Thuốc OxyNeo, Oxynorm là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc OxyNeo, Oxynorm (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Oxycodone
Phân loại: Thuốc giảm đau opioid (giảm đau gây nghiện)
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N02AA05.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: OxyNeo , Oxynorm , Oxynorm injection, Oxynorm oral solution
Hãng sản xuất : Bard Pharmaceuticals Limited – Anh (Mundipharma Pharmaceuticals Ltd)
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nang cứng 5mg., 10mg, 20mg. Hộp 2 vỉ x 14 viên
Dung dịch uống 4,5mg/5ml. Hộp 01 chai x 100 ml; Hộp 01 chai 250 ml.
Dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch/tiêm dưới da 10mg/ml. Hộp 5 ống
Thuốc tham khảo:
| OXYNEO 5mg | ||
| Mỗi viên nang có chứa: | ||
| Oxycodone | …………………………. | 5 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| OXYNORM 10mg | ||
| Mỗi viên nang có chứa: | ||
| Oxycodone | …………………………. | 10 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| OXYNORM 5mg/5ml ORAL SOLUTION | ||
| Mỗi ml dung dịch có chứa: | ||
| Oxycodone | …………………………. | 1 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| OXYNORM INJECTION | ||
| Mỗi ml dung dịch tiêm có chứa: | ||
| Oxycodone | …………………………. | 10 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Dùng giảm đau từ trung bình tới nặng ở bệnh nhân đau do ung thư và đau sau khi phẫu thuật.
Giảm đau nặng cần sử dụng opioid mạnh.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Viên nang, dung dịch uống:
Đường dùng: uống
Nói chung cũng như các opioid mạnh khác, sự cần thiết của việc tiếp tục trị liệu nên được đánh giá định kỳ.
Dung dịch tiêm:
Tiêm hoặc truyền dưới da
Tiêm hoặc truyền tĩnh mạch
Xem thêm mục 6.4 Thông tin khác.
Liều dùng:
Viên nang, dung dịch uống:
Người cao tuổi và người lớn trên 18 tuổi
Viên nang OxyNeo nên được dùng với khoảng cách liều là 4-6 giờ. Liều dùng phụ thuộc vào mức độ đau và tiền sử trước đây của bệnh nhân về yêu cầu giảm đau.
Mức độ đau tăng sẽ cần tăng liều OxyNeo. Liều dùng được điều chỉnh theo từng bệnh nhân để có thể kiểm soát được cảm giác đau và được dung nạp tốt trong suốt giai đoạn sử dụng thuốc. Bệnh nhân nên được chuẩn liều giảm đau trừ khi các tác dụng phụ khó kiểm soát của thuốc ngăn cản việc này.
Liều thông thường khởi đầu cho bệnh nhân ít sử dụng opioid hoặc bệnh nhân có biểu hiện đau nặng không kiểm soát được với opioid nhẹ là 5 mg oxycodone hydrochloride, 4-6 giờ một lần. Liều dùng sau đó nên được điều chỉnh cẩn thận, và thường xuyên mỗi ngày 1 lần nếu cần, để đạt được hiệu quả giảm đau mong muốn. Phần lớn bệnh nhân sẽ không yêu cầu liều hàng ngày lớn hơn 400 mg oxycodone hydrochloride. Tuy nhiên, có một vài bệnh nhân yêu cầu liều cao hơn.
Bệnh nhân dùng morphine đường uống trước khi sử dụng oxycodone nên dùng liều hàng ngày dựa trên tỉ lệ sau: 10 mg oxycodone hydrochloride đường uống tương đương với 20 mg morphine đường uống. Cần phải nhấn mạnh rằng đây là hướng dẫn đối với liều yêu cầu của OxyNeo. Sự khác nhau giữa các bệnh nhân nên cần phải chuẩn liều cẩn thận để có liều thích hợp.
Nghiên cứu dược động học có kiểm soát ở bệnh nhân cao tuổi (trên 65 tuổi) cho thấy, so với người trẻ tuổi, độ thanh thải của oxycodone chỉ giảm nhẹ. Không có các tác dụng phụ bất lợi được thấy dựa vào tuổi tác, do đó liều dùng và khoảng cách liều của người lớn là thích hợp cho người cao tuổi.
Người lớn bị suy thận nhẹ tới trung bình và suy gan nhẹ: Nồng độ huyết tương của thuốc ở những bệnh nhân này có thể bị tăng. Do đó, liều khởi đầu nên dùng thận trọng. Liều khởi đầu đối với bệnh nhân ít dùng opioid là 2,5 mg oxycodone hydrochloride, 6 giờ 1 lần, định sẵn bằng dung dịch OxyNeo.
Sử dụng cho người dưới 18 tuổi: OxyNeo không sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi.
Sử dụng trong đau không ác tính/ không do nguồn gốc ung thư (non-malignant pain): Các opioid không phải là trị liệu ưu tiên đối với đau không ác tính, nó cũng không được khuyến cáo như là trị liệu duy nhất. Các trường hợp đau mạn tính được thấy là dịu đi bởi các opioid mạnh gồm đau do viêm xương khớp mạn tính và các bệnh về đĩa liên đốt sống. Sự cần thiết của việc tiếp tục trị liệu ở bệnh nhân đau không ác tính nên được đánh giá định kỳ.
Ngừng trị liệu: Khi một bệnh nhân không yêu cầu kéo dài trị liệu với oxycodone hơn nữa, khuyến khích giảm liều từ từ để dự phòng các triệu chứng do ngừng thuốc.
Dung dịch tiêm:
Liều lượng nên được điều chính theo mức độ đau, tình trạng toàn thân của bệnh nhân cũng như sự phối hợp với các thuốc đã hoặc đang dùng.
Người cao tuổi và người lớn trên 18 tuổi:
Liều khởi đầu sau đây được khuyến cáo. Có thể yêu cầu tăng liều dần dần khi mức độ giảm đau không đạt được hoặc mức độ đau tăng lên.
Tiêm tĩnh mạch (Bolus): Pha loãng thành nồng độ 1mg/ml trong dung dịch muối NaCl 0,9%, dextrose 5% hoặc nước cất pha tiêm.
Tiêm tĩnh mạch chậm liều bolus 1 tới 10 mg trong thời gian 1-2 phút.
Liều dùng không nên đùng thường xuyên hơn mỗi 4 giờ.
Truyền tĩnh mạch: Pha loãng thành nồng độ 1 mg/ml trong dung dich muối đăng trương NaCl 0,9%, dextrose 5% hoặc nước cất pha tiêm. Một liều khởi đầu 2 mg/giờ được khuyến cáo.
Tiêm tĩnh mạch (PCA-Bơm tiêm do bệnh nhân tự điều khiển): Pha loãng thành nồng độ 1mg/ml trong dung dịch mudi NaCl 0,9%, dextrose 5% hoặc nước cất pha tiêm. Liều bolus 0,03 mg/kg được sử dụng với thời gian ngừng tối thiểu 5 phút.
Tiêm dưới da (Bolus): Sử dụng nồng độ 10mg/ml. Liều khởi đầu được khuyến cáo là 5 mg, lặp lai trong 4 giờ theo yêu cầu.
Tiêm truyền dưới da: Pha loãng trong dung dịch muối đẳng trương NaCl 0,9%, dextrose 5% hoặc nước cất pha tiêm nếu yêu cầu. Một liều khởi đầu 7,5 mg/ngày được khuyến cáo ở bệnh nhân ít sử dụng opioid, chuẩn liều từng bước theo sự kiểm soát triệu chứng.
Bệnh nhân ung thư được chuyên từ oxycodon uống có thê cần liều cao hơn (xem thông tin phía dưới).
Bệnh nhân chuyển đường sử dụng oxycodon giữa đường uống sang đường tiêm:
Liều dùng nên được dựa trên tỉ lệ sau: 2 mg oxycodon uống tưong ứng với 1 mg oxycodon dùng dạng tiêm. Tỷ lệ này nên được nhấn mạnh đó là hướng dẫn với liều yêu cầu. Sự khác nhau giữa các bệnh nhân nên cần phải chuẩn liều cần thận để có liều thích hợp.
Người cao tuổi:
Bệnh nhân cao tuổi nên được trị liệu thận trọng. Nên sử dụng liễu thấp nhất và chuẩn liều cẩn thận để kiểm soát cơn đau.
Người lớn bị suy thận và suy gan:
Bệnh nhân suy thận nhẹ tới trung bình/hoặc suy gan nhẹ nên được trị liệu thận trọng. Nên sử dụng liều thấp nhất và chuẩn liều cẩn thận để kiểm soát cơn đau.
Sử dụng cho người dưới 18 tuổi:
Chưa có dữ liệu về việc sử dụng OxyNorm tiêm ở bệnh nhân đưới 18 tuổi.
Sử dụng trong đau không ác tính đau không do nguồn gốc ung thư:
Các opioid không phải là trị liệu ưu tiên đối với đau không ác tính, nó cũng không được khuyến cáo như là trị liệu duy nhất. Các trường hợp đau mạn được thấy là dịu đi bởi các opioid mạnh gồm đau do viêm xương khớp mạn tính và các bệnh về đĩa liên cột sống. Sự cần thiết của việc tiếp tục trị liệu ở bệnh nhân đau không ác tính nên được đánh giá định kỳ.
Ngừng trị liệu:
Khi một bệnh nhân không yêu cầu kéo dài trị liệu với oxvcodon hơn nữa, khuyên khích giảm liêu từ từ để phòng các triệu chứng ngừng thuốc.
4.3. Chống chỉ định:
Bệnh nhân mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc, suy hô hấp, chấn thương đầu, tắc liệt ruột, hội chứng bụng cấp, chậm làm rỗng dạ dày, các bệnh tắc nghẽn đường hô hấp mạn tính, bệnh tim phổi, hen phế quản mạn tính, tăng cacbon dioxid huyết, đã biết mẫn cảm với oxycodone hoặc trong bất kỳ trường hợp nào mà chống chỉ định sử dụng thuốc opioid, suy gan trung bình tới nặng, suy thận nặng (độ thanh thải creatinine <10mL/phút), táo bón mạn tính, sử dụng đồng thời với thuốc ức chế monoamin oxidase hoặc trong vòng 2 tuần ngừng sử dụng thuốc này. Phụ nữ mang thai.
4.4 Thận trọng:
Nguy cơ chủ yếu khi sử dụng quá nhiều opioid là suy hô hấp. Cũng như tất cả các thuốc gây nghiện, khuyến khích giảm liều ở bệnh nhân suy tuyến giáp. Sử dụng thận trọng ở bệnh nhân phụ thuộc opioid và ở bệnh nhân bị giảm áp lực nội sọ, giảm huyết áp, giảm thể tích máu, loạn tâm thần nhiễm độc, bệnh đường mật, viêm tụy, viêm loét đại tràng, phì đại tuyến tiền liệt, suy vỏ thượng thận, nghiện rượu cấp, cuồng sảng rượu cấp, bệnh gan và thận mạn tính, hoặc bệnh phổi nặng và suy nhược, bệnh nhân cao tuổi và ốm yếu. Viên nang OxyNeo không nên sử dụng cho bệnh nhân có khả năng bị tắc liệt ruột. Nếu nghi ngờ tắc liệt ruột hoặc xuất hiện tắc liệt ruột khi sử dụng OxyNeo, thì nên ngừng sử dụng OxyNeo ngay lập tức. Cũng như với tất cả các chế phẩm opioid, bệnh nhân phải trải qua thêm tiến trình giảm đau (ví dụ phẫu thuật, phong tỏa đám rối thần kinh) không nên uống viên nang OxyNeo 6 giờ trước khi can thiệp. Nếu chỉ định tiếp tục trị liệu với oxycodone, liều lượng nên được điều chỉnh theo yêu cầu hậu phẫu mới.
Oxycodone nên được sử dụng thận trọng sau phẫu thuật bụng vì các opioid được biết là gây giảm nhu động ruột và không nên sử dụng cho tới khi bác sỹ đảm bảo chức năng ruột bình thường.
Đối với bệnh nhân thích hợp, trải qua những cơn đau mạn tính không ác tính, opioid nên được sử dụng như là một phần của chương trình trị liệu toàn diện bao gồm cả các thuốc khác và phương thức trị liệu. Một phần quan trọng của việc đánh giá một bệnh nhân bị các cơn đau mạn tính không ác tính là bệnh nhân nghiện và tiền sử lạm dụng thuốc này. Có khả năng phát triển nghiện thuốc tâm lý với thuốc giảm đau opioid gồm cả oxycodone. Cũng giống như tất cả các opioid, viên nang OxyNeo nên được sử dụng đặc biệt thận trọng ở bệnh nhân có tiền sử lạm dụng rượu và thuốc.
Nếu trị liệu opioid thích hợp với bệnh nhân, thì mục tiêu chính của trị liệu không phải là giảm thiểu liều opioid mà là để đạt một liều giảm đau phù hợp với tác dụng phụ ít nhất. Phải thường xuyên có sự liên hệ giữa bác sỹ và bệnh nhân, bởi vậy việc điều chỉnh liều mới có thể thực hiện. Đặc biệt khuyến cáo bác sỹ xác định kết quả trị liệu phù hợp với hướng dẫn kiểm soát đau. Bác sỹ và bệnh nhân có thể đồng ý ngừng trị liệu nếu các mục tiêu này không đạt được.
Sunset yellow (phẩm màu tổng hợp) là một thành phần của viên 5mg có thể là nguyên nhân gây ra phản ứng loại dị ứng như là hen. Phản ứng này là khá phổ biến ở người dị ứng với aspirin.
Đặc điểm của lạm dụng oxycodone tương tự như các opioid mạnh khác. Oxycodone có thể bị tìm kiếm và bị lạm dụng ở người có rối loạn nghiện tiềm ẩn hoặc biểu lộ.
Cũng như với các opioid khác, trẻ sơ sinh được sinh ra bởi người mẹ nghiện thuốc có thể có biểu hiện triệu chứng do ngừng thuốc và có thể có suy hô hấp lúc mới sinh.
Viên nang nên được nuốt nguyên cả viên, không nhai hoặc nghiền. Lạm dụng dạng bào chế đường uống cho đường tiêm truyền có thể dẫn tới kết quả các hậu quả nghiêm trọng, gồm cả tử vong.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Oxycodone có thể làm giảm phản xạ của bệnh nhân ở mức độ khác nhau phụ thuộc vào liều và mức độ nhạy cảm của từng người. Do đó bệnh nhân không nên lái xe hoặc vận hành máy móc nếu bị ảnh hưởng.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: C
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
OxyNeo không được khuyến cáo sử dụng cho phụ nữ mang thai cũng như trong lúc trở dạ sinh. Trẻ em được sinh ra bởi những người mẹ đã dùng opioid trong thời kỳ mang thai nên được theo dõi suy hô hấp.
Thời kỳ cho con bú:
Oxycodone có thể được bài tiết vào sữa mẹ và có thể gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Do đó, không nên sử dụng viên nang OxyNeo cho bà mẹ đang cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các tác dụng phụ của thuốc gồm đầy đủ các tác dụng phụ điển hình của chất chủ vận opioid. Sự dung nạp và sự phụ thuộc thuốc có thể xuất hiện (xem Sự dung nạp và sự phụ thuộc thuốc, bên dưới). Táo bón có thể được ngăn ngừa với thuốc nhuận tràng thích hợp. Nếu buồn nôn và nôn mửa gây khó chịu, có thể kết hợp thuốc chống nôn với oxycodone.
Các tác dụng phụ với tỷ lệ phổ biến (tỷ lệ ≥1%) và không phổ biến (tỷ lệ ≤1%) được liệt kê ở bảng 1.
– xem Bảng 1.

Dung nạp và phụ thuộc thuốc
Bệnh nhân có thể phát triển dung nạp với thuốc sử dụng thường xuyên và yêu cầu liều cao dần để duy trì kiểm soát đau. Sử dụng kéo dài viên nang OxyNeo có thể dẫn tới sự phụ thuộc thuốc và hội chứng ngừng thuốc có thể xảy ra khi đột ngột ngừng điều trị. Khi một bệnh nhân không còn cần tiếp tục trị liệu với oxycodone, khuyến khích giảm liều từ từ để ngăn ngừa triệu chứng do ngừng thuốc. Hội chứng cai thuốc hoặc ngừng thuốc opioid được đặc trưng bởi một số hoặc tất cả các triệu chứng sau: bồn chồn, chảy nước mắt, sổ mũi, ngáp, toát mồ hôi, ớn lạnh, đau cơ, giãn đồng tử và nhịp tim nhanh. Các triệu chứng khác cũng có thể tiến triển gồm: kích động, lo âu, đau lưng, đau khớp, suy nhược, đau bụng, mất ngủ, buồn nôn, chán ăn, nôn mửa, tiêu chảy hoặc tăng huyết áp, tăng nhịp tim và tăng nhịp thở.
Viên nang OxyNeo nên được sử dụng với sự thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân có tiền sử lạm dụng thuốc và rượu.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Oxycodone, cũng giống như các opioid khác, có khả năng tác động đến hiệu quả của thuốc an thần, thuốc gây mê, thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm, các phenothiazine, thuốc an thần kinh, rượu, các opioid khác, giãn cơ và hạ áp. Chất ức chế monoamin oxidase được biết tương tác với thuốc giảm đau gây nghiện, gây kích thích hệ thần kinh trung ương hoặc trầm cảm kèm theo các cơn tăng huyết áp hoặc cơn hạ huyết áp. Sử dụng đồng thời quinidine, một chất ức chế cytochrome P450-2D6, dẫn tới tăng 11% nồng độ Cmax của oxycodone, AUC tăng 13% và thời gian bán thải t½ tăng 14%. Cũng như tăng nồng độ noroxycodone đã được quan sát (Cmax tăng 50%, AUC tăng 85% và thời gian bán thải t½ tăng 42%). Tác dụng dược lý của oxycodone là không thay đổi. Tương tác này có thể quan sát thấy ở các thuốc có khả năng ức chế enzyme cytochrome P450-2D6. Cimetidine và các chất ức chế cytochrome P450-3A như ketoconazole và erythromycin có thể ức chế sự chuyển hóa của oxycodone.
4.9 Quá liều và xử trí:
Dấu hiệu độc tính oxycodone và quá liều là co đồng tử, suy hô hấp và hạ huyết áp. Suy tuần hoàn và ngủ gà tiến tới trạng thái sững sờ hoặc hôn mê sâu, yếu cơ xương, nhịp tim chậm và tử vong có thể xảy ra trong trường hợp trầm trọng.
Trị liệu quá liều oxycodone
Chủ yếu chú ý thiết lập đường khí thở và thiết lập sự hỗ trợ hoặc kiểm soát thông khí.
Trong trường hợp quá liều liều lớn, nếu bệnh nhân bị hôn mê hoặc suy hô hấp thì truyền tĩnh mạch naloxone (0,4 tới 2 mg với người lớn và 0,01 mg/kg thể trọng với trẻ em). Lặp lại liều trên trong khoảng thời gian 2 phút nếu không có sự đáp ứng với liều thứ nhất. Nếu sau đó liều lặp lại được yêu cầu, truyền tĩnh mạch với liều bằng 60% liều khởi đầu mỗi giờ là thích hợp. Một dung dịch 10 mg trong 50 mL dextrose sẽ tạo được nồng độ 200 microgram/mL, dung dịch này sử dụng truyền bằng bơm tiêm tĩnh mạch (liều dùng được điều chỉnh theo đáp ứng lâm sàng). Sự truyền dịch không thay thế việc xem xét lại tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Tiêm bắp naloxone là phương thức thay thế trong trường hợp tiêm tĩnh mạch không thực hiện được. Vì thời gian hoạt động của naloxone là tương đối ngắn, bệnh nhân phải được kiểm soát cẩn thận cho tới khi hô hấp tự động chắc chắn đã được thiết lập. Naloxone là một chất đối kháng cạnh tranh và liều cao (4 mg) có thể được yêu cầu sử dụng cho bệnh nhân ngộ độc trầm trọng.
Với trường hợp quá liều ít nghiêm trọng, tiêm tĩnh mạch 0,2 mg naloxone sau đó tăng thêm 0,1 mg cho mỗi 2 phút nếu cần thiết.
Naloxone không nên dùng ở bệnh nhân không thấy suy hô hấp hoặc suy tuần hoàn đáng kể trên lâm sàng thứ phát khi quá liều oxycodone. Naloxone nên được dùng thận trọng với người được biết hoặc nghi ngờ là bị nghiện oxycodone. Trong trường hợp như vậy, đảo nghịch hoàn toàn hoặc đột ngột tác dụng của opioid có thể gây đau và hội chứng ngừng thuốc cấp tính.
Cân nhắc thêm/khác:
Cân nhắc việc sử dụng than hoạt (50 g với người lớn, 10-15 g với trẻ em), nếu một lượng thuốc đáng kể đã được hấp thu trong vòng 1 giờ, bảo vệ đường thở.
Làm rỗng dạ dày (rửa dạ dày) có thể hữu ích trong việc loại thuốc chưa hấp thu.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Oxycodone là một chất chủ vận opioid hoàn toàn với đặc tính không đối kháng. Thuốc có ái lực cao với các thụ thể opiate kappa, muy và delta trên não và tủy sống. Tác dụng trị liệu chủ yếu là giảm đau, giải lo âu và an thần.
Cơ chế tác dụng:
Cơ chế chính xác của giảm đau chưa được biết. Tuy nhiên, các thụ thể opioid CNS cho các hợp chất nội sinh có hoạt tính như opioid trong não và tủy sống và được cho là đóng một vai trò trong tác dụng giảm đau của thuốc này.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Viên nang, dung dịch uống:
So với morphine, chất có sinh khả dụng tuyệt đối xấp xỉ 30%, oxycodone có sinh khả dụng tuyệt đối cao tới 87% theo đường uống. Oxycodone có thời gian bán thải xấp xỉ 3 giờ và được chuyển hóa chủ yếu thành noroxycodone thông qua CYP 450-3A và oxymorphone qua CYP450-2D6. Oxymorphone có một chút hoạt tính giảm đau nhưng ở trong huyết tương chất chuyển hóa này có nồng độ thấp và nó không được xem là có đóng góp đối với tác dụng dược lý của oxycodone.
Dung dịch tiêm:
Nghiên cứu dược động học trên người khỏe mạnh đã chứng minh một giá trị tương đương của oxycodon từ OxyNorm tiêm khi sử dụng đường tiêm tĩnh mạch và tiêm dưới đa, khi dùng một liều bolus hoặc truyền liên tục trên 8 giờ.
Sau khi hấp thu, oxycodon được phân bố khắp toàn bộ cơ thể. Xấp xỉ 45% được liên kết với protein huyết tương. Thuốc được chuyển hóa ở gan thành noroxycodon, oxymorphone và các chất liên hợp glucuronide khác nhau. Tác dụng giảm đau của các chất chuyên hóa không có ý nghĩa lâm sàng.
Hoạt chất và các chất chuyển hóa của nó được bài tiết trong cả nước tiểu và phân.
Nồng độ trong huyết tương của oxycodon chỉ bị ảnh hưởng rất nhỏ theo tuổi, so với người trẻ thì ở người cao tuổi cao hon 15%.
Với phụ nữ, nồng độ oxycodon huyết tương trung bình cao hơn 25% so với nam giới có cùng cân nặng.
Thuốc xâm nhập vào nhau thai và được tìm thấy trong sữa mẹ.
So với người bình thường, bệnh nhân bị suy gan nhẹ tới nặng có thể có nồng độ oxycodon và noroxycodon huyết tương cao hơn còn nồng độ oxymorphone huyết tương thì thấp hơn. Có thể có sự tăng thời gian bán thải của oxycodon và điều này có thể làm tăng tác dụng của thuốc.
So với người bình thường, bệnh nhân bị suy thận nhẹ tới nặng có thể có nồng độ của oxycodon và các chất chuyên hóa của nó trong huyết tương cao hơn. Có thể có sự tăng thời gian bán thải của oxycodon và điều này có thể làm tăng tác dụng của thuốc.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
6.2. Tương kỵ :
Chế phẩm thuốc này không nên trộn với các chế phẩm thuốc khác ngoại trừ những chế phẩm được đề cập trong phần “Những lưu ý đặc biệt khi sử dụng”
Thuốc cyclizine ở nồng độ 3mg/ml hoặc dưới nồng độ này, khi trộn với OxyNorm tiêm, pha loãng hoặc không pha loãng với nước cất pha tiêm, cho thấy không có dấu hiệu của kết tủa trong thời gian 24 giờ ở nhiệt độ phòng. Kết tủa đã thấy xuất hiện trong hỗn hợp OxyNorm tiêm với thuốc cyclizine ở nồng độ lớn hơn 3 mg/ml hoặc khi pha loãng với saline 0,9%. Khuyến cáo sử dụng nước cất pha tiêm làm chất pha loãng khi cyclizine và oxycodon hydrochlorid được sử dụng đồng thời tiêm tĩnh mạch cũng như tiêm dưới da dưới dạng truyền.
Prochlorperazine không tương thích hóa học với OxyNorm tiêm.
6.3. Bảo quản:
Không bảo quản trên 30°C.
Thuốc tiêm này, cả khi không pha loãng lẫn pha loãng thành nồng độ 1 mg/ml trong dịch truyền sử dụng trong các nghiên cứu này và được đựng trong các thiết bị khác nhau, không cần phải bảo vệ tránh ánh sánh.
Bảo quản không thích hợp dung dịch chưa pha loãng sau khi mở ống tiêm ban đầu, hoặc dung dịch đã pha loãng có thê gây ảnh hưởng tới độ vô khuẩn của sản phẩm.
6.4. Thông tin khác :
Mỗi ống được sử dụng dạng liều đơn cho mỗi bệnh nhân. Nên dùng ngay lập tức sau khi mở ống và phần không sử dụng nên loại bỏ. Độ ổn định của đặc tính hóa học và vật lý của thuốc trong thời gian 24 giờ ở nhiệt độ phòng đã được chứng minh.
Từ quan sát về vi sinh, chế phẩm này nên được dùng ngay lập tức. Nếu không sử dụng ngay lập tức, điều kiện và thời gian bảo quản trước khi sử dụng là tránh nhiệm của người sử dụng và thông thường không kéo dài quá 24 giờ ở nhiệt độ 2-8°C, trừ khi việc hoàn nguyên, pha loãng v.v.. đã tiến hành trong điều kiện vô khuẩn và có kiểm soát.
OxyNomm tiêm được thấy là tương thích với những thuốc sau:
Hyoscine butylbromide
Hyosscine hydrobromide
Dexamethasone sodium phosphate
Haloperidol
Midazolam hydrochlorid
Metoclopramide hydrochlorid
Levomepromazine hydrochlorid
OxyNorm tiêm không pha loang hoặc pha loãng thành nồng độ 1 mg/ml với saline 0,9%, dextrose 5% hoặc nước cất pha tiêm được ồn định về mặt vật lý và hóa học trong các bơm tiêm polycarbonate hoặc polypropylene, các ống polyethylene hoặc PVC và các túi truyền dịch PVC hoặc EVA, trong thời gian 24 giờ ở nhiệt độ phòng.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM