nước..

Các vấn đề khác: Trong nghiên cứu tương tác thuốc của valsartan, không có tương tác đáng kể trên lâm sàng này được thấy khi dùng valsartan với các thuốc sau: Cimetidin, warfarin, furosemid, digoxin, atenolol, indometacin, hydroclorothiazid, amlodipin, glibenclamid.

Đối tượng là trẻ em: Tăng huyết áp ở trẻ em và thanh thiếu niên và có chức năng thận bất thường là phổ biển, cần thận trọng khi sử dụng đồng thời valsartan và các chất khác làm ức chế hệ thống renin angiotensin aldosteron điều này có thể làm tăng kali huyết thanh. Cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận và kali huyết thanh..

4.9 Quá liều và xử trí:

Triệu chứng

Quá liều valsartan có thể dẫn đến hạ huyết áp, nguyên nhân thể dẫn đến tình trạng hôn mê, tuần hoàn, trụy tuần hoàn và/hoặc sốc.

Xử lý

Các biện pháp điều trị phụ thuộc vào thời gian thuốc vào cơ thể và mức độ trầm trọng của các triệu chứng; giữ ổn định tình trạng tuần hoàn là quan trọng nhất. Nếu xuất hiện hạ huyết áp, bệnh nhân cần được đặt ở tư thế nằm ngửa và cần thực hiện điều chỉnh thể tích máu. Lọc máu ít có khả năng loại bỏ thuốc được valsartan.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Các nhóm dược học điều trị: kháng Angiotensin II, plain ATC code: CO9CA03.

Valsartan là chất hoạt động qua đường udng, đối kháng mạnh đặc hiệu với thụ thể angiotensin II (Ang II). Hoạt động một cách chọn lọc trên kiểu thụ thể AT1, vốn chịu trách nhiệm về các hoạt động của angiotensin II. Sự tăng nồng độ trong huyết tương của Ang II sau khi ức chế thụ thể AT1 với việc sử dụng valsartan có thể kích thích thụ thể AT; không bị ức chế, điều này giúp làm cân bằng tác dụng của thụ thể AT1. Valsartan không có biểu hiện hoạt động chủ vận từng phần tại thụ thể AT1 và có độ gắn kết thụ thể AT1lớn (gấp 20,000 lần) so với thụ thể AT1. Vẫn chưa rõ liệu valsartan gan kết hoặc chẹn các thụ thể hormon khác hoặc các kênh ion vốn được biết là rất quan trọng trong điều hoà tim mạch.

Valsartan không ức chế ACE (được biết như kininase II) vốn chuyển đổi Ang I thành Ang II và làm giảm bradykinin. Do thuốc không có tác dụng trên ACE và không có khả năng gây ra chất bradykinin hoặc sinh ra chất P, việc ức chế angiotensin II ít có khả năng lên quan đến hiện tượng ho.

Tăng huyết áp

Điều trị Valsartan cho bệnh nhân tăng huyết áp làm hạ huyết áp mà không ảnh hưởng tới nhịp tim. Trên hầu hết các bệnh nhân, sau khi dùng một liều duy nhất, tác dụng chống tăng huyết áp đạt được trong vòng 2 giờ, và hạ huyết áp tối đa đạt được trong vòng 4-6 giờ. Tác dụng chống tăng huyết áp duy trì trong hơn 24 giờ kể từ khi dùng thuốc. Trong thời gian dùng liều nhắc lại, mức giảm huyết. áp tối đa ở bất kỳ liều nào thường đạt được trong vòng 2-4 tuần và được duy trì trong suốt thời gian điều trị kéo dài. Nếu phối hợp với hydrochlorothiazid thì có thể đạt được mức hạ huyết áp thêm đáng kể. Ngừng điều trị đột ngột valsartan không gây tăng huyết áp phản hồi cũng như các biến chứng lâm sàng bất lợi khác. Valsartan đã được chứng minh là làm giảm bài tiết albumin qua nước tiểu ở những bệnh nhân tăng huyết áp bị bệnh tiểu đường tuýp 2 và albumin niệu vi lượng. Nghiên cứu MARVAL (Micro Albuminuria Reduction with Valsartan — Giam Albumin niệu vi lượng với Valsartan) đánh giá việc giảm bài tiết albumin qua nước tiểu (UAE) khi dùng Valsartan (80-160 mg ngay 1 lần) so sánh với khi dùng amlodipin (5-10 mg ngày 1 lần) trên 332 bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 (tuổi trung bình: 58, trong đó 265 bệnh nhân là đàn ông) kèm albumin niệu vi lượng (tốc độ bài tiết albumin ở nhóm valsartan: 58 mcg/phút, ở nhóm amlodipin: 55.mcg/phút), huyết áp cao hoặc bình thườngvà chức năng thận được bảo vệ (creatinin máu < 120 mcmol/l). Tại tuần 24, bài tiết albumin qua nước tiểu giảm 42% (-24.2 mcg/phút; 95% CI: -40.4 đến -19.1) ở nhóm điều trị valsartan và giảm khoảng 3% (-1.7 ng/phút; 95% CI: -5.6 đến 14.9) ở nhóm điều trị amlodipin mặc dù tỷ lệ hạ huyết áp tương tự nhau ở cả 2 nhóm (p < 0.001). Nghiên cứu DROP (Diovan Reduction of Proteinuria — Giảm Protein niệu với Diovan) đánh giá thêm tác dụng giảm bài tiết albumin qua nước tiểu của valsartan trên 391 bệnh nhân tăng huyết áp (huyết áp = 150/88 mmHg) bị tiểu đường tuýp 2, albumin niệu (trung bình= 102 mcg/phút, dao động từ 20-700 mcg/phút) và chức năng thận được bảo vệ (creatinin huyết thanh trung bình = 80 mcmol/l). Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm sử dụng 3 liều valsartan khác nhau (160, 320 và 640 mg ngày l lần) và điều trị trong 30 tuần. Mục đích của nghiên cứu là xác định liều valsartan làm giảm bài tiết albumin qua nước tiểu tối ưu ở những bệnh nhân tăng huyết áp bị tiểu đường tuýp 2. Tại tuần 30. bài tiết albumin qua nước tiểu giảm đáng kể, tương ứng ở nhóm điều trị valsartan 160 mg là giảm 36% (95% CI: 22 đến 47%) và nhóm điều trị valsartan 320 mg là giảm 44% (95%CI: 31 dến 54%). Có thể kết luận rằng valsartan liều 160-320 mg có liên quan lâm sàng đến việc giảm bài tiết albumin qua nước tiểu ở những bệnh nhân tăng huyết áp bị tiểu đường tuýp 2.

Nhồi máu cơ tim

Thử nghiệm nhồi máu cơ tim cấp tính là thử nghiệm ngẫu nhiên, có đối chứng, đa quốc gia, mù đôi tiến hành trên 14 703 bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp tính và có dấu hiệu, triệu chứng hay bằng chứng X quang của suy tim sung huyết và/hoặc bằng chứng của rối loạn chức năng tâm thu thất trái (biểu hiện là phân suất tống máu < 35% khi chụp X quang nuclit phóng xạ tâm thất hoặc < 40% khi siêu âm tím hay chụp X quang tâm thất với chất cản quang). Bệnh nhân được cho dùng ngẫu nhiên với valsartan, captopril hoặc kết hợp cả 2 trong vòng 12 giờ đến 10 ngày sau khi bắt đầu có triệu chứng nhỏi máu cơ tim. Thời gian điều trị trung bình là 2 năm. Chỉ tiểu đánh giá chính là thời gian đến khi tử vong do mọi nguyên nhân.

Valsartan có tác dụng như captopril trong việc giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân sau nhồi máu cơ tim. Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân là tương tự nhau ở nhóm valsartan (19.9%), captopril (19.5%), và valsartan + captopril (19.3%). Kết hợp valsartan với captopril không tăng thêm lợi ích so với khi dùng một mình captopril. Không có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân giữa valsartan và captopril dựa trên độ tuổi, giới tính, chủng tộc, các liệu pháp điều trị ban đầu hay bệnh mắc kèm. Valsartan cũng có hiệu quả trong việc kéo dài thời gian sống và giảm tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, nhập viện do suy tim, nhồi máu cơ tim tái phát, hồi sức tim, và đột quy không gây tử vong (chỉ tiểu thứ cấp tổng hợp).

Dữ liệu độ an toàn của Valsartan phù hợp với diễn biến lâm sàng của bệnh nhân được điều trị sau nhồi máu cơ tim. Liên quan đến chức năng thận, nồng độ creatinin tăng gấp đôi được quan sát thấy ở 4.2% bệnh nhân điều trị valsartan, 4,8% bệnh nhân điều trị valsartan + captopril và 3.4% bệnh nhân điều trị captopril. Ngừng thuốc do rối loạn chức thận xảy ra ở 1.1% bệnh nhân dùng valsartan, 1.3% bệnh nhân dùng valsartan + captopril và 0.8% bệnh nhân dùng captopril. Chức năng thận phải dược đánh giá khi đánh giá tình trạng bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim. Không có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong do bệnh tim mạch hoặc tỷ lệ mắc bệnh khi dùng đồng thời các thuốc chẹn beta với valsartan + captopril, valsartan hoặc captopril. Không phân biệt phương pháp điều trị, tỷ lệ tử vong thấp hơn ở nhóm điều trị với thuốc chẹn beta, chứng tỏ rằng tác dụng của thuốc chẹn beta ở nhóm bệnh nhân này vẫn được duy trì trong nghiên cứu này.

Suy tim

Val-HeFT là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, đa quốc gia, có đối chứng so sánh valsartan với giả dược về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trên 5010 bệnh nhân suy tim cấp độ II (62%), III (36%) và IV (2%) theo phân loại của hội tim mạch học New York có phân suất tống máu thất trái < 40% và đường kính thất trái tâm trương (LVIDD) > 2.9 cm/m2. Phương pháp điều trị ban đầu bao gồm các thuốc ức chế men chuyển (93%), các thuốc lợi tiểu (86%), digoxin (67%) và các thuốc chẹn beta (36%). Thời gian theo dõi trung bình là gần 2 năm. Liều dùng trung bình hàng ngày của Valsartan trong thử nghiệm ValHeFT là 254 mg. Nghiên cứu sử dụng 2 chỉ tiểu đánh giá chính là tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân (thời gian sông) và tổng hợp tỷ lệ mắc suy tim và tử vong (thời gian xuất hiện biến chứng đầu tiên): chết, đột tử phải hồi sức, suy tim phải nhập viện, dùng thuốc co giãn mạch hơn 4 tiếng mà không nhập viện.

Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân là tương tự nhau (p = NS) ở nhóm điều trị valsartan (19.7%) và giả dược (19.444). Tác dụng chính là giảm 27.5% (95% CI: 17 – 37%) nguy cơ cho thời gian xuất hiện biến chứng suy tim phải nhập viện đầu tiên (13.9% so với 18.5%). Tổng hợp tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trên những bệnh nhân điều trị liệu pháp kết hợp 3 thuốc ức chế men chuyền, chẹn beta và valsartan là 21.9% ở nhóm giả dược so với 25.4% ở nhóm valsartan

Những bệnh nhân không sử dụng thuốc ức chế men chuyển có lợi ích về tỷ lệ mắc bệnh là lớn nhất. Trong nhóm này, tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân giảm đáng kể, giảm 33% (95% Cl: -6% dén 58%) khi so valsartan với giả dược (17.3% ở nhóm điều trị valsartan và 27.1% ở nhóm điều trị giả dược), tổng hợp tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cũng giảm đáng kể, giảm 44% (24.9% ở nhóm điều trị valsartan và 42.5% ở nhóm điều trị giả dược).

Với những bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế men chuyển mà không dùng thuốc chẹn beta, tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân là tương tự nhau (p=NS) ở nhóm điều trị valsartan (21.8%) và nhóm điều trị giả dược (22. 5%). Tổng hợp tỷ lệ mắc bệnh và tử vong giảm đáng kể, giảm 18.3% (95% CI: 8% – 28%) với nhóm điều trị valsartan là 31.0% so sánh với nhóm điều trị giả dược là 36.3%. Trong toàn bộ bệnh nhân tham gia thử nghiệm Val-HeFT, những bệnh nhân được điều trị với valsartan có tiến triển đáng kể về cấp độ suy tim theo phân loại của hội tim mạch học New York, các triệu chứng và dấu hiệu suy tim bao gồm khó thở, mệt mỏi, phù và ran khi so sánh với giả dược. Những bệnh nhân điều trị valsartan có chất lượng cuộc sống tốt hơn so với bệnh nhân sử dụng giả dược, thể hiện qua sự thay đổi trong thang điểm MLHFQ (Minnesota Living with Heart FailureQuestionnaire) về chất lượng cuộc sống từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc thử nghiệm. Những bệnh nhân điều trị valsartan có phân suất tống máu tăng đáng kể và đường kính thất trái tâm trương giảm đáng kế khi so với nhóm điều trị giả dược.

Nhóm bệnh nhân trẻ em

Tăng huyết áp

Tác dụng chống tăng huyết áp của valsartan đã được đánh giá trong 4 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi trên 561 bệnh nhân trẻ em từ 6 đến 18 tuổi và 165 bệnh nhân trẻ em từ 1 đến 6 tuổi. Rối loạn thận và tiết niệu, béo phì là những bệnh thường gặp góp phần làm tăng huyết áp ở những trẻ em tham gia vào các nghiên cứu này.

Kinh nghiệm lâm sàng ở trẻ từ 6 tuổi trở lên

Trong 1 nghiên cứu lâm sàng,ở 261 bệnh nhân trẻ em từ 6 đến 16 tuổi bị tăng huyết áp, những trẻ có cân nặng < 35 kg được cho uống valsartan hàng ngày với liều 10, 40 hoặc 80 mg (liều thấp, liều trung bình, liều cao) và những trẻ có cân nặng > 35 kg được cho uống valsartan hàng ngày với liều 20, 80 và 160 mg (liều thấp, liều trung bình, liều cao). Sau 2 tuần dùng thuốc, valsartan làm giảm cả huyết áp tâm thu và tâm trương theo liều. Ba liều valsartan (thấp, trungbình, cao) giảm đáng kể huyết áp tâm thu tương ứng là 8, 10, 12 mmHg. Bệnh nhân sau đó được chia ngẫu nhiên lại là tiếp tục dùng valsartan với liều cũ hoặc là chuyển sang dùng giả dược. Huyết áp tâm thu tối thiểu ở những bệnh nhân tiếp tục điều trị liều trung bình và liều cao valsartan tương ứng là -4 và -7 mmHg, thấp hơn so với những bệnh nhân điều trị giả dược. Huyết áp tâm thu tối thiểu tương tự nhau ở những bệnh nhân sử dụng liều thấp valsartan và những bệnh nhân sử dụng giả dược. Nhìn chung. tác dụng chống tăng huyết áp phụ thuộc liều của valsartan là nhất quán trên tất cả các nhóm bệnh nhân.

Trong một nghiên cứu lâm sàng khác ở 300 bệnh nhân trẻ em từ 6 đến 18 tuổi bị tăng huyết áp, bệnh nhân được cho dùng ngẫu nhiên valsartan hoặc enalapril trong vòng 12 tuần. Những trẻ nặng từ 18 đến 35 kg được cho dùng valsartan 80 mg hoặc enalapril 10 mg, từ 35 đến 80 kg dùng valsartan 160 mg hoặc enalapril 20 mg và nặng trên 80 kg dùng valsartan 320 mg hoặc enalapril 40 mg. Huyết áp tâm thu ở những bệnh nhân điều trị valsartan và enalapril tương ứng giảm 15 và 14 mmHg (p-value < 0.0001 cho phép kiểm không thua kém). Giảm huyết áp tâm trương ở valsartan và enalapril tương ứng là 9,1 mmHg và 8.5 mmHg là kết quả nhất quán ở tất cả các nhóm bệnh nhân.

Kinh nghiệm lâm sàng ở trẻ nhỏ hơn 6 tuổi

Hai nghiên cứu lâm sảng đã được thực hiện tương ứng trên 90 và 75 bệnh nhân trẻ em từ 1 đến 6 tuổi. Trẻ em dưới 1 tuổi không được tham gia vào các nghiên cứu này. Ở nghiên cứu thứ nhất, hiệu quả điều trị của valsartan đã được khẳng định khi so sánh với giả đượcnhưng chưa chứng minh được sự đáp ứng liều. Ở nghiên cứu thứ hai, liều cao valsartan có liên quan đến sự giảm huyết áp mạnh nhưng đáp ứng liều không có ý nghĩa thống kê và sự khác biệt điều trị so với giả được cũng không có ý nghĩa. Do sự không nhất quán như vậy nên khuyến cáo không dùng valsartan cho bệnh nhân trẻ em lứa tuổi này, Cơ quan y tế Châu Âu không yêu cầu cung cấp kết quả nghiên cứu sử dụng valsarlan ở tất cả nhóm bệnh nhân trẻ em bị suy tim và suy tim sau nhồi máu cơ tim.

Cơ chế tác dụng:

Trong hệ renin-angiotensin-aldosteron, angiotensin I không có hoạt tính được chuyển thành angiotensin II có hoạt tính co mạch mạnh, gây tăng huyết áp, đồng thời, kích thích tuyến thượng thận bài tiết aldosteron. Ái lực gắn của angiotensin II trên thụ thể AT1 và AT2 tương tự nhau, trong khi đó, ái lực của valsartan đối với thụ thể AT1 mạnh gấp khoảng 20.000 lần so với ái lực của thụ thể AT2. Thụ thể AT1 tham gia vào hầu hết hoặc tất cả các hoạt động trên tim mạch, thận và TKTW. Valsartan ức chế chọn lọc angiotensin II gắn vào thụ thể AT1 ở nhiều mô khác nhau, trong đó có cơ trơn mạch máu và tuyến thượng thận, làm hạ huyết áp bằng cách đối kháng các tác dụng gây ra bởi angiotensin II (co mạch, tăng bài tiết aldosteron, tăng bài tiết catecholamin ở tuyến thượng thận và trước synap, giải phóng arginin vasopressin, tái hấp thu nước và gây phì đại cơ tim).

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu:

Sau khi uống valsartan đơn lẻ, nồng độ đỉnh trong huyết tương của valsartan đạt được trong 2-4 giờ. Sinh khả dụng tuyệt đối trung bình là 23%. Thức ăn làm giảm diện tích dưới đường cong của valsartan (AUC) xuống còn khoảng 40% và giảm nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) xuống còn khoảng 50%, mặc dù khoảng 8 giờ sau khi dùng, nồng độ valsartan trong huyết tương tương tự nhau đối với nhóm đã ăn và nhóm nhịn đói. Tuy nhiên, sự giảm về AUC không kèm theo giảm tác dụng điều trị đáng kể trên lâm sàng, của các tác dụng điều trị, và valsartan có thể dùng kèm hoặc không kèm với thức ăn.

Phân bố:

Thể tích phân bố ổn định của valsartan sau khi tiêm tĩnh mạch là khoảng 17 lít, chứng tỏ valsartan không phân phối vào các mô rộng rãi. Valsartan gắn với protein huyết thanh từ 94- 97%, chủ yếu là albumin huyết thanh.

Chuyển dạng sinh học:

Valsartan không bị chuyển hóa nhiều, chỉ khoảng 20% liều dùng được tìm thấy dưới đạng các chất chuyển hóa. Một chất chuyển hóa hydroxy đã được xác định trong huyết tương ở nồng độ thấp (ít hơn 10% AUC valsartan). Chất chuyển hoá này là thụ động về mặt dược lý học..

Bài tiết:

Valsartan có động học phân hủy theo hệ số mũ (t½α < 1 giờ và t½ß khoảng 9 giờ). Valsartan bị thải trừ chủ yếu bởi sự bài tiết qua mật vào trong phân (khoảng 83% liều dùng) và qua thận vào trong nước tiểu (khoảng 13% liều dùng), chủ yếu ở dạng không đổi. Sau khi tiêm tĩnh mạch, Tốc độ thanh thải của Valsartan trong huyết tương là khoảng2 lít / h và độ thanh thải ở thận là 0,62 1 / h (khoảng 30% tổng độ thanh thải). Thời gian bán thải của valsartan là 6 giờ.

Bệnh nhân suy tim:

Thời gian đạt được nồng độ đỉnh trung bình và thời gian bán thải của valsartan ở bệnh nhân suy tim tương tự như đã quan sát ở những người tình nguyện khỏe mạnh. Các trị số AUC và Cmax của valsartan hầu như tăng theo tỉ lệ tương ứng với sự tăng liều khi dùng trong khoảng liều lâm sàng (40-160 mg, 2 lần/ngày). Hệ số tích lũy trung bình khoảng 1,7. Độ thanh thải biểu kiến của valsartan sau khi uống là khoảng 4,5 lít/giờ. Tuổi tác không ảnh hưởng đến độ thanh thải biểu kiến ở bệnh nhân suy tim.

Đối tượng cụ thể

Người cao tuổi:

Mức biểu hiện trên cơ thé hoi cao hơn của valsartan đã được ghỉ nhận trên các đối tượng là người cao tuổi so với các đối tượng nghiên cứu trẻ tuổi; tuy nhiên, nó không có ý nghĩa về mặt lâm sàng.

Bệnh nhân thiểu năng thận:

Như dự kiến đối với một hợp chất trong đó độ thanh thải ở thận chiếm chỉ khoảng 30% tổng độ thanh thải trong huyết tương, không ghi nhận mỗi liên hệ nào giữa chức năng ở thận và mức biểu hiện của cơ thể đối với valsartan. Không cần điều chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin >10 ml/phtt). Hiện không có kinh nghiệm nào về sự an toàn khi sử dụng valsartan trên các bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <10 ml/phút và trên bệnh nhân đã trải qua lọc máu do đó cần thận trọng trên các bệnh nhân này. Valsartan gắn kết mạnh với protein huyết tương và việc lọc máu Ít có khả năng loại bỏ được valsartan.

Bệnh nhân thiểu năng gan: Khoảng 70% liều hấp thu bị thải trừ trong mật chủ yếu dưới dạng thuốc không đổi. Dạng chuyển hóa của Valsartan không có tác dụng sinh học đáng chú ý. AUC ở bệnh nhân suy gan mức độ nhẹ đến vừa cao gấp đôi so với người khỏe mạnh. Tuy nhiên, không có mối tương quan giữa nồng độ valsartan trong huyết tương so với mức độ rối loạn chức năng gan. Valsartan chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan nặng.

Đối tượng nghiên cứu là trẻ em

Trong một cuộc nghiền cứu thực hiện trên 26 bệnh nhỉ bị tăng huyết áp (tuổi từ 1 đến 16) sử dụng liều đơn huyền dịch valsartan (trung bình: 0,9 đến 2mg/kg, với liều tối đa là 80mg), độ thanh thải (lit/giờ/kg) của valsartan có thể so sánh trong độ tuổi từ 1 đến 16 và tương đương với giá trị đã được ghi nhận trên người lớn sử dụng cùng loại công thức

Suy giảm chức năng thận: Sử dụng trên bệnh nhi có độ thanh thải creatinin <30 ml/phút và trên bệnh nhi đã trải qua lọc máu chưa được nghiên cứu do đó không khuyến cáo dùng thuốc valsartan trên các bệnh nhân này. Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhi có độ thanh thải creatinin >30 ml/phút. Cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận và kali huyết thanh

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: Microcrystalline cellulose (Avicel PH 101), mannitol (Pearlitol SD 200), croscarmellose sodium (Ac-Di-Sol), povidone (Kollidon-30), magnesium stearate, opadry yellow 02F52181.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!