Sevoflurane – Seaoflura

Thuốc Seaoflura là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Seaoflura (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Sevoflurane

Phân loại: Thuốc mê đường hô hấp.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01AB08.

Biệt dược gốc: Sevorane

Biệt dược: Seaoflura

Hãng sản xuất : Piramal Critical Care, Inc

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Chất lỏng không màu, bay hơi, lọ 250 ml.

Thuốc tham khảo:

SEAOFLURA
Mỗi lọ 250ml có chứa:
Sevoflurane (100%) …………………………. 250 ml
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Dùng dẫn mê và duy trì mê cho các phẫu thuật nội trú và ngoại trú ở cả người lớn và trẻ em cho bệnh nhân nội và ngoại trú. Sevoflurane chỉ được sử dụng bởi nhân viên được huấn luyện gây mê. Các phương tiện để duy trì đường thở, thông khí nhân tạo, làm giàu oxygen, và hồi sức hệ tuần hoàn phải có sẵn. Vì mức gây mê có thể thay đổi nhanh, chỉ nên dùng những dụng cụ tạo khí tạo ra những nồng độ Sevoflurane tiên đoán được.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường hô hấp.

Liều dùng:

Phải biết nồng độ của sevoflurane được phân phối từ từ bình hóa hơi bằng cách sử dụng bình hóa hơi chia độ đặc biệt cho isoflurane. Việc dùng thuốc mê phải theo từng người dựa trên đáp ứng của bệnh nhân.

Thay thế chất hút CO2 đã khô:

Khi một bác sĩ nghi ngờ chất hút CO2 đã khô, phải thay ngay. Phản ứng tỏa nhiệt có thể xảy ra với sevoflurane và chất hút CO2 tăng khi chất hút CO2 khô, như sau khi tiếp xúc trong thời gian dài của dòng khí qua chất hút CO2.

Tiền mê: Tiền mê được chọn tuỳ theo trạng thái của từng người bệnh và theo ý của chuyên viên gây mê.

Dẫn mê: Sevoflurane không có mùi hăng và không gây kích ứng hô hấp; nên dùng mặt nạ dẫn mê ở bệnh nhi và nguồi lớn.

Duy trì: Độ mê phẫu thuật có thể được thay duy trì với Sevoflurane nồng độ 0,5-3% có hoặc không kèm N2O.

Bảng dưới đây chỉ ra MAC trung bình đối với các nhóm tuổi khác nhau..

Ảnh hưởng của tuổi tác trên MAC của sevoflurane

Tuổi bệnh nhân (năm) Sevoflurane trong oxy Sevoflurane trong 65% N2O/35% O2*
0 – 1 tháng #

1 – <6 tháng

6 tháng – <3 tuổi

3-12

25

40

60

80

3.3%

3.0%

2.8%

2.5%

2.6%

2.1%

1.7%

1.4%

2.0%@

1.4%

1.1%

0.9%

0.7%

# Trẻ sinh sinh đủ tháng. MAC ở trẻ sinh non không xác định.

@ ở bệnh nhi 1-<3 tuổi, dùng 60% N2O/40%O2.

4.3. Chống chỉ định:

Không dùng cho người được biết là mẫn cảm với Sevoflurane.

Chống chỉ định ở người đã biết hoặc nghi ngờcó nhạy cảm do di truyền với chứng sốt cao ác tính.

4.4 Thận trọng:

Giữ thuốc ngoài tầm với trẻ em.

Chỉ những nhân viên đã được đào tạo về gây mê mới có thể sử dụng Sevoflurane.

Cần phải có sẵn những phương tiện để duy trì đường thở, hô hấp nhân tạo, cung cấp oxy, hồi phục tuần hoàn.

Nên dùng bình bốc hơi được chuẩn hoá đặc biệt cho Sevoflurane để nồng độ thuốc cung cấp được kiểm tra chính xác. Hạ huyết áp và ức chế hô hấp tăng lên khi gây mê sâu – Sevoflurane nên sử dụng thận trọng ở bệnh nhân suy thận.

Sevoflurane có thể làm tăng nguy cơ ở bệnh nhân có tiền sử nhạy cảm với thuốc gây mê halogen dễ hay hơi.

Hiếm khi động kinh được báo cáo liên quan tới việc dùng Sevoflurane.

Duy trì gây mê: Trong quá trình duy trì gây mê nếu tăng nồng độ Sevoflurane sẽ làm giảm huyết áp phụ thuộc vào liều dùng. Sự giảm huyết áp quá mức có thể có liên quan đến độ sâu của gây mê, khi đó có thể nâng huyết áp lên bằng cách giảm nồng độ Sevoflurane hít vào. Sự hồi phục sau khi gây mê toàn thân nên được đánh giá thận trọng trước khi chuyển bệnh nhân khỏi phòng hồi phục.

Sốt cao ác tính: ở một số người mẫn cảm, các thuốc mê hô hấp mạnh có thể gây tăng chuyển hoá ở cơ xương, dẫn tới tăng cao nhu cầu oxy và hội chứng lâm sàng được biết là sốt cao ác tính. Hội chứng còn có những nét không đặc hiệu như co cứng cơ, nhịp tim nhanh, thở nhanh, tím tái, loạn nhịp tim, huyết áp không ổn định. Điều trị gồm loại bỏ chất gây phản ứng (chẳng hạn Sevoflurane), tiêm tĩnh mạch natri dantrolene, điều trị hỗ trợ. Suy thận có thể xuất hiện chậm hơn, nên theo dõi và duy trì lưu lượng nước tiểu nếu có thể.

Tăng kali huyết trong giai đoạn phẫu thuật: Sử dụng tác nhân gây mê hô hấp có liên quan tới tăng nồng độ kali huyết tuy rất hiếm mà kết quả là gây loạn nhịp tim và tử vong ở trẻ em trong suốt giai đoạn hậu phẫu. Tình trạng này đã được mô tả ở bệnh nhân bị bệnh thần kinh cơ tiềm ẩn và công khai, đặc biệt là loạn dưỡng cơ Ducheme. Sử dụng suxamethodium có liên quan tới hầu hết nhưng không phải là tất cả các trường hợp. [Pharmog]. Những bệnh nhân này đã thấy có bằng chứng của tổn thương cơ kèm tăng nồng độ creatine kinase và myoglobin niệu. Những bệnh nhân này không có dấu hiệu kinh điển của sốt ác tính như cứng cơ, nhiệt độ cơ thể tăng nhanh, hoặc tăng hấp thu oxy và tăng sản xuất carbon dioxide. Lưu ý và điều trị tăng kali huyết và loạn nhịp tim được khuyến cáo. Tiếp sau đánh giá bệnh cơ tiềm ẩn được chỉ định.

Chức năng thận: Bởi vì kinh nghiệm lâm sàng trong việc sử dụng sevoflurane cho bệnh nhân bị suy chức năng thận (creatitine>1,5mg/mL) còn giới hạn, độ an toàn ở những bệnh nhân này chưa được thiết lập. Vì vậy cần thận trọng khi sử dụng sevoflurane ở người suy thận.

Suy chức năng gan: Kết quả của việc đánh giá các thông số phòng thí nghiệm (ví dụ như ALT, AST, phosphatase kiềm và bilirubin toàn phần v.v…) cũng như các báo cáo của các điều tra tỷ lệ của các trường hợp bị phản ứng phụ liên quan tới chức năng gan, chứng minh rằng sevoflurane có thể được sử dụng cho bệnh nhân suy chức năng gan từ nhẹ tới trung bình. Mặc dù vậy, bệnh nhân bị suy gan nặng vẫn chưa được điều tra. Thỉnh thoảng có trường hợp thay đổi thoáng qua các xét nghiệm chức năng gan sau phẫu thuật đã được báo cáo với cả sevoflurane và thuốc đối chứng. Rất ít trường hợp bị rối loạn chức năng gan nhẹ, vừa và nghiêm trọng sau phẫu thuật. Suy gan hoặc viêm gan kèm vàng da đã được báo cáo trong quá trình lưu hành thuốc. Nên thực hiện sự đánh giá lâm sàng khi sử dụng Sevoflurane cho bệnh nhân đang bị bệnh gan hoặc đang điều trị với thuốc gây tổn thương chức năng gan.

Hợp chất A: Khi tiếp xúc trực tiếp với các chất hấp thụ CO2, Sevoflurane tạo nên hợp chất A [pentafluoroisopropenyl fluoromethyl ether (PIFE)] với hàm lượng thấp và vết của hợp chất B [pentafluorromethoxy isopropyl fluoromethyl] ether (PMFE)]. Lượng hợp chất A tăng khi tăng nhiệt độ của bình đựng thuốc, tăng nồng độ thuốc mê, giảm lưu lượng khí và tăng nhiều hơn khi dùng vôi Baryt so với khi dùng với Soda. Trong một số thí nghiệm nghiên cứu trên chuột cống, đã thấy động vật tiếp xúc với hàm lượng chất A vượt quá mức thường gặp trong thực tiễn lâm sàng sẽ bị độc với thận. Cơ chế độc với thận của Sevoflurane đối với chuột cống chưa được biết rõ và mối liên quan của vấn đề đó ở người vẫn chưa được chứng minh.

Thay chất hấp thụ CO2 khô: Các phản ứng toả nhiệt xảy ra với Sevoflurane và chất hấp thụ được tăng lên khi chất hấp thụ CO2 trởnên khô vì sau một giai đoạn dài của luồng khí khô thổi qua và/hoặc cháy tự phát trong máy gây mê đã được báo cáo trong quá trình sử dụng Sevoflurane kết hợp với việc sử dụng chất hấp thụ CO2 khô. Nồng độ Sevoflurane tăng chậm bất thường hoặc giảm bất thường so với nồng độ của bình đã được chuẩn hoá có thể liên quan tới sự đốt nóng quá mức của hộp chất hấp thụ CO2. Khi trên lâm sàng nghi ngờ là chất hấp thụ CO2 có thể bị khô, nên thay thế trước khi sử dụng Sevoflurane. Chất chỉ thị màu của hầu hết chất hấp thụ CO2 không cần thiết thay đổi theo quá trình làm khô. Do đó, việc thiếu đáng kể sự thay đổi màu sắc không được thực hiện vì chắc chắn hydrate hoá hết. Chất hấp thụ CO2 nên được thay thế đều đặn bất kể tình trạng của chỉ thị màu.

Thận trọng dược:

Sevoflurane được ổn định về mặt hoá học. Cũng giống như một số thuốc gây mê halogen khác, Sevoflurane bị giáng hoá một phần nhỏ qua tiếp xúc trực tiếp với các chất hấp phụ CO2. Mức độ giáng hoá không có ý nghĩa lâm sàng, không cần điều chỉnh liều hoặc thay đổi trong thực hành lâm sàng khi sử dụng chu trình kín. Khi dùng vôi Baryt lượng hợp chất giáng hoá A sinh ra cao hơn khi dùng vôi Soda.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cũng như các thuốc mê khác, cần thông báo cho bệnh nhân rõ là cần tránh làm những công việc đòi hỏi sự tỉnh táo về tinh thần trong một thời gian sau khi được gây mê toàn thân như vận hành các máy móc. Bệnh nhân không được phép lái xe trong một khoảng thời gian thích hợp sau khi gây mê bằng Sevoflurane..

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B2

US FDA pregnancy category: B

Thời kỳ mang thai:

Sevoflurane chỉ nên sử dụng cho phụ nữmang thai khi thật sự cần thiết.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa rõ Sevoflurane có bài tiết qua sữa hay không nên cần thận trọng khi dùng Sevoflurane ở người đang cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Thuốc được dung nạp tốt. Hầu hết các tác dụng phụ là nhẹ đến trung bình về cường độ và thoáng qua. Thường thấy nôn và buồn nôn trong thời gian sau phẫu thuật với một tỉ lệ tương tự các thuốc mê hô hấp khác. Cộng thêm vào nôn và buồn nôn, các tác dụng phụ khác thường là: người lớn hạ huyết áp, người cao tuổi là hạ huyết áp và nhịp tim chậm, trẻ em là lo âu và ho tăng lên. Các tác dụng phụ không thường xuyên có liên quan tới việc sử dụng Sevoflurane là: kích động, buồn ngủ, ớn lạnh, nhịp tim chậm, chóng mặt, tăng tiết nước bọt, rối loạn hô hấp, huyết áp cao, nhịp tim nhanh, viêm thanh quản, sốt, nhức đầu, hạ thân nhiệt, tăng SGOT.

Thỉnh thoảng có các báo cáo về tác dụng phụ có liên quan tới việc sử dụng Sevoflurane bao gồm: loạn nhịp tim, tăng LDH, tăng SGPT, giảm oxy, ngừng thở, tăng bạch cầu, ngoại tâm thu thất, ngoại tâm thu trên thất, hen, lú lẫn, tăng creatinin, ứnước tiểu glucose niệu, rung nhĩ, blốc nhĩ thất hoàn toàn, nhịp đôi, giảm bạch cầu.

Phản ứng dị ứng như phát ban, mày đay, ngứa, co thắt phế quản, phản ứng phản vệ hoặc phản ứng sốc đã được báo cáo. Cũng như tất cả các thuốc gây mê đường hô hấp mạnh khác, Sevoflurane có thể gây suy giảm tim mạch-hô hấp phụ thuộc liều.

Cực kỳ hiếm nhưng co giật có thể xuất hiện sau khi sử dụng Sevoflurane, đặc biệt ở trẻ em.

Rất hiếm nhưng cũng đã có báo cáo về phù phổi.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Điều trị sốt cao ác tính: Ngừng thuốc, tiêm tĩnh mạch dantrolen natri và áp dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ. Suy thận có thể xảy ra muộn hơn, phải theo dõi lượng nước tiểu của người bệnh.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Với các thuốc gây mê tiêm tĩnh mạch:

Dùng Sevoflurane tương hợp với barbiturat, propofol, và các thuốc gây mê tiêm tĩnh mạch khác.

Với Benzodiazepine các opioid:

Benzodiazepine các opioid làm giảm MAC của Sevoflurane cùng cách với các thuốc gây mê dạng hít khác. Dùng Sevoflurane tương hợp với benzodiazepine, các opioid dùng trong phẫu thuật.

N2O: Cũng nhưvới các thuốc gây mê halogen dạng hít, nhu cầu Sevoflurane giảm khi dùng với N2O. Sử dụng N2O 50%, nhu cầu liều tương đương MAC giảm khoảng 50% ở người lớn và khoảng 25% ở bệnh nhi (xem liều lượng và cách dùng).

Các thuốc phong bế thần kinh:

Cũng như với các thuốc gây mê dạng hít khác, Sevoflurane làm tăng cường độ và thời gian phong bế thần kinh cơ cảm ứng bởi các thuốc giãn cơ không phân cực. [Pharmog]. Khi sử dụng để bổ sung cho thuốc gây mê alfetanil-NO, Sevoflurane và isoflurane làm tăng tương đương sự phong bế thần kinh cơ cảm ứng bởi pancuronium, vecuronium hoặc atracurium. Vì vậy trong khi gây mê bằng Sevoflurane, cần điều chỉnh liều các thuốc giãn cơ này. Sự cộng lực của các thuốc phong bế thần kinh cơ đòi hỏi sự cân bằng của cơ với áp lực từng phần của Sevoflurane.

Liều giảm đi của các thuốc phong bế thần kinh cơ trong khi dẫn mê có thể làm chậm xuất hiện những điều kiện thích hợp cho việc đặt ống thông nội khí quản.

Trong số các thuốc không phân cực sẵn có, chỉ có các tương tác pancuronium, vecuronium hoặc atracurium được nghiên cứu trong gây mê bằng Sevoflurane.

Khi chưa có những nguyên tắc hướng dẫn cụ thể:

(1). Để đặt ống thông nội khí quản, không giảm liều các thuốc không giãn cơ phân cực.

(2). Trong khi duy trì gây mê, liều cần thiết cho các thuốc không giãn cơ phân cực có thể giảm tương đương với thuốc mê NO2/opioid. Dùng liều bổ sung thuốc giãn cơ được hướng dẫn bởi đáp ứng với kích thích thần kinh.

Tác dụng của Sevoflurane lên thời gian tác dụng của sự phong bế thần kinh cơ phân cực cảm ứng bởi succinylcholyl chưa được nghiên cứu.

Suy gan

Những kết quả đánh giá của các tham số xét nghiệm (ALT, AST, phosphatse kiềm, và bilirubin toàn phần) cũng như tần suất tác dụng phụ liên quan đến chức năng gan, chứng minh rằng sevoflurane có thể dùng cho bệnh nhân có chức năng gan bình thường hoặc suy gan từ nhẹ đến trung bình. Tuy nhiên, bệnh nhân suy gan nặng chưa được nghiên cứu

Chất hút CO2

Phản ứng sinh nhiệt có thể xảy ra khi sevoflurane tiếp xúc với chất hấp thụ CO2. Phản ứng này tăng khi chất hấp thụ CO2 bị khô, như sau một thời gian dài dòng khí khô đi qua bình hút CO2. Hiếm gặp thường hợp nhiệt độ tăng quá cao, bóc khói trong ống thở khi dùng sevoflurane cùng với chất hút ẩm CO2, nhất là khi có KOH (Baralyme). Cũng như với các thuốc gây mê dạng hít khác, sự phân cắt và các sản phẩm phân cắt có thể xảy ra khi sevoflurane tiếp xúc với chất hút ẩm bị khô. Khi bác sĩ nghi ngờ chất hấp thụ CO2 có thể bị khô, phải thay ngay. Màu của chất chỉ thị của hầu hết các chất hút CO2 có thể không đổi khi khô. Vì vậy, không đổi màu không có nghĩa là hydrat hóa đủ. Chất hấp thụ CO2 phải được thay thế thường xuyên.

Dùng cho người cao tuổi:

MAC giảm khi tuổi tăng. Nồng độ trung bình của sevoflurane đạt MAC ở người 80 tuổi khoảng 50% người 20 tuổi.

Dùng cho trẻ em:

Dẫn mê và duy trì mê bằng sevoflurane đã được biết rõ trong các nghiên cứu lâm sàng ở trẻ em từ 1-18 tuổi.

Nồng độ của sevoflurane cần để duy trì mê phụ thuộc tuổi. Khi kết hợp với N2O, liều sevoflurane tương đương MAC phải giảm.

Dùng sevoflurane thường gây động kinh đa số gặp ở trẻ em từ 2 tháng tuổi, hầu hết là có yếu tố nguy cơ.

4.9 Quá liều và xử trí:

Nếu quá liều, cần ngừng thuốc ngay, đảm bảo thông đường thở, bắt đầu trợ giúp hoặc thông khí có kiểm soát với oxy tinh khiết và duy trì chức năng tim mạch thích hợp.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Sevoflurane là thuốc gây mê đường hô hấp được sử dụng trong dẫn mê và duy trì. Độ sâu của gây mê thay đổi nhanh theo sự thay đổi nồng độ sevoflurane hít vào. Tỉnh và hồi phục đặc biệt nhanh. Vì vậy người bệnh có thể cần đến giảm đau sau mổ sớm.

Trong những chương trình y tế, những tham số hồi phục sau đây được đánh giá:

(1). Thời gian đến lúc tác dụng được đo từ lúc kết thúc thuốc nghiên cứu:

Thời gian đến lúc rút ống nội khí quản (thời gian rút ống).

Thời gian cần cho bệnh nhân mở mắt khi nghe lệnh (thời gian tỉnh).

Thời gian đáp ứng với lệnh đơn giản (ví dụ: hãy nắm tay tôi) hoặc cho thấy cử động có mục đích.

(2). Sự phục hồi chức năng ý thức và phối hợp động tác được đánh giá dựa trên:

Nghiệm pháp năng lực tâm thần vận động (Nghiệm pháp thay thế ký hiệu số [DSST]; nghiệm pháp Treiger Dot) A29

Những số đo chủ quan (Thang thị giác [VAS]) và khách quan (thang đau-khó chịu [OPDS]).

Thời gian đến lúc dùng thuốc giảm đau hậu phẫu đầu tiên.

Đánh giá tình trạng bệnh nhân sau gây mê.

(3). Các thời gian phục hồi khác là:

Thời gian đạt điểm Aldrete ≥8

Thời gian cần thiết cho bệnh nhân rời khu hồi sức, theo tiêu chuẩn tại chỗ.

Thời gian khi bệnh chân đủ điều kiện xuất viện.

Thời gian khi bệnh nhân có thể ngồi dậy hoặc đứng dậy mà không chóng mặt.

Cũng như các thuốc mê đường hô hấp khác, Sevoflurane ức chế chức năng tim mạch tương ứng với liều lượng.

Trong một công trình nghiên cứu trên người tình nguyện tăng nồng độ Sevoflurane làm giảm huyết áp động mạch trung bình và không có sự thay đổi nhịp tim. Trong nghiên cứu này, Sevoflurane không có ảnh hưở ng đến nồng độ noradrenalin trong huyết tương. Không quan sát thấy các cơn động kinh trong chương trình nghiên cứu lâm sàng. ở người bệnh có áp lực nội sọ bình thường (ICP), Sevoflurane có tác dụng rất ít trên ICP và trên sự đáp ứng với CO2.

Độ an toàn của Sevoflurane chưa được nghiên cứu trên người bệnh có tăng ICP. Với người bệnh có nguy cơ tăng áp lực nội sọ, cần sử dụng Sevoflurane thận trọng, phối hợp với các phương pháp giảm ICP như tăng thông khí..

Cơ chế tác dụng:

Sevofluran làm giảm độ dẫn điện bằng cách giảm khoảng thời gian mở kênh và tăng thời gian đóng kênh. Isoflurane cũng kích hoạt kênh canxi phụ thuộc ATPase trong lưới sarcoplasmic bằng cách tăng lượng dịch của màng lipid. Thuốc cũng gắn vào tiểu đơn vị D của ATP synthase và NADH dehydogenase. Sevofluran cũng liên kết với thụ thể GABA, một lượng lớn Ca 2+  dẫn tới kích hoạt kênh kali, thụ thể glutamate và thụ thể glycine.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu và phân phối

Độ tan: Vì độ hòa tan kém của Sevoflurane trong máu (hệ số phân chia máu/khí ở 37°C = 0.63 – 0.69), một lượng tối thiểu Sevoflurane cần thiết tan trong máu trước khi áp lực từng phần ở phế nang cân bằng với áp lực từng phần ở động mạch. Vì vậy có tốc độ tăng nhanh trong nồng độ phế nang (cuối dòng FA) đến nồng độ mong muốn (FI) trong dẫn mê.

Dẫn mê: Trong một nghiên cứu ở 7 người tình nguyện nam khỏe mạnh dùng 70%N2O/30%O2 trong 30 phút tiếp theo là 1.0% sevoflurane và 0.6% isoflurane thêm 30 phút nữa, tỷ số FA/FI cho sevoflurane lớn hơn so với isoflurane ở mọi thời điểm. Thời gian để nồng độ phế nang đạt 50% nồng độ mong muốn là 4-8 phút cho isoflurane và 1 phút cho sevoflurane. Dữ liệu FA/FI từnghiên cứu này được so sánh với các thuốc gây mê halogen khác từ nghiên cứu khác. Khi tất cả các dữ liệu được chuẩn hóa theo isoflurane, sự hấp thu và phân phối sevoflurane nhanh hơn isoflurane, nhưng chậm hơn desflurane.

Hồi tỉnh: Độ hòa tan thấp của sevoflurane giúp thải trừ nhanh qua phổi. Tốc độ thải trừ được tính theo tốc độ thay đổi nồng độ phế nang sau khi kết thúc gây mê (F), so với nồng độ phế nang sau cùng (FAo ) được đo ngay trước khi ngừng thuốc mê này.

Gắn với protein: Tác dụng của sevoflurane lên sự thay thế các thuốc từprotein mô và huyết thanh chưa được nghiên cứu. Các thuốc gây mê bay hơi chứa fluoride khác cho thấy có sự thay thế các thuốc từ protein mô và huyết thanh invitro. Chưa biết ý nghĩa lâm sàng của hiện tượng này .

Chuyển hóa:

Sevoflurane được chuyển hóa bởi cytocrom P450 2E1, thành hexafluoroisopropanol (HFIP) với sự phóng thích fluoride vô cơ và CO2. Một khi HFIP được tạo thành nó nhanh chóng liên hợp với acid glucuronic và được thải trừ dưới dạng chất chuyển hóa trong nước tiểu. Những chu trình chuyển hóa khác cho sevoflurane đã được nhận diện.

Những nghiên cứu chuyển hóa in vivo cho thấy khoảng 5% liều sevoflurane đã dùng có thể được chuyển hóa.

Cytocrom P450 2E1 là chất đồng dạng chính được định tính cho sự chuyển hóa sevoflurane và điều này có thể được gây cảm ứng bởi sự phơi nhiễm lâu dài với isoniazid và etavớinol. Điều này tương tựvới sự chuyển hóa isoflurane và enflurane và được phân biệt với methoxyflurane, được chuyển hóa qua nhiều loại Cytocrom P450. Sự chuyển hóa sevoflurane không thể gây cảm ứng bằng barbituarat.

Thải trừ: Đến 3.5% liều sevoflurane xuất hiện trong nước tiểu dưới dạng fluoride vô cơ. Các nghiên cứu trên fluoride cho thấy đến 50% sự thanh thải fluoride là không qua thận (fluoride được hấp thụ vào xương)..

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: không có.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30oC. Không để đông lạnh. Vì thuốc bay hơi, cần đậy kín nắp. Để chai ở vị trí thẳng đứng

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM