Tadalafil – Edsave

Thuốc Edsave là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Edsave (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Tadalafil

Phân loại: Thuốc giãn mạch, Thuốc điều trị rối loạn cương dương

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): G04BE08.

Biệt dược gốc: Cialis

Biệt dược: Edsave

Hãng sản xuất : Fourrts (India) Laboratories Pvt., Ltd.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 10mg, 20 mg

Thuốc tham khảo:

EDSAVE 20
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Tadalafil …………………………. 20 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Edsave 20 được chỉ định để điều trị rối loạn chức năng cương dương ở nam giới trưởng thành.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Viên nén tadalafil dùng đường uống và chỉ được sử dụng cho nam giới. Thuốc có thể được uống trong hoặc ngoài bữa ăn.

Liều dùng:

Liều khởi đầu khuyến cáo là 10 mg, uống khi cần. trước khi dự tính sinh hoạt tình dục.

Với những người dùng liều 10 mg chưa đạt được hiệu quả cần thiết, có thể tăng liều lên đến 20 mg.

Có thể uống thuốc trước khi giao hợp ít nhất 30 phút.

Số lần sử dụng thuốc tối đa là 1 lần/ngày.

Thuốc được sử dụng trước khi sinh hoạt tình dục, không khuyến cáo sử dụng liên tục hàng ngày.

Các đối tượng bệnh nhân đặc biệt:

Người già: Không cần điều chỉnh liều dùng ở người già.

Bệnh nhân suy thận: Không cần điều chỉnh liều dùng ở những bệnh nhân suy thận nhẹ và vừa. Đối với bệnh nhân suy thận nặng, liều tối đa khuyến cáo là 10 mg. Không dùng liều tadalafil một lần mỗi ngày ở bệnh nhân suy thận nặng.

Bệnh nhân suy gan: Để điều trị rối loạn chức năng cương dương bằng tadalafil, liều tadalafil khuyến cáo là 10 mg, uống trước khi dự tính sinh hoạt tình dục cùng hoặc không cùng với thức ăn.

Dữ liệu lâm sàng về độ an toàn khi sử dụng tadalafil ở những bệnh nhân bị suy gan nặng (ChildPugh nhóm C) còn hạn chế. Nếu tadalafil được chỉ định cho những bệnh nhân này, bác sỹ phải đánh giá cẩn thận giữa lợi ích đạt được và nguy cơ có thể xảy ra ở từng bệnh nhân. Chưa có dữ liệu về sử dụng liều tadalafil cao hơn 10 mg ở những bệnh nhân suy gan.

Nam giới bị đái tháo đường: Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân đái tháo đường.

Trẻ em: Không sử dụng tadalafil ở trẻ em.

4.3. Chống chỉ định:

Bệnh nhân quá mẫn với tadalafil hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Trong các nghiên cứu lâm sàng, tadalafil đã được chứng minh là làm tăng tác dung hạ huyết áp của các nitrat. Điều này được cho là kết quả của sự phối hợp của nitrat và tadalafil trên chu trình nitric oxyd/cGMP. Do đó, không sử dụng tadalafil ở những bệnh nhân đang dùng nitrat hữu cơ ở bất kỳ dạng nào.

Không dùng tadalafil ở những bệnh nhân nam mà cần tránh hoạt động tình dục do bệnh tim. Bác sỹ cần lưu ý đến nguy cơ bệnh tim tiềm ẩn khi hoạt động tình dục ở những bệnh nhân có sẵn bệnh tim mạch từ trước

Những nhóm bệnh nhân có bệnh tim mạch dưới đây đã không được tham gia trong các thử nghiệm lâm sàng và do đó chống chỉ định sử dụng tadalafil:

Bệnh nhân mới bị nhồi máu cơ tim trong vòng 90 ngày.

Bệnh nhân có cơn đau thắt ngực không ổn định hay có cơn đau thắt ngực xảy ra trong khi giao hợp.

Bệnh nhân suy tim mức độ 2 theo phân loại của hiệp hội tim New York hoặc nặng hơn trong vòng 6 tháng gần đây.

Bệnh nhân rối loạn nhịp tim không kiểm soát được, huyết áp thấp (< 90/50 mmHg), hoặc tăng huyết áp không kiểm soát được.

Bệnh nhân mới bị đột quỵ trong vòng 6 tháng.

Không sử dụng tadalafil cho những bệnh nhân bị mất thị lực một bên do bệnh thần kinh thị giác do thiếu máu cục bộ vùng trước không do nguyên nhân động mạch (NAION), bất kể điều này có liên quan hay không liên quan đến việc sử dụng chất ức chế PDE5 trước đó .

Không sử dụng đồng thời các chất ức chế PDES, bao gồm tadalafil và các chất kích thích guanylate cyclase như riociguat vì điều này có thể dẫn đến hạ huyết áp có triệu chứng.

4.4 Thận trọng:

Trước khi điều trị bằng tadalafil

Cần phải xem xét tiền sử bệnh và khám lâm sàng để chẩn đoán rối loạn cương dương hoặc tăng sản lành tính tuyến tiền liệt cũng như xác định các bệnh tiềm ẩn trước khi chỉ định thuốc điều trị. Trước khi bắt đầu bất kỳ phương pháp nào đề điều trị rối loạn chức năng cương dương, bác sĩ cần lưu ý đến tình trạng tim mạch của bệnh nhân vì mức độ nguy cơ về bệnh tim đi kèm với hoạt động tình dục. Tadalafil có đặc tính giãn mạch dẫn đến hạ huyết áp ở mức độ nhẹ và thoáng qua và do đó làm tăng tác dụng hạ huyết áp của các nitrat.

Việc đánh giá rối loạn chức năng cương dương cần bao gồm xác định các bệnh tiềm ẩn có thể có và xác định biện pháp điều trị phù hợp sau khi có đánh giá bệnh lý thích hợp. Chưa biết liệu tadalafil có hiệu quả trên những bệnh nhân đã phẫu thuật chậu hông hoặc cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt không bảo tồn thần kinh hay không.

Tim mạch

Các biến cố tim mạch trầm trọng, bao gồm nhồi máu cơ tim, đột tử do bệnh tim, đau thắt ngực không ổn định, loạn nhịp thất, đột quỵ, các cơn thiếu máu thoáng qua, đau ngực, đánh trống ngực và tim đập nhanh đã được báo cáo trong quá trình lưu hành thuốc trên thị trường và/hoặc trong các thử nghiệm lâm sàng. Hầu hết các bệnh nhân gặp phải các biến cố này là những người có các yếu tố nguy cơ về bệnh tim mạch trước đó.Tuy nhiên, không thể xác định chính xác liệu những biến cố này có liên quan trực tiếp đến các yếu tố nguy cơ này, đến tadalafil, đến hoạt động tình dục hoặc đến sự kết hợp giữa các yếu tố này hoặc các yếu tố khác hay không.

Đối với những bệnh nhân đang sử dụng thuốc chẹn alpha, dùng đồng thời với tadalafil có thể dẫn đến hạ huyết áp có triệu chứng ở một số bệnh nhân. Không nên dùng kết hợp tadalafil và doxazosin.

Thị giác

Đã có báo cáo về các khuyết tật thị giác và các trường hợp NAION liên quan đến việc sử dụng tadalafil và các thuốc ức chế PDES khác. Phân tích các dữ liệu quan sát cho thấy tăng nguy cơ NAION cấp ở nam giới bị rối loạn chức năng cương dương sau khi sử dụng tadalafil hoặc các thuốc ức chế PDE5 khác. Vì điều này có thể xảy ra ở tất cả các bệnh nhân sử dụng tadalafil, cần thông báo để bệnh nhân biết trong trường hợp họ bị khuyết tật thị giác đột ngột thì phải ngưng sử dụng tadalafil và tham khảo ý kiến bác sỹ ngay lập tức.

Giảm thính lực hoặc điếc đột ngột:

Đã có báo cáo về các trường hợp điếc đột ngột sau khi sử dụng tadalafil. Mặc dù có sự xuất hiện của các yếu tố nguy cơ khác trong một số trường hợp (như tuổi tác, đái tháo đường, cao huyết áp và có tiền sử bị điếc), bệnh nhân nên ngưng sử dụng tadalafil và tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay khi giảm thính lực hoặc điếc đột ngột xảy ra.

Bệnh nhân suy gan:

Dữ liệu lâm sàng về độ an toàn khi sử dụng liều đơn tadalafil ở những bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh nhóm C) còn hạn chế. Nếu tadalafil được chỉ định trong trường hợp này, bác sỹ phải đánh giá cẩn thận giữa lợi ích đạt được/nguy cơ có thể xảy ra cho từng bệnh nhân.

Cương đau dương vật và biến dạng giải phẫu dương vật:

Các bệnh nhân bị cương cứng kéo dài 4 giờ hoặc lâu hơn cần được khuyến cáo tìm kiếm sự trợ giúp y tế ngay lập tức. Nếu cương đau dương vật không được điều trị ngay, tổn thương mô dương vật và mất vĩnh viễn khả năng cương cứng có thể xảy ra. Cần thận trọng khi sử dụng tadalafil ở những bệnh nhân có biến dạng giải phẫu dương vật (như dương vật gập góc, bệnh xơ thể hang, hay bệnh Peyronie) hoặc ở những bệnh nhân có những bệnh lý dễ gây cương đau dương vật (như bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, bệnh đa u tủy, bệnh bạch cầu).

Sử dụng cùng các chất ức chế CYP3A4

Cần thận trọng khi kê toa tadalafil cho những bệnh nhân đang dùng các chất ức chế CYP3A4 mạnh (như ritonavir, saquinavir, ketoconazole, itraconazole, và erythromycin) vì đã quan sát thấy diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil tăng khi dùng phối hợp với các thuốc này.

Viên nén tadalafil và các biện pháp điều trị rối loạn chức năng cương dương khác

Chưa có nghiên cứu về độ an toàn và hiệu quả khi sử dụng phối hợp tadalafil và các thuốc khác ức chế PDES hoặc các biện pháp điều trị rối loạn chức năng cương dương khác. Cần thông báo cho bệnh nhân biết để không sử dụng phối hợp tadalafil với các thuốc này.

Lactose

EDSAVE 20 có chứa lactose. Do đó, không nên sử dụng EDSAVE 20 cho những bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp lactose, thiếu hụt Lapp lactase, hay kém hấp thu glucose-galactose.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Đã có báo cáo về chóng mặt xảy ra ở một số nam giới khi dùng tadalafil trong các nghiên cứu lâm sàng. Bệnh nhân cần kiểm tra cân thận phản ứng của cơ thê với thuốc trước khi lái xe hoặc sử dụng máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B1

US FDA pregnancy category: B

Thời kỳ mang thai:

Tadalafil không được chỉ định cho phụ nữ.

Dữ liệu về việc sử dụng tadalafil ở phụ nữ có thai còn hạn chế. Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy các ảnh hưởng có hại trực tiếp haygián tiếp đối với phụ nữ mang thai, sự phát triển của phôi/bào thai, quá trình sinh đẻ và sự phát triển sau khi sinh. Không sử dụng tadalafil cho phụ nữ mang thai..

Thời kỳ cho con bú:

Tadalafil không được chỉ định cho phụ nữ.

Dữ liệu dược động học/độc tính hiện có trên động vật đã cho thấy sự tiết tadalafil trong sữa. Do đó, không thể loại trừ nguy cơ đối với trẻ bú sữa mẹ. Không sử dụng tadalafil cho phụ nữ cho con bú.

Khả năng sinh sản:

Đã có ghi nhận tadalafil làm suy giảm khả năng sinh sản ở chó. Hai nghiên cứu lâm sàng tiếp theo cho thấy ảnh hưởng này không chắc có xảy ra ở người hay không, mặc dù giảm nồng độ tỉnh trùng đã được ghi nhận ở một số nam giới.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tóm tắt đặc tính an toàn

Các tác dụng không mong muốn thông thường nhất được báo cáo ở bệnh nhân dùng tadalafil là nhức đầu, chứng khó tiêu, đau lưng và đau cơ và mức độ xảy ra tăng cùng với liều dùng tăng.

Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất được báo cáo ở những bệnh nhân đang sử dụng tadalafil trong điều trị chứng rối loạn chức năng cương dương hoặc tăng sản lành tính tuyến tiền liệt là nhức đầu. khó tiêu, đau lưng và đau cơ, và tỷ lệ xảy ra các tác dụng phụ này tăng khi tăng liều tadalafil. Các tác dụng không mong muốn được báo cáo thường thoáng qua và nhìn chung là nhẹ hoặc vừa. Đa số trường hợp nhức đầu được báo cáo ở bệnh nhân dùng liều tadalafil 1 lần/ngày trong vòng 10 đến 30 ngày điều trị đầu tiên.

Bảng tóm tắt các tác dụng không mong muốn

Bảng dưới đây liệt kê các tác dụng không mong muốn được ghi nhận từ các báo cáo tự phát và trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng giả dược (bao gồm tổng cộng 8.022 bệnh nhân sử dụng tadalafil và 4.422 bệnh nhân dùng giả dược) cho điều trị rối loạn cương dương theo nhu cầu và ngày một lần và điều trị u xơ tiền liệt tuyến 1 lần/ngày.

Quy ước về tần suất: Hay gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000) và rất hiếm gặp (< 1/10.000) và chưa rõ tần suất (không thể dự đoán từ các dữ liệu hiện có).

Thường gặp Ít gặp Hiếm gặp
Rối loạn hệ miễn dịch
  Các phản ứng quá mẫn cảm Phù mạch
Rối loạn hệ thần kinh
Nhức đầu Chóng mặt Đột quỵ (bao gồm hiện tượng xuất huyet), ngất, cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua 1, đau nửa đầu, cơn tai biến nhồi máu, chứng quên tạm thời.
Rối loạn mắt
  Nhìn mờ, cảm giác như đau mắt Khiếm khuyết thị giác, sưng mí mắt, xung huyết kết mạc, bệnh thần kinh thị giác thiếu máu cục bộ không viêm động mạch phía trước (NAION) 3, tắc mạch võng mạc.
  Những cảm giác được mô tả như đau tại mắt  
Rối loạn tai và mê đạo
   Ù tai Điếc đột ngột
Rối loạn tim
  Nhịp tim nhanh, đánh trống ngực Nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực không ổn định, loạn nhịp thất
Rối loạn mạch máu
Chứng đỏ bừng Huyết áp cao , huyết áp tăng  
Rối loạn hô hấptrung thất và lồng ngực
Nghẹt mũi Khó thở, chảy máu cam  
Rối loạn hệ tiêu hóa
Chứng khó tiêu. Đau bụng, trào ngược dạ dày thực quản.  
Rối loạn da và mô dưới da
  Phát ban Chứng mày đay, hội chứng Stevens – Johnson, viêm da tróc vảy, tăng tiết mồ hôi.
Rối loạn xương, cơ xương và mô liên kết
Đau lưng, đau cơ, đau ở chi    
Rối loạn thân và tiết niệu
Đái máu
Rối loạn cơ quan sinh sản và vú
   Cương dương kéo dài Cương đau dương vật, xuất huyết dương vật, tinh dịch có máu.
Rối loạn toàn thân và tại ví trí điều trị
  Đau ngực, phù ngoại biên, mệt mỏi Phù mặt, ngừng tim, đột ngột

Mô tả tác dụng không mong muốn được lựa chọn

Tỷ lệ cao hơn không đáng kể của những bất thường điện tâm đồ, chủ yếu là nhịp tim chậm xoang, đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng tadalafil 1 lần/ngày so với dùng giả dược. Hầu hết các bất thường này trên điện tâm đồ không đi kèm với các tác dụng không mong muốn.

Nhóm đối tương bệnh nhân đặc biệt khác

Dữ liệu ở bệnh nhân trên 65 tuổi dùng tadalafil trong các thử nghiệm lâm sàng hoặc đề điều trị rối loạn chức năng cương dương hoặc đề điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt còn hạn chế. Trong các thử nghiệm lâm sàng với tadalafil dùng theo yêu cầu để điều trị rối loạn chức năng cương dương, tiêu chảy được báo cáo xảy ra nhiều hơn ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Trong các thử nghiệm lâm sàng với tadalafil 5mg dùng 1 lần/ngày để điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt, chóng mặt và tiêu chảy được báo cáo xảy ra nhiều hơn ở những bệnh nhân trên 75 tuổi.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Các nghiên cứu về tương tác thuốc được tiến hành với liều tadalafil 10 mg và/hoặc 20 mg được nêu dưới đây. Đối với những nghiên cứu tương tác khác chỉ sử dụng liều 10 mg tadalafil, không thể loại trừ hoàn toàn các tương tác trên lâm sàng ở liều cao hơn.

Ảnh hưởng của các thuốc khác đến tadalafil:

Các thuốc ức chế cytochrome P450

Tadalafil được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A4. Một chất ức chế chọn lọc CYP3A4, ketoconazole (200 mg mỗi ngày) khi dùng phối hợp với tadalafil làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil (10 mg) gấp đôi và Cmax 15% khi so sánh với giá trị AUC và Cmax của tadalafil (10 mg) chỉ sử dụng đơn độc. Ketoconazole (400 mg mỗi ngày) làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil (20 mg) gấp 4 lần và Cmax 22%. Ritonavir, một chất ức chế protease (200 mg dùng hai lần mỗi ngày), là chất ức chế CYP3A4, CYP2C9, CYP2C19, và CYP2D6, làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil (20 mg) gấp 2 lần mà không thay đổi về Cmax. Mặc dù các tương tác chuyên biệt chưa được nghiên cứu, một vài chất ức chế enzym protease khác, như saquinavir, và những chất ức chế CYP3A4 khác, như erythromycin, clarithromycin, itraconazole và nước ép quả bưởi khi sử dụng đồng thời với tadalafil cần phải thận trọng vì chúng có thể làm tăng nồng độ của tadalafil trong huyết tương (xem mục Cảnh báo và thận trọng). Như vậy, tỷ lệ các tác dụng không mong muốn liệt kê trong mục Tác dụng không mong muốn cũng có thể tăng.

Các chất vận chuyển

Chưa rõ vai trò của các chất vận chuyển (thí dụ như p-glycoprotein) đối với sự phân bố của tadalafil. Do đó có khả năng tương tác thuốc xảy ra gián tiếp qua sự ức chế các chất vận chuyển.

Các thuốc cảm ứng cytochrome P450

Một thuốc cảm ứng CYP3A4, rifampicin, làm giảm diện tích dưới đường cong (AUC) tadalafil tới 88% khi so sánh với giá trị AUC của tadalafil (10 mg) sử dụng đơn độc. Việc giảm diện tích dưới đường cong có thể làm giảm tác dụng của tadalafil, tuy nhiên mức độ giảm chưa được biết trước. Các chất cảm ứng CYP3A4 khác như phenobarbital, phenytoin và carbamazepine cũng có thể làm giảm nồng độ của tadalafil trong huyết tương.

Ảnh hưởng của tadalafil đối với những thuốc khác

Các nitrat

Trong các nghiên cứu lâm sàng, đã ghi nhận tadalafil (5 mg, 10 mg và 20 mg) làm tăng tác dụng hạ huyết áp của các nitrat. Do đó, không sử dụng tadalafil cho những bệnh nhân đang dùng nitrat hữu cơ ở bất kỳ dạng nào. Dựa trên kết quả của một nghiên cứu lâm sàng trên 150 đối tượng sử dụng liều tadalafil 20 mg hàng ngày trong 7 ngày và 0,4 mg nitroglycerin đặt dưới lưỡi ở các thời điểm khác nhau, sự tương tác này kéo dài hơn 24 giờ và không thấy có tương tác sau 48 giờ sau khi dùng liều tadalafil cuối cùng. Vì vậy, ở bệnh nhân được chỉ định bắt kỳ liều tadalafil nào (từ 2,5 mg đến 20 mg), khi mà điều trị bằng nitrat là cần thiết về mặt y tế trong trường hợp tính mạng bị đe dọa thì chỉ được sử dụng nitrat sau khi uống liều tadalafil cuối cùng ít nhất 48 giờ. Trong những trường hợp này, việc sử dụng nitrat phải được giám sát y tế chặt chẽ kết hợp với theo dõi huyết động lực thích hợp.

Thuốc chống tăng huyết áp (bao gồm các thuốc chẹn kênh calci)

Việc sử dụng đồng thời doxazosin (4 và 8 mg mỗi ngày) với tadalafil (5 mg mỗi ngày và 20 mg liều đơn) làm tăng tác động hạ huyết áp của chất chẹn alpha này một cách rõ rệt. Tác động này kéo dài ít nhất 12 giờ và có thể có triệu chứng, bao gồm cả ngất xỉu. Vì vậy, không sử dụng đồng thời các thuốc này.

Trong các nghiên cứu tương tác thuốc được thực hiện trên một số lượng giới hạn những người tình nguyện khỏe mạnh, những tác động này chưa được báo cáo với alfuzosin hoặc tamsulosin. Tuy nhiên, nên thận trọng khi sử dụng tadalafil cho những bệnh nhân đang dùng bất cứ thuốc chẹn alpha nào, đặc biệt là với người già. Nên bắt đầu điều trị với liều tối thiểu và tăng liều dần dần.

Trong các nghiên cứu dược lý lâm sàng, khả năng tadalafil làm tăng tác động hạ huyết áp của các thuốc chống tăng huyết áp cũng đã được khảo sát. Các nhóm thuốc chống tăng huyết áp chủ yếu đã được nghiên cứu, bao gồm thuốc ức chế kênh calcium (amlodipine), thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin (ACE) (enalapril), thuốc ức chế thụ thể beta-adrenergic (metoprolol), thuốc lợi tiểu thiazide (bendrofluazide), và ức chế thụ thể angiotensin II (bao gồm các loại và liều khác nhau, dùng đơn độc hay phối hợp với thiazides, ức chế kênh calcium, ức chế thụ thể beta, và/hoặc ức chế thụ thể alpha). Tadalafil (10 mg, ngoại trừ các thử nghiệm với các chất ức chế thụ thể angiotensin II và amlodipine đã sử dụng liều 20 mg) đã không thấy có các tương tác thuốc với biểu hiện lâm sàng rõ rệt đối với bất kỳ loại nào trong nhóm này. Trong nghiên cứu về dược lý lâm sàng khác, tadalafil (20 mg) được nghiên cứu phối hợp với đến 4 nhóm thuốc điều trị cao huyết áp. Ở những đối tượng dùng nhiều loại thuốc chống tăng huyết áp, sự dao động về huyết áp thoáng qua xuất hiện có liên quan đến mức độ kiểm soát huyết áp. Về mặt này, những đối tượng nghiên cứu có mức huyết áp được kiểm soát tốt, thì tình trạng hạ huyết áp là tối thiểu và tương tự như ở người khỏe mạnh. Ở những đối tượng nghiên cứu mà huyết áp không được kiểm soát tốt, sự hạ huyết áp nhiều hơn, mặc dù vậy sự hạ huyết áp này không kèm theo những triệu chứng hạ huyết áp ở phần lớn đối tượng. Bệnh nhân sử dụng đồng thời tadalafil 20 mg với các loại thuốc chống tăng huyết áp, có lẽ sẽ có hạ huyết áp, nhưng thường là giảm ít và không có thay đổi rõ rệt trên lâm sàng (trừ trường hợp dùng chung với chất ức chế alpha – xin đọc phần trên). Phân tích dữ liệu các thử nghiệm lâm sàng ở pha 3 cho thấy không có sự khác nhau về tác dụng ngoại ý ở bệnh nhân dùng tadalafil có kèm hay không các thuốc chống tăng huyết áp. Tuy nhiên, cần phải có lời khuyên thích hợp cho bệnh nhân về khả năng có thể xảy ra hạ huyết áp khi được điều trị chung với các thuốc chống tăng huyết áp.

Riociguat

Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy sự tăng tác dụng hạ huyết áp hệ thống khi phối hợp các chất ức chế PDE5 với riociguat. Trong các nghiên cứu lâm sàng, riociguat đã được chứng minh là làm tăng tác dụng hạ huyết áp của các chất ức chế PDE5. Không có bằng chứng về hiệu quả lâm sàng đáng khích lệ khi phối hợp trong nhóm nghiên cứu. Chống chỉ định phối hợp riociguat với các chất ức chế PDE5, bao gồm cả tadalafil.

Chất ức chế 5-alpha reductase

Trong một thử nghiệm lâm sàng so sánh giữa sử dụng đồng thời tadalafil 5 mg và finasteride 5 mg với sử dụng giả dược cùng với finasteride 5 mg để làm giảm các triệu chứng của u xơ tiền liệt tuyến ( BPH), không ghi nhận phản ứng bất lợi mới nào. Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu tương tác thuốc chính thức nào được thực hiện để đánh giá tương tác giữa tadalafil và 5-alpha reductase (5- ARIs), do đó cần thận trọng khi sử dụng đồng thời tadalafil với 5-ARIs.

Chất nền CYP1A2 (ví dụ như theophylline)

Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng, khi dùng tadalafil 10 mg chung với theophylline (một chất ức chế phosphodiesterase không chọn lọc), không thấy có tương tác về dược động học. Chỉ có một tác động về dược lực học là nhịp tim tăng nhẹ (3,5 nhịp/phút). Mặc dù ảnh hưởng này là không đáng kể và không có ý nghĩa lâm sàng trong nghiên cứu này nhưng cần cân nhắc khi sử dụng phối hợp các thuốc này.

Ethinylestradiol và terbutalin

Tadalafil đã được chứng minh làm tăng khả dụng sinh học của ethinylestradiol dùng đường uống; kết quả cũng tương tự như vậy đối với terbutaline đường uống, mặc dù không chắc có tác động trên lâm sàng.

Rượu

Nồng độ rượu (nồng độ tối đa trung bình trong máu là 0,08%) không bị ảnh hưởng khi sử dụng đồng thời với tadalafil (10 mg và 20 mg). Ngoài ra, không quan sát thấy có thay đổi nào về nồng độ của tadalafil 3 giờ sau khi dùng thuốc đồng thời với rượu. Rượu đã được sử dụng trong thực nghiệm với cách để làm tăng tối đa tốc độ hấp thu rượu (Uống rượu lúc nhịn ăn qua đêm và không ăn trong vòng 2 giờ sau khi uống rượu). Tadalafil (20 mg) không làm tăng thêm mức độ hạ huyết áp trung bình do rượu (uống với lượng 0,7 g/kg hoặc khoảng 180 mL rượu [vodka] 40% ở nam giới nặng 80 kg) nhưng ở một vài đối tượng nghiên cứu, quan sát thấy có chóng mặt tư thế và hạ huyết áp tư thế đứng. Khi sử dụng tadalafil chung với một lượng rượu ít hơn (0,6 g/kg), quan sát thấy không có hạ huyết áp và tỷ lệ chóng mặt xảy ra với tần suất giống như khi đối tượng chỉ có uống rượu. Tadalafil (liều 10 mg) không làm thay đổi ảnh hưởng của rượu đến chức năng nhận thức.

Các thuốc được chuyển hóa bởi cytochrome P450

Tadalafil không có tác động gây ức chế đáng kể trên lâm sàng hoặc gây cảm ứng với sự thanh thải của các thuốc được chuyển hóa bởi các đồng phân của CYP450. Các nghiên cứu đã khẳng định rằng tadalafil không ức chế́ hay cảm ứng các chất đồng dạng CYP450 như CYP3A4, CYP1A2, CYP2D6, CYP2E1, CYP2C9 và CYP2C19.

Các chất nền CYP2C9 (như R-warfarin)

Tadalafil (10 mg và 20 mg) không có tác động có ý nghĩa trên lâm sàng liên quan đến diện tích dưới đường cong (AUC) khi sử dụng chung với S-warfarin hay R-warfarin (cơ chất CYP2C9) cũng như tadalafil không làm thay đổi thời gian prothrombin khi dùng chung với warfarin.

Aspirin

Tadalafi (liều 10 mg và 20 mg) không làm tăng thời gian chảy máu do acid acetyl salicylic khi dùng phối hợp với thuốc này.

Các thuốc chống đái tháo đường

Các nghiên cứu tương tác cụ thể khi sử dụng phối hợp tadalafil với các thuốc chống đái tháo đường.

4.9 Quá liều và xử trí:

Liều đơn lên đến 500 mg đã được dùng cho những người khỏe mạnh và liều 100 mg nhiều lần mỗi ngày đã được dùng cho bệnh nhân. Các tác dụng không mong muốn xảy ra cũng tương tự như những tác dụng không mong muốn của liều thấp hơn.Trong trường hợp dùng quá liều, các biện pháp hỗ trợ tiêu chuẩn cần được thực hiện theo yêu cầu. Thẩm tách máu góp phần không đáng kể trong loại bỏ tadalafil.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Tadalafil là một chất ức chế chọn lọc có hồi phục cyclic guanosine monophosphate (cGMP) – đặc biệt là trên men phosphodiesterase týp 5 (PDE5). Khi kích thích tình dục dẫn đến giải phóng nitric oxide tại chỗ. sự ức chế PDES của tadalafil làm tăng nồng độ cGMP trong thể hang. Điều này dẫn đến giãn cơ trơn và cho phép dòng máu chảy vào trong mô dương vật, từ đó gây cương dương. Tadalafil không có tác dụng khi không có kích thích tình dục.

Cơ chế tác dụng:

Tadalafil là chất ức chế chọn lọc, có hồi phục guanosine monophosphate vòng (cGMP) – chuyên biệt trên men phosphodiesterase tuýp 5 (PDE5). Khi kích thích tình dục dẫn đến phóng thích nitric oxide tại chỗ, sự ức chế PDE5 do tác động của tadalafil làm tăng nồng độ cGMP trong thể hang. Điều này đưa tới giãn cơ trơn và làm tăng dòng máu vào trong mô dương vật, từ đó gây cương dương vật. Khi không có kích thích tình dục, tadalafil không có tác dụng.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu

Tadalafil hấp thu nhanh chóng sau khi uống, và nồng độ tối đa trung bình trong huyết tương (Cmax) đạt được khoảng 2 giờ sau khi uống. Sinh khả dụng tuyệt đối của tadalafil đường uống chưa được xác định.

Phân bố

Tadalafil được phân bố vào trong các mô. Ở nồng độ điều trị, 94% tadalafil trong huyết tương gắn kết với protein. Sự gắn kết với protein huyết tương không bị ảnh hưởng khi chức năng thận bị suy giảm. Nhỏ hơn 0,0005% liều điều trị được ghi nhận trong tinh dịch của người khỏe mạnh.

Chuyển hóa

Tadalafil được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A4 thành chất chuyén hóa catechol. Chất chuyển hóa catechol trải qua quá trình methyl hóa và glucuronide hóa rộng rãi để hình thành methylcatechol và methylcatechol glucuronide tương ứng. Dữ liệu in vitro cho thấy các chất chuyển hóa sẽ không có hoạt tính dược lý ở nồng độ chất chuyển hóa đã ghi nhận.

Thải trừ

Thanh thải trung bình của tadalafil dùng đường uống là 2,5 1/giờ và thời gian bán thải trung bình là 17,5 giờ ở người khỏe mạnh. Tadalafil được bài tiết chủ yếu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính trong phân (khoảng 61% liều dùng), và ít hơn ở trong nước tiểu (khoảng 36% liều dùng).

Các nhóm bệnh nhân đặc biệt

Người già: Những người già khoẻ mạnh (65 tuổi trở lên) có thanh thải tadalafil đường uống thấp hơn dẫn đến diện tích dưới đường cong (AUC) lớn hơn 25% so với những người khoẻ mạnh tuổi từ 19 đến 45 sau khi dùng liều 10mg. Ảnh hưởng liên quan đến tuổi tác không rõ rệt trên lâm sàng do đó không cần điều chỉnh liều dùng.

Suy thận: Trong một thử nghiệm lâm sàng về dược học sử dụng liều đơn tadalafil (5 đến 20 mg), diện tích dưới đường cong của tadalafil (AUC) gấp đôi ở những người suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinine từ 51 đến 80 mL/phút) hoặc vừa (độ thanh thải creatinine từ 31 đến 50 mL/phút) và ở những người suy thận ở giai đoạn cuối đang thẩm tách máu. Ở những bệnh nhân đang thẩm tách máu, nồng độ Cmax cao hơn 41% so với ở những người khỏe mạnh. Việc loại tadalafil qua thẩm tách máu là không đáng kể. Do sự tăng diện tích dưới đường cong của tadalafil (AUC), sự hạn chế về kinh nghiệm trên lâm sàng, và độ thanh thải không bị ảnh hưởng bởi thẩm tách máu nên không dùng tadalafil cho bệnh nhân bị suy thận nặng.

Suy gan: Diện tích dưới đường cong của tadalafil (AUC) ở bệnh nhân suy gan nhẹ và vừa (Child-Pugh Nhóm A và B) tương đương với diện tích dưới đường cong ở những người khoẻ mạnh khi dùng liều 10 mg tadalafil. Nếu tadalafil được chỉ định cho những bệnh nhân này, bác sỹ phải đánh giá cẩn thận giữa lợi ích đạt được và nguy cơ có thể xảy ra ở từng bệnh nhân. Hiện nay chưa có dữ liệu về chỉ định liều tadalafil cao hơn 10 mg cho những bệnh nhân suy gan. Chưa có nghiên cứu sử dụng tadalafil cho những bệnh nhân bị xơ gan nặng (Child-Pugh nhóm C) và do đó không dùng tadalafil cho những bệnh nhân này.

Bệnh nhân tiểu đường: Diện tích dưới đường cong (AUC) của tadalafil ở bệnh nhân tiểu đường thấp hơn khoảng 19% so với giá trị AUC ở người khỏe mạnh sau khi sử dụng liều 10mg. Sự khác biệt của giá trị AUC không cần thiết phải điều chỉnh liều..

Chủng tộc: Các nghiên cứu dược động học bao gồm các đối tượng và những bệnh nhân thuộc các chủng tộc khác nhau đã cho thấy không có sự khác biệt điển hình về diện tích dưới đường cong của tadalafil giữa các nhóm chủng tộc. Do đó, không cần điều chỉnh liều dùng.

Giới tính: Ở nam giới và nữ giới khỏe mạnh sau khi dùng một liều hoặc nhiều liều tadalafil, không thây có sự khác biệt trên lâm sàng về diện tích dưới đường cong được ghi nhận. Không cân điều chỉnh liều.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: Sodium lauryl sulfate. Lactose, Croscarmellose sodium, Microcrystalline cellulose, Hydroxypropyl cellulose, Magnesium stearate, Hypromellose, Titanium dioxide, Purified talc, Triacetin, Ferric oxide red, Ferric oxide yellow..

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Edsave (2018).

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM