Fentanyl – Durogesic

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Fentanyl

Phân loại: Thuốc giảm đau nhóm opioid.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01AH01, N02AB03.

Brand name: DUROGESIC

Hãng sản xuất : Janssen-Cilag

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Hệ thống thuốc phóng thích qua da: hộp 5 miếng.

Mỗi miếng DUROGESIC 12mcg/giờ*, 5,25cm2: Fentanyl 2,1mg.

Mỗi miếng DUROGESIC 25mcg/giờ, 10,5cm2: Fentanyl 4,2mg.

Mỗi miếng DUROGESIC 50mcg/giờ, 21cm2: Fentanyl 8,4mg.

*Liều thấp nhất được thiết kế là 12 mcg/giờ (tuy nhiên, liều thực sự là 12,5 mcg/giờ) để tránh nhầm lẫn với liều có thể được kê là 125 mcg/giờ bằng cách sử dụng nhiều miếng dán.

Thuốc tham khảo:

DUROGESIC 25mcg/h
Mỗi miếng dán có chứa:
Fentanyl …………………………. 4,2 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

DUROGESIC được chỉ định để kiểm soát đau trong các trường hợp đau mạn tính, đau dai dẳng đòi hỏi sử dụng opioid liên tục trong thời gian dài.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Miếng dán DUROGESIC nên được dán ở vùng da không bị kích ứng, bề mặt phẳng và không bị tiếp xúc với ánh sáng, ở trên thân mình và ở cánh tay. Ở trẻ nhỏ, ưu tiên dán phần lưng phía trên để giảm thiểu khả năng trẻ tháo miếng dán. Phần lông ở vùng da định dán (vùng da không có lông là tốt nhất) nên được cắt (không cạo) trước khi dán. Nếu vị trí định dán DUROGESIC cần được vệ sinh trước khi dán thì chỉ nên làm sạch bằng nước sạch. Xà phòng, dầu, mỹ phẩm dạng lỏng hay bất kỳ tác nhân nào có thể gây kích ứng cho da hoặc làm thay đổi đặc tính của da đều không nên dùng. Nên làm khô da hoàn toàn trước khi dán. Nên kiểm tra kỹ miếng dán trước khi sử dụng. Không nên sử dụng các miếng dán bị cắt, chia nhỏ hay có bất kỳ dấu hiệu hư hỏng nào.

DUROGESIC nên dán liền ngay khi bóc bao bì. Để lấy được miếng dán ra khỏi túi đựng ngoài, nên cố định vết khía trước khi cắt (được chỉ dẫn bằng một mũi tên ở trên túi) dọc theo góc của nắp đậy.

Gấp mép túi theo đường khía, sau đó xé cẩn thận bao túi. Mở rộng túi về cả 2 phía, gấp túi vừa được mở như một cuốn sách. Lớp giải phóng thuốc sẽ được xé ra. Gập miếng dán ở giữa và tách riêng rẽ 2 nửa. Tránh chạm vào bề mặt dính của miếng dán. Dán miếng dán vào da bằng cách ấn nhẹ lòng bàn tay trong khoảng 30 giây. Phải đảm bảo rằng các góc của miếng dán đã được dính chặt. Sau đó rửa lại tay bằng nước sạch.

Miếng dán DUROGESIC nên được mang liên tục suốt 72 giờ. Miếng dán mới nên được dán ở nơi khác sau khi gỡ bỏ miếng dán trước đó. Vài ngày sau đó mới có thể dán trở lại vị trí đã dán. Miếng dán đã sử dụng nên được gấp lại để 2 mặt tự dính vào nhau và hủy đi. Miếng dán không sử dụng nữa nên gửi lại khoa Dược bệnh viện.

Chỉ rửa tay bằng nước sạch sau khi dán hoặc gỡ bỏ miếng dán.

Liều dùng:

Liều DUROGESIC nên dựa vào thể trạng của từng bệnh nhân và nên được đánh giá định kỳ đều đặn sau khi dán. Các miếng dán được thiết kế để phóng thích fentanyl 12, 25, 50 mcg mỗi giờ vào hệ tuần hoàn, nghĩa là khoảng 0,3; 0,6; 1,2 mg/ngày (xem mục Thành phần).

Chọn liều khởi đầu: Liều khởi đầu thích hợp của DUROGESIC nên dựa vào liều sử dụng opioid hiện thời của bệnh nhân. DUROGESIC nên được sử dụng cho những bệnh nhân đã dung nạp opioid. Những yếu tố khác nên được cân nhắc là bệnh cảnh lâm sàng hiện tại và tình trạng sử dụng thuốc của bệnh nhân bao gồm: kích thước cơ thể, tuổi, tình trạng suy nhược cũng như mức độ dung nạp opioid.

Người lớn:

Bệnh nhân đã dung nạp opioid: Chuyển đổi những bệnh nhân đã dung nạp opioid từ các thuốc nhóm opioid dạng uống hoặc dạng tiêm sang DUROGESIC dựa vào bảng chuyển đổi hoạt tính giảm đau tương đương.

Liều dùng có thể được tăng lên hay giảm xuống mỗi 12 hoặc 25 mcg/giờ để đạt được liều thích hợp thấp nhất của DUROGESIC dựa vào sự đáp ứng và nhu cầu bổ sung thuốc giảm đau.

Bệnh nhân chưa dùng opioid: Với những bệnh nhân chưa dùng opioid, liều khởi đầu thông thường của DUROGESIC không được quá 25 mcg/giờ.

Đối với những bệnh nhân chưa dùng opioid, kinh nghiệm lâm sàng của DUROGESIC còn bị giới hạn. Trong trường hợp điều trị bằng DUROGESIC được xem là thích hợp, những bệnh nhân này nên được chuẩn liều với những liều thấp của các opioid phóng thích nhanh (ví dụ: morphin, hydromorphin, oxycodon, tramadol và codein) để có được liều giảm đau tương đương với DUROGESIC phóng thích 25 mcg/giờ. Sau đó bệnh nhân được chuyển sang dùng DUROGESIC 25mcg/giờ. Liều DUROGESIC có thể tăng lên hay giảm xuống mỗi 12 hoặc 25 mcg/giờ nếu cần thiết, để đạt được liều thích hợp thấp nhất của DUROGESIC dựa vào sự đáp ứng và nhu cầu bổ sung thuốc giảm đau (xem bảng chuyển đổi hoạt tính giảm đau tương đương sau; xem thêm phần Lưu ý & thận trọng đặc biệt khi sử dụng đối với bệnh nhân chưa dùng hoặc tình trạng không dung nạp opioid).

Chuyển đổi từ các thuốc nhóm opioid dạng uống hoặc dạng tiêm sang DUROGESIC, trình tự như sau:

1. Tính liều của thuốc giảm đau trước đó trong 24 giờ.

2. Chuyển liều này sang liều morphin uống tương đương bằng bảng 1.

Tất cả liều uống và tiêm bắp trong bảng này được đánh giá tương đương với liều 10 mg morphin tiêm bắp cho hiệu quả giảm đau.

3. Từ tổng liều giảm đau quy đổi tương đương morphin uống trong 24 giờ, sử dụng bảng 2. Sử dụng bảng này để tính liều DUROGESIC tương ứng

a. Bảng 2 dành cho người lớn có nhu cầu dùng luân phiên hoặc chuyển đổi từ dạng opioid trong phác đồ khác (tỷ lệ chuyển đổi của morphin dạng uống sang dạng miếng dán fentanyl tương đương là 150:1).

b. Bảng 3 dành cho người lớn có sự ổn định và dung nạp tốt với phác đồ opioid (tỷ lệ chuyển đổi từ morphin dạng uống sang miếng dán fentanyl tương đương là: 100:1).

Image from Drug Label Content

Image from Drug Label Content

Image from Drug Label Content

Không thể đánh giá sơ khởi tác động giảm đau tối đa của DUROGESIC trong vòng 24 giờ sau khi dán trên cả hai nhóm bệnh nhân chưa dùng opioid và đã dung nạp opioid. Sự chậm trễ này là do sự gia tăng dần dần nồng độ fentanyl trong huyết thanh trong vòng 24 giờ sau khi dán liều khởi đầu. Do đó, nên duy trì sử dụng thuốc giảm đau trước đó, giảm dần và ngừng hẳn sau khi dán liều khởi đầu DUROGESIC cho đến khi đạt được hiệu quả giảm đau của DUROGESIC.

Chuẩn liều & điều trị duy trì: Mức liều 12 mcg/giờ được sử dụng để chuẩn liều. Miếng dán DUROGESIC nên được thay thế mỗi 72 giờ. Liều nên được điều chỉnh cho từng bệnh nhân cho đến khi đạt được cân bằng giữa hiệu quả giảm đau và sự dung nạp. Nếu hiệu quả giảm đau chưa đủ sau khi dán liều khởi đầu, có thể tăng liều sau 3 ngày.

Sau đó, có thể điều chỉnh liều mỗi 3 ngày. Ở giai đoạn đầu một số bệnh nhân có thể chưa đạt được hiệu quả giảm đau cần thiết trong khoảng thời gian chỉnh liều là 3 ngày và có thể yêu cầu điều chỉnh liều của miếng dán DUROGESIC tại thời điểm 48 giờ tốt hơn là chờ đến 72 giờ. Rút ngắn thời gian chỉnh liều trước 72 giờ có thể dẫn đến sự tăng nồng độ của fentanyl trong huyết thanh.

Điều chỉnh liều khi cần thiết nên được thực hiện theo các bước chuẩn liều từ 25 mcg/giờ đến 75 mcg/giờ: 25 mcg/giờ, 37 mcg/giờ, 50 mcg/giờ, 62 mcg/giờ và 75 mcg/giờ.

Chuẩn liều nên được gia tăng mỗi lần 12 mcg/giờ hoặc 25 mcg/giờ cho dù đòi hỏi giảm đau bổ sung (morphin uống 45/90 mg/ngày = DUROGESIC 12/25 mcg/giờ) và đánh giá tình trạng đau của bệnh nhân. Có thể dùng nhiều hơn 1 miếng dán DUROGESIC khi liều trên 100 mcg/giờ. Bệnh nhân có thể yêu cầu thêm các thuốc giảm đau tác động ngắn từng thời kỳ cho các cơn đau bộc phát. Một vài bệnh nhân có thể cần phải dùng thêm các phương pháp bổ sung hoặc thay thế chỉ định opioid khi liều DUROGESIC vượt quá 300 mcg/giờ.

Trẻ em:

Trẻ em từ 16 tuổi trở lên: Liều giống như người lớn.

Trẻ em từ 2 đến 16 tuổi: DUROGESIC chỉ được dùng cho những trẻ đã dung nạp opioid (tuổi từ 2-16), đã có dùng liều opioid tương đương tối thiểu 30 mg morphin uống mỗi ngày. Để chuyển đổi liều của trẻ từ opioid đường uống và đường tiêm sang liều DUROGESIC, xem thêm phần chuyển đổi hoạt tính giảm đau tương đương (Bảng 1) và liều dùng tương ứng từ morphin uống sang DUROGESIC xem bảng 4.

Image from Drug Label Content

Có rất ít thông tin từ các thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em được dùng nhiều hơn 90 mg morphin uống mỗi ngày. Trong các nghiên cứu trên trẻ em, liều fentanyl qua da được tính toán thận trọng: 30-40 mg morphin uống mỗi ngày hoặc tương đương với liều opioid được thay thế bởi miếng dán DUROGESIC 12. Lưu ý rằng, liệu trình điều chỉnh liều này chỉ áp dụng cho trẻ em khi chuyển đổi từ morphin đường uống (hoặc tương đương) sang DUROGESIC. Không nên chuyển từ DUROGESIC sang loại opioid khác vì có thể gây ra quá liều.

Hiệu quả giảm đau của DUROGESIC liều đầu không được tối ưu hóa trong vòng 24 giờ đầu. Do đó, trong vòng 12 giờ đầu sau khi chuyển qua DUROGESIC, bệnh nhân nên được tiếp tục dùng liều thuốc giảm đau trước đó. Trong 12 giờ tiếp theo, các thuốc giảm đau này sẽ được dùng theo đáp ứng lâm sàng.

Bởi vì đỉnh fentanyl đạt được sau 12 đến 24 giờ điều trị, kiểm soát những tác dụng ngoại ý trên bệnh nhân như khó thở, được khuyến cáo ít nhất 48 giờ sau khi dùng DUROGESIC liều đầu hoặc khi tăng liều (xem Cảnh báo).

Chỉnh liều và duy trì: Nếu hiệu quả giảm đau của DUROGESIC không đủ, nên bổ sung thêm morphin hoặc opioid tác dụng nhanh. Phụ thuộc vào mức độ giảm đau cần thiết và dấu hiệu đau của trẻ để quyết định tăng dần liều. Điều chỉnh liều nên thực hiện mỗi 12 mcg/giờ mỗi bước.

Sử dụng thuốc trên người cao tuổi: Dữ liệu từ những nghiên cứu fentanyl đường tĩnh mạch gợi ý rằng người cao tuổi có thể bị giảm độ thanh thải, thời gian bán thải dài có thể làm tăng sự nhạy cảm với thuốc hơn so với những người trẻ tuổi. Nên quan sát những dấu hiệu ngộ độc fentanyl trên những bệnh nhân cao tuổi, yếu sức hay suy nhược và giảm liều nếu cần thiết.

4.3. Chống chỉ định:

DUROGESIC chống chỉ định với bệnh nhân được biết quá mẫn với fentanyl hoặc chất dính có trong thành phần miếng dán.

DUROGESIC chống chỉ định trong kiểm soát cơn đau cấp hoặc cơn đau sau phẫu thuật bởi vì không có điều kiện để chuẩn liều trong thời gian ngắn và vì có thể gây giảm thông khí nặng hoặc đe dọa tính mạng

4.4 Thận trọng:

BỆNH NHÂN ĐÃ BỊ TÁC DỤNG NGOẠI Ý TRẦM TRỌNG NÊN ĐƯỢC THEO DÕI ÍT NHẤT 24 GIỜ HAY HƠN TÙY THEO TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG SAU KHI GỠ BỎ MIẾNG DÁN DUROGESIC, BỞI VÌ NỒNG ĐỘ FENTANYL TRONG HUYẾT THANH GIẢM DẦN VÀ GIẢM KHOẢNG 50% SAU 17 (13-22) GIỜ.

Miếng dán DUROGESIC không nên để trong tầm tay của trẻ em trước và sau khi sử dụng. Không được cắt miếng dán DUROGESIC. Miếng dán bị cắt, chia nhỏ hay có bất kỳ hư hỏng nào cũng không được sử dụng.

* Đối với bệnh nhân chưa từng dùng và tình trạng không dung nạp opioid: Sử dụng miếng dán DUROGESIC thấm qua da đối với những bệnh nhân chưa từng dùng opioid, có rất hiếm trường hợp xảy ra suy hô hấp nặng và/hoặc chết người khi sử dụng như liệu pháp opioid khởi đầu. Khả năng suy hô hấp nặng hoặc đe doạ tính mạng xảy ra ngay cả khi dùng liều DUROGESIC khởi đầu thấp nhất cho những bệnh nhân chưa từng dùng opioid. DUROGESIC được khuyến cáo dùng cho những bệnh nhân đã dung nạp opioid (xem phần Liều lượng & Cách dùng).

* Suy hô hấp: Như các thuốc giảm đau opioid, vài bệnh nhân có thể suy hô hấp đáng kể với DUROGESIC, bệnh nhân phải được theo dõi sát các tác động phụ này. Suy hô hấp có thể kéo dài sau khi gỡ bỏ miếng dán. Tần suất suy hô hấp gia tăng khi liều DUROGESIC gia tăng. Xem thêm phần quá liều liên quan suy hô hấp. Thuốc tác động hệ thần kinh trung ương có thể gia tăng suy hô hấp (xem phần Tương tác).

* Bệnh phổi mạn tính: DUROGESIC có thể có nhiều tác động phụ nghiêm trọng trên những bệnh nhân có bệnh lý phổi phế quản tắc nghẽn mạn tính hoặc bệnh lý phổi khác. Ở những bệnh nhân này, thuốc opioid có thể làm giảm hô hấp và gia tăng trở lực đường thở.

* Lệ thuộc thuốc và khả năng lạm dụng thuốc: Sự dung nạp và lệ thuộc thuốc về thể chất và tinh thần có thể xảy ra trong lúc sử dụng lặp đi lặp lại opioid. Sự nghiện sau khi chỉ định thuốc opioid để điều trị thì rất hiếm.

Cũng như các opioid chủ vận khác fentanyl có thể bị lạm dụng. Việc lạm dụng hoặc cố ý sử dụng DUROGESIC sai mục đích có thể gây quá liều và/hoặc tử vong. Những bệnh nhân có nguy cơ lạm dụng opioid có thể được điều trị một cách thích hợp với công thức opioid giải phóng ít hơn. Tuy nhiên, các bệnh nhân này sẽ phải được giám sát các dấu hiệu của việc sử dụng sai mục đích, lạm dụng hay nghiện thuốc.

* Tăng áp lực nội sọ: DUROGESIC nên được dùng thận trọng trên bệnh nhân có thể nghi ngờ có tác động ứ đọng CO2 nội sọ, ví dụ những bệnh nhân tăng áp lực nội sọ, rối loạn ý thức hoặc hôn mê. DUROGESIC nên sử dụng thận trọng trên bệnh nhân có khối u não.

* Bệnh tim: Fentanyl có thể gây chậm nhịp tim và do đó nên chỉ định thận trọng trên bệnh nhân loạn nhịp tim chậm.

* Suy gan: Vì fentanyl được chuyển hóa thành chất chuyển hóa bất hoạt ở gan, cho nên bệnh nhân suy gan có thể chậm thải trừ thuốc. Bệnh nhân suy gan sử dụng DUROGESIC nên được giám sát cẩn thận dấu hiệu độc tính fentanyl và nên giảm liều fentanyl nếu cần.

* Suy thận: Ít hơn 10% fentanyl được bài tiết ở dạng không đổi qua thận và khác với morphin, DUROGESIC không có những chất chuyển hóa có hoạt tính đã biết được bài tiết qua thận. Nếu bệnh nhân suy thận dùng fentanyl, họ phải được quan sát cẩn thận dấu hiệu độc tính fentanyl và nếu cần thiết nên giảm liều fentanyl.

* Ứng dụng trên bệnh nhân bị sốt/ảnh hưởng bởi nguồn ngoại nhiệt: Dược động học đề nghị rằng nồng độ fentanyl trong máu có thể gia tăng khoảng 1/3 nếu nhiệt độ da gia tăng đến 40°C.

Do đó, bệnh nhân sốt nên được giám sát các tác động phụ của opioid. Và nếu cần thiết nên điều chỉnh liều DUROGESIC. Sự phóng thích fentanyl có thể có khả năng tăng theo nhiệt độ và do đó có thể gây quá liều thậm chí tử vong. Thử nghiệm dược lâm sàng thực hiện trên người tình nguyện khỏe mạnh cho thấy khi tăng nhiệt độ tại miếng dán DUROGESIC, sẽ làm tăng giá trị trung bình AUC của fentanyl lên đến 120% và Cmax tăng trung bình 61%.

Nên khuyên tất cả bệnh nhân tránh để phần cơ thể được dán miếng dán tiếp xúc với nguồn nhiệt bên ngoài trực tiếp, ví dụ: đèn nhiệt, tắm nắng, chai nước nóng, tắm hơi và tắm nơi suối nước khoáng, nước xoáy nóng.

* Hội chứng Serotonin: Nên thận trọng khi dùng chung DUROGESIC với các thuốc có ảnh hưởng lên hệ dẫn truyền thần kinh serotonin.

Sự gia tăng nguy cơ xuất hiện hội chứng serotonin có khả năng gây tử vong có thể xảy ra khi dùng đồng thời với các thuốc gây phóng thích serotonin như các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs) và các thuốc ức chế tái hấp thu norepinephrine và serotonin (SNRIs), hay với các thuốc làm giảm chuyển hóa serotonin (bao gồm các chất ức chế monoamine oxidase MAOIs). Điều này có thể xảy ra trong khoảng liều khuyến cáo.

Hội chứng Serotonin có thể bao gồm sự thay đổi tình trạng tâm thần (như kích động, ảo giác, hôn mê), thần kinh tự động không ổn định (như tim đập nhanh, huyết áp không ổn định, thân nhiệt cao), thần kinh cơ bất thường (như tăng phản xạ, mất phối hợp, cứng cơ), và/hoặc các triệu chứng dạ dày ruột (như buồn nôn, nôn, tiêu chảy). Nếu nghi ngờ có hội chứng serotonin, nên ngừng điều trị với DUROGESIC.

* Tương tác thuốc: Tương tác với các thuốc ức chế CYP3A4: Sử dụng đồng thời DUROGESIC với các thuốc ức chế cytochrome P450 3A4 (CYP3A4) (như ritonavir, ketoconazole, itraconazole, troleandomycin, clarithromycin, nelfinavir, nefazodone, verapamil, diltiazem và amiodarone) có thể gây tăng nồng độ fentanyl trong huyết tương do đó có thể gây tăng hoặc kéo dài cả hiệu quả điều trị và tác dụng phụ và có thể gây suy hô hấp nặng. Trong trường hợp này, cần theo dõi và quan sát bệnh nhân một cách đặc biệt. Do đó không nên sử dụng đồng thời miếng dán thấm qua da fentanyl và những thuốc ức chế CYP3A4 ngoại trừ bệnh nhân phải được theo dõi chặt chẽ. Đặc biệt nên được theo dõi dấu hiệu suy hô hấp và điều chỉnh liều nếu được đảm bảo.

* Tiếp xúc ngoài ý muốn do bị miếng dán dính qua: Miếng dán fentanyl có thể vô tình bị dính qua phần da của người không dán miếng dán (đặc biệt là trẻ em) khi ngủ chung giường hay có tiếp xúc cơ thể gần gũi với người đang dán DUROGESIC, điều này có thể dẫn đến quá liều cho người không dán miếng dán. Lúc này, nên gỡ bỏ miếng dán bị dính qua ngay lập tức ra khỏi da của người không dán miếng dán (Xem phần Quá liều).

* Đường tiêu hóa: Opioid gây tăng trương lực cơ và giảm co thắt đẩy tới của cơ trơn đường tiêu hóa. Việc này gây kéo dài thời gian chuyển vận trên đường tiêu hóa, có thể gây táo bón do fentanyl. Nên khuyên bệnh nhân dùng kèm biện pháp phòng ngừa táo bón và nên xem xét sử dụng thuốc nhuận tràng. Cần lưu ý đặc biệt cho bệnh nhân bị táo bón mạn tính. Nếu bệnh nhân bị hay nghi ngờ bị liệt, tắc ruột nên ngưng sử dụng DUROGESIC.

* Sử dụng trên người già: Dữ liệu từ các nghiên cứu với fentanyl đề nghị rằng bệnh nhân lớn tuổi có thể giảm độ thanh thải, thời gian bán hủy dài và những bệnh nhân này có thể nhạy cảm đối với thuốc hơn người trẻ. Người lớn tuổi nên được giám sát cẩn thận các dấu hiệu nhiễm độc fentanyl và nếu cần thiết thì giảm liều.

* Sử dụng ở trẻ em: DUROGESIC chưa được nghiên cứu ở trẻ dưới 2 tuổi. Chỉ nên dùng DUROGESIC cho trẻ từ 2 tuổi trở lên có khả năng dung nạp opioid (Xem phần Liều lượng và Cách dùng). Để bảo vệ trẻ tránh việc nuốt thuốc do vô ý, nên thận trọng khi chọn nơi dán DUROGESIC (Xem phần Liều lượng và Cách dùng) và phải theo dõi miếng dán chặt chẽ.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

* Tác động trên khả năng vận hành máy móc: DUROGESIC có thể gây ra ảnh hưởng khả năng trí tuệ hoặc thể lực để thực hiện các hoạt động nguy hiểm, ví dụ: lái xe hoặc vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Không có đủ dữ liệu về việc sử dụng thuốc ở phụ nữ có thai. Những nghiên cứu trên động vật cho thấy có một số độc tính lên khả năng sinh sản. Nguy cơ đối với con người chưa được biết. Khi sử dụng fentanyl như là một thuốc gây mê đường tĩnh mạch cho phụ nữ mang thai giai đoạn sớm, thì fentanyl có thể qua nhau thai. DUROGESIC không nên dùng trong thời kỳ có thai trừ khi thật sự cần thiết.

Hội chứng cai thuốc ở trẻ sơ sinh được ghi nhận ở một số trẻ sơ sinh có mẹ chỉ sử dụng thuốc DUROGESIC trong một thời gian dài lúc mang thai.

Việc sử dụng DUROGESIC trong thời gian mang thai không được khuyến cáo vì DUROGESIC không có chỉ định cho giảm đau cấp tính hay đau hậu phẫu (xem Cảnh báo). Hơn thế nữa bởi vì fentanyl đi qua được hàng rào nhau thai và có thể gây suy hô hấp cho trẻ sơ sinh.

Thời kỳ cho con bú:

Fentanyl được bài tiết qua sữa mẹ và có thể gây an thần/suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Do đó không nên sử dụng DUROGESIC cho các bà mẹ cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng: Các dữ liệu về độ an toàn được ghi nhận từ nghiên cứu lâm sàng đa trung tâm, ngẫu nhiên mù đôi có kiểm chứng với giả dược của DUROGESIC được thực hiện trên 216 bệnh nhân (nghiên cứu FEN-EMA-1). Các bệnh nhân này có sử dụng ít nhất 1 liều DUROGESIC và được thu nhận các dữ liệu về sự an toàn. Các bệnh nhân này lớn hơn 40 tuổi có đau dữ dội do thoái hóa khớp háng hoặc khớp gối đang chờ thay khớp. Các bệnh nhân được điều trị trong 6 tuần bằng DUROGESIC bằng cách chuẩn liều dần cho đến khi kiểm soát được cơn đau đầy đủ bắt đầu từ liều 25mcg/giờ đến liều tối đa 100mcg/giờ. Những tác dụng ngoại ý, bất kể do nguyên nhân gì, có tỉ lệ ≥ 1% ghi nhận ở những bệnh nhân đang điều trị bằng DUROGESIC và tỉ lệ cao hơn nhóm giả dược thể hiện ở Bảng 5.

Image from Drug Label Content

Các tác dụng ngoại ý chưa được ghi nhận trong bảng 5 có tỉ lệ ≥ 1% được ghi nhận trong 11 nghiên cứu lâm sàng trên các bệnh nhân (N=1854) sử dụng DUROGESIC để điều trị đau do ung thư hay không ung thư (trong đó có các nghiên cứu FEN-EMA-1) được trình bày trong bảng 6. Các bệnh nhân có sử dụng ít nhất 1 liều DUROGESIC và cung cấp các dữ liệu về sự an toàn.

Image from Drug Label Content

Các tác dụng ngoại ý có tỉ lệ < 1% trong nghiên cứu (n=1845) sẽ được trình bày trong bảng 7.

Image from Drug Label Content

Các tác dụng ngoại ý có tỉ lệ ≥1% trên bệnh nhân nhi (nhỏ hơn 18 tuổi, n= 289) sử dụng DUROGESIC ghi nhận từ 3 nghiên cứu lâm sàng được trình bày ở Bảng 8. Mặc dù tiêu chuẩn chọn lựa giới hạn trẻ ≥ 2 tuổi nhưng có 2 trẻ trong các nghiên cứu này chỉ mới 23 tháng vào thời điểm sử dụng liều DUROGESIC đầu tiên.

Image from Drug Label Content

Các dữ liệu sau khi thuốc đã được đưa ra thị trường: Các tác dụng ngoại ý từ các báo cáo tự phát trong thời gian thuốc đã được đưa ra thị trường liên quan đến tất cả các chỉ định của DUROGESIC phù hợp với các ngưỡng tiêu chuẩn trong bảng 9. Tần suất của các tác dụng ngoại ý được sắp xếp theo thứ tự thông thường như sau: Rất thường gặp: ≥1/10, Thường gặp: ≥1/100 và <1/10, Không thường gặp: ≥1/1.000 và <1/100, Hiếm gặp: ≥1/10.000 và <1/1.000, Rất hiếm gặp: <1/10.000, bao gồm tất cả các báo cáo được thu thập.

Các tần suất được cung cấp dưới đây phản ảnh các tần suất của các tác dụng ngoại ý từ các báo cáo tự phát, và không thể hiện một cách đánh giá chính xác như trong các nghiên cứu lâm sàng hoặc dịch tễ học.

Image from Drug Label Content

Cũng như các thuốc giảm đau opioid khác, sử dụng DUROGESIC lặp lại nhiều lần sẽ có thể làm cho sự dung nạp thuốc, lệ thuộc thuốc về thể chất và tinh thần có thể tăng lên. Các triệu chứng cai thuốc như nôn, buồn nôn, tiêu chảy, lo âu, run rẩy có thể xảy ra ở một số bệnh nhân khi chuyển từ opioid khác sang sử dụng DUROGESIC mãn tính trong thời kỳ mang thai.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Nhịp tim chậm: Dùng atropin.

Suy hô hấp: Trong khi mổ, nếu suy hô hấp vẫn còn sau khi mổ thì phải hô hấp nhân tạo kéo dài. Ngoài ra có thể phải tiêm tĩnh mạch naloxon. Phải dò liều naloxon thật cẩn thận để đạt hiệu quả mong muốn mà không ảnh hưởng đến việc kiểm soát đau sau mổ hoặc không gây tác dụng không mong muốn khác như tăng huyết áp và nhịp tim nhanh. Liều khởi đầu có thể là 0,5 microgam naloxon/kg thể trọng, tiêm tĩnh mạch. Phải tiếp tục theo dõi suy hô hấp để tiêm bổ sung naloxon nếu cần. Tiêm truyền tĩnh mạch liên tục có thể liên tục kiểm soát được các tác dụng không mong muốn của opioid.

Hạ huyết áp: Bồi phụ nước và điện giải. Ðặt người bệnh ở tư thế máu dễ trở về tim, nếu điều kiện mổ cho phép. Nếu cần thiết, tiêm thuốc tăng huyết áp (trong hoặc sau mổ) và/hoặc naloxon (chỉ tiêm sau mổ).

Cứng cơ: Tiêm thuốc ức chế dẫn truyền thần kinh cơ và hỗ trợ hô hấp hoặc có thể tiêm naloxon.

Những biện pháp hỗ trợ khác cần phải sử dụng nếu cần thiết.

Có thể làm giảm nguy cơ cứng cơ nếu tiêm tĩnh mạch chậm và được chỉ định dùng các thuốc benzodiazepin trước khi dùng fentanyl. Có thể xảy ra suy hô hấp thứ cấp sau mổ.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương bao gồm: opioid, giải lo âu, an thần, thuốc gây mê, chống loạn thần, dãn cơ vân, kháng histamin gây ngủ và đồ uống có rượu có thể tăng thêm tác động ức chế: giảm thông khí, hạ huyết áp và ngủ sâu, hôn mê hoặc tử vong có thể xảy ra. Do đó, việc sử dụng bất kỳ các thuốc này phối hợp với DUROGESIC cần phải theo dõi và giám sát đặc biệt.

Fentanyl, thuốc có độ thanh thải cao, được chuyển hóa nhanh và hoàn toàn chủ yếu bởi men CYP 3A4.

Sử dụng đồng thời các chất ức chế CYP3A4 với miếng dán fentanyl có thể gia tăng nồng độ fentanyl huyết tương, điều này có thể làm gia tăng hoặc kéo dài cả hai tác động điều trị và tác dụng phụ và có thể gây suy hô hấp trầm trọng. Đối với tình trạng này, cần quan tâm và giám sát bệnh nhân chuyên biệt. Sử dụng đồng thời các chất ức chế CYP 3A4 và fentanyl miếng dán không được khuyên dùng, trừ khi bệnh nhân được giám sát chặt chẽ (xem phần Cảnh báo).

Việc sử dụng đồng thời với các chất kích thích CYP3A4 (như rifampicin, carbamazepine, phenobarbital, phenytoin) có thể làm giảm nồng độ fentanyl trong huyết tương và làm giảm hiệu quả điều trị. Điều này có thể cần phải điều chỉnh liều fentanyl dán. Sau khi ngưng sử dụng các chất kích thích CYP3A4, tác động của các chất kích thích giảm dần và nồng độ fentanyl trong huyết tương có thể bị tăng lên, điều này có thể gây tăng hay kéo dài cả hiệu quả điều trị lẫn tác dụng ngoại ý và có thể dẫn đến suy hô hấp trầm trọng. Trong trường hợp này, cần theo dõi và chỉnh liều một cách cẩn thận.

Các thuốc ức chế monoamine oxidase (MAOI): DUROGESIC không được khuyên dùng với những sử dụng đồng thời với MAOI. Những tương tác với các thuốc MAOI có thể rất nguy hiểm và không lường trước được liên quan đến hiệu quả của opiate hoặc của serotonin đã được báo cáo. Do đó nên ngừng sử dụng MAOI ít nhất 14 ngày trước khi sử dụng DUORGESIC.

Thuốc gây phóng thích serotonin: Việc sử dụng fentanyl đồng thời với một thuốc gây phóng thích serotonin, như thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI), hay thuốc ức chế tái hấp thu serotonin norepinephrin (SNRI) hay thuốc ức chế men monoamine oxidase (MAOI), có thể gây tăng nguy cơ xuất hiện hội chứng serotonin, một tình trạng có nguy cơ đe dọa tính mạng.

4.9 Quá liều và xử trí:

Triệu chứng: Sự biểu hiện quá liều fentanyl là những sự lan rộng của các tác động dược lý nghiêm trọng, nhất là suy hô hấp.

Điều trị: Để điều trị suy hô hấp, các biện pháp đối phó tức thì bao gồm gỡ bỏ miếng dán DUROGESIC, đánh thức bệnh nhân bằng gọi hay lay bệnh nhân. Sau đó có thể chỉ định thuốc đối vận opioid đặc hiệu, ví dụ: naloxon. Suy hô hấp sau khi quá liều có thể lâu hơn thời gian tác động của thuốc đối vận. Khoảng cách giữa các liều của thuốc đối vận giải độc tiêm tĩnh mạch nên lựa chọn cẩn thận bởi vì sự tái gây ngủ có khả năng xảy ra sau khi đã gỡ bỏ miếng dán. Chỉ định lặp lại và truyền naloxon liên tục có thể rất cần thiết. Sự hoán đổi tác động gây ngủ có thể gây khởi phát cơn đau cấp và phóng thích catecholamine.

Để tình trạng lâm sàng được bảo đảm, nên thiết lập và duy trì đường thông khí chuyên biệt, có thể bằng đường thông khí họng miệng hoặc ống thông nội khí quản, chỉ định oxy và trợ giúp hoặc kiểm soát hô hấp, khi thích hợp. Duy trì nhiệt độ cơ thể và cung cấp dịch đầy đủ.

Nếu xảy ra hạ huyết áp trầm trọng hoặc trường diễn, nên xem xét tình trạng giảm thể tích tuần hoàn và tình trạng này nên được điều trị bằng liệu pháp truyền dịch thích hợp.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Fentanyl là thuốc giảm đau nhóm opioid, tác động chủ yếu trên thụ thể µ-opioid. Tác động điều trị chủ yếu là giảm đau và gây ngủ. Nồng độ Fentanyl trong huyết thanh cho hiệu quả giảm đau trên bệnh nhân chưa dùng opioid bao giờ từ 0,3-1,5 ng/ml. Tác động phụ gia tăng theo tần số ở nồng độ thuốc 72 ng/ml. Cả hai nồng độ hiệu quả tối thiểu và nồng độ gây độc tính gia tăng cùng với độ dung nạp thuốc gia tăng. Tốc độ phát triển độ dung nạp thuốc thay đổi nhiều giữa các cá thể.

Cơ chế tác dụng:

Fentanyl là một thuốc giảm đau nhóm opioid có tương tác chủ yếu với micro-receptor. Tác dụng điều trị quan trọng nhất là giảm đau và gây ngủ.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Durogesic cung cấp thuốc Fentanyl qua da liên tục suốt 72 giờ dán miếng dán. Fentanyl được phóng thích ở tốc độ tương đối hằng định, nhờ bởi màng phóng thích copolymer và sự khuếch tán fentanyl qua lớp da. Sau khi bắt đầu dán Durogesic, nồng độ fentanyl trong máu gia tăng dần dần, nồng độ tăng dần trong khoảng 12 đến 24 giờ và duy trì tương đối hằng định đối với khoảng thời gian còn lại trong thời gian dán 72 giờ.

Nồng độ fentanyl trong máu tỉ lệ với kích thước miếng dán. Sau khi dán lặp lại miếng dán mỗi 72 giờ, nồng độ thuốc trong máu hằng định đạt được ở mỗi bệnh nhân được duy trì trong suốt các lần dán kế tiếp miếng dán có cùng kích thước.

Sau khi gỡ bỏ Durogesic, nồng độ fentanyl trong máu giảm dần dần, còn khoảng 50% sau 17 giờ (từ 13 đến 32 giờ).

Sự hấp thụ liên tục fentanyl từ da giải thích cho sự biến mất chậm hơn của thuốc từ huyết thanh hơn là sự biến mất của thuốc từ huyết thanh sau khi truyền tĩnh mạch. Người già, bệnh nhân bị suy nhược có thể có độ thanh thải fentanyl giảm và do đó thuốc có thể có thời gian bán hủy dài ở những bệnh nhân này. Fentanyl được chuyển hóa chủ yếu qua da. Khoảng 75% fentanyl được bài tiết qua nước tiểu, hầu hết ở dạng chuyển hóa, ít hơn 10% ở dạng không đổi. Khoảng 9% liều dùng được tìm thấy trong phân, chủ yếu ở dạng chuyển hóa. Phần không gắn kết của fentanyl trong huyết thanh trung bình ở khoảng 13% và 21%.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Lớp màng ngoài: Polyester */EVA**

Lớp chứa thuốc: Polyacrylate adhesive

Lớp màng bảo vệ: Siliconized Polyester

Ink (on backing): Orange/Red/Green/Blue/Gray printing ink

*Polyester= Polyethylene terephthalate

**ethyl vinyl acetate

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30°C. Bảo quản trong bao bì gốc không mở.

6.4. Thông tin khác :

Durogesic là hệ thống trị liệu thấm qua da cung cấp fentanyl, thuốc giảm đau nhóm opioid mạnh, liên tục vào máu trong suốt 72 giờ.

Durogesic là thuốc có dạng miếng băng dán hình chữ nhật trong suốt gồm 1 lớp màng bảo vệ và 4 lớp màng có chức năng. Từ mặt ngoài đến mặt trong dính vào da, các lớp này bao gồm : lớp màng sau bao phim polyester ; hệ thống dự trữ thuốc fentanyl (2,5 mg/10 cm2) và cồn tiêu chuẩn USP (0,1 ml/10 cm2) được gel hóa với hydroxyethylcellulose ; màng ethylenevinyl acetat polymer giúp kiểm soát tốc độ phóng thích fentanyl ; và lớp màng dính silicone. Trước khi dùng, gở bỏ lớp màng bảo vệ ra khỏi lớp màng dính.

Miếng dán kích thước 10 và 20 cm2 được thiết kế để phóng thích fentanyl 25 mcg và 50 mcg mỗi giờ vào máu. Các thành phần khác là các chất trơ không có tác động dược lý. Có dưới 0,2 ml alcohol được phóng thích từ miếng dán trong suốt 72 giờ sử dụng.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam