Olanzapine – Zanobapine

Thuốc Zanobapine là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Zanobapine (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Olanzapine

Phân loại: Thuốc an thần /Thuốc chống loạn thần nhóm Benzodiazepine

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N05AH03.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Zanobapine

Hãng sản xuất : Mepro Pharmaceuticals Pvt. Ltd.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim 10 mg.

Thuốc tham khảo:

ZANOBAPINE
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Olanzapine …………………………. 10 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Điều trị các biểu hiện của rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Cho viên thuốc vào 5ml nước đun sôi để nguội, đợi khoảng 1- 2 phút cho thuốc rã hết. Nên sử dụng thuốc ngay sau khi pha.

Liều dùng:

Liều khuyên dùng khởi đầu của Olanzapin là 5 – 10 mg/ngày, không cần chú ý đến bữa ăn.

Liều sau đó có thể điều chỉnh liều mỗi lần 5mg/kg/ngày, điều chỉnh liều từ từ với khoảng cách thời gian từ 7 ngày trở lên tùy theo tình trạng lâm sàng. Chỉ được tăng liều cao hơn liều thông thường 10 mg/ngày, sau khi đã có đánh giá lâm sàng thích hợp.

Liều dùng cho các nhóm bệnh nhân đặc biệt:

Trẻ em : Olanzapin chưa được nghiên cứu ở người dưới 18 tuổi.

Người bệnh cao tuổi : Không nên dùng thường quy với liều khởi đầu là 5 mg/ngày, nhưng nên cân nhắc đối với người bệnh hơn 65 tuổi khi có kèm các yếu tố lâm sàng không thuận lợi.

Người bệnh suy thận và/hoặc suy gan : Nên cân nhắc để dùng liều khởi đầu thấp là 5 mg/ngày ở những người bệnh này. Trong trường hợp suy gan trung bình (xơ gan, loại A hoặc B ChildPugh), nén dùng liều khởi đầu 5 mg và cẩn thận khi tăng liều.

Người bệnh nã so với người bệnh nam : Không có khác nhau về liều khởi đầu và phạm vi liều thông thường ở bệnh nhân nam và nữ.

Người bệnh không hút thuốc so với người bệnh có hút thuốc : Không có khác nhau về liều khởi đầu và phạm vi liều thông thường ở người bệnh không hút thuốc và người bệnh có hút thuốc.

Khi có nhiều hơn một yếu tố làm chậm quá trình chuyển hóa của Olanzapin (nữ giới, không hút thuốc, người già > 65 tuổi), nên cân nhắc để dùng liều khởi đầu thấp. Nên cẩn thận khi có chỉ định tăng liều ở những người bệnh này.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định trên các bệnh nhân quá mẫn với Olanzapin hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Không dùng Olanzapin đường tiêm cho người bị nhồi máu cơ tim cấp tính, đau thắt ngực không ổn định, hạ huyết áp nghiêm trọng hay chậm nhịp tim, hội chứng bệnh xoang hay mới trải qua phẫu thuật tim.

4.4 Thận trọng:

Triệu chứng phức tạp có nguy cơ gây tử vong đôi khi được coi là hội chứng thần kinh ác tính (NMS) đã được báo cáo khi dùng chung với các thuốc chống loạn thần kinh. Các biểu hiện của hội chứng thần kinh ác tính bao gồm sốt cao, cứng cơ, trạng thái tâm thần thay đổi, và có biểu hiện không ổn định của hệ thần kinh thực vật (mạch hoặc huyết áp không đều, nhịp tim nhanh, toát mồ hôi, loạn nhịp tim). Những dấu hiệu khác gồm tăng creatinine phosphokinase, myoglobin niệu (tiêu cơ vân), và suy thận cấp. Nếu các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng thần kinh ác tính có dấu hiệu tiến triển thì phải ngưng dùng olanzapin.

Olanzapin có thể gây hạ áp thế đứng kết hợp với chóng mặt, nhịp tim nhanh. Trên một số bệnh nhân, ngất, đặc biệt trong thời kỳ đầu dùng thuốc, có thể ảnh hưởng đến đặc tính chẹn thụ thể alpha1-adrenergic. Nguy cơ hạ áp thế đứng và ngất có thể giảm thiểu bằng cách dùng liều khởi đầu 5mg một lần mỗi ngày. Olanzapin cần thận trọng khi dùng trên các bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch (tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc thiếu máu cục bộ, suy tim), các bệnh về não mạch và các tình trạng có thể gây hạ huyết áp cho bệnh nhân (mất nước, giảm thể tích máu hoặc dùng các trị liệu với các thuốc hạ huyết áp).

Olanzapin cần được sử dụng thận trọng trên các bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc các tình trạng có nguy cơ làm giảm ngưỡng động kinh (chứng mất trí Alzheimer).

Cần thận trọng trên các bệnh nhân với các dấu hiệu và triệu chứng của suy gan, bệnh nhân đã có sẵn các tình trạng chức năng gan hạn chế và trên các bệnh nhân đã điều trị với các thuốc có khả năng gây độc cho gan. Đánh giá transaminase là cần thiết trên các bệnh nhân có các bệnh đáng kể về gan.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không nên lái xe hoặc điều khiển máy móc khi đang dùng thuốc vì Olanzapin gây buồn ngủ.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Không có các nghiên cứu kiểm soát chặt chẽ và đây đủ ở người mang thai . Phụ nữ được khuyên nên báo cho thầy thuốc nếu họ có thai hoặc có ý định mang thai khi đang dùng Olanzapin. Do kinh nghiệm còn hạn chế ở người, chỉ nên dùng thuốc này ở người mang thai khi lợi ích đem lại hơn hẳn mối nguy hại cho bào thai.

Thời kỳ cho con bú:

Ở chuột cống cho con bú, Olanzapin có tiết vào sữa. Chưa rõ Olanzapin có được tiết vào sữa người mẹ hay không. Người bệnh không nên cho con bú trong thời kỳ đang dùng Olanzapin.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các tác dụng ngoại ý được báo cáo đối với Olanzapin là nhẹ và thoáng qua (hiếm khi gặp phần ứng tăng nhãn áp góc đóng), các phản ứng như buồn ngủ, phát âm khó, bệnh Parkinson trở nên nặng hơn, dáng đi bất thường, ảo giác, suy nhược, mệt mỏi, thèm ăn, tăng thân nhiệt, tăng nồng độ triglyceride huyết, phù, tăng prolactic huyết (nhưng không có biểu hiện lâm sàng phổ biến), tăng bạch cầu ái toan, ít bị hạ huyết áp, nhịp tim chậm, kéo đài khoảng thời gian QT, đi tiểu không kiểm soát, quá mẫn với ánh sáng, hiếm khi co giật, giảm bạch cầu, phát ban; hiếm khi gập viêm gan, viêm tụy, nghẽn huyết khối, tăng cholesterol huyết, giảm thân nhiệt, bí tiểu, cương dương, giảm tiểu cầu, giải bạch cầu trung tính, tiêu cơ vân, rụng tóc.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng thuốc trong trường hợp xuất hiện các biểu hiện của hội chứng an thần kinh ác tính. Điều trị hỗ trợ tích cực và theo dõi chặt bệnh nhân. Cần thận trọng khi sử dụng lại olanzapin cho bệnh nhân sau khi xuất hiện hội chứng an thần kinh ác tính: nên lựa chọn các thuốc ít gây hội chứng này hơn và cần tăng liều từ từ cho bệnh nhân.

Ngừng thuốc hoặc giảm liều olanzapin nếu xuất hiện loạn động muộn trong quá trình sử dụng thuốc.

Giảm liều hoặc dùng thuốc 1 lần/ngày lúc đi ngủ nếu xuất hiện buồn ngủ trong quá trình sử dụng olanzapin.

Sử dụng các biện pháp điều trị dùng thuốc hoặc không dùng thuốc để điều chỉnh rối loạn lipid máu nếu xuất hiện trong quá trình điều trị bằng olanzapin. Có thể cân nhắc sử dụng thay thế bằng các thuốc an thần kinh khác ít gây ảnh hưởng trên chuyển hóa lipid như risperidon, ziprasidon hay aripiprazol.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Nhóm cảm ứng CYP1A2: Carbamazepine

Úc chế CYP1A2: Fluvoxamin, kháng sinh nhóm fluoroquinolon, enoxacin và ciprofloxacin, cimetidin, theophylin.

Chuyển hóa qua CYP1A2: Omeprazol và rifampin

Khả năng những thuốc khác ảnh hưởng đến Olanzapin: Thuốc kháng acid (magnesi, nhôm) hoặc cimetidin liều duy nhất không ảnh hưởng đến sinh khả dụng của Olanzapin dùng đường uống. Tuy nhiên, dùng đồng thời cùng than hoạt sẽ làm giảm sinh khả dụng của Olanzapin đường uống từ 50% đến 60%. Hút thuốc và điều trị bằng carbamazepin gây cảm ứng hoạt tính P450-1A2. Chuyển hóa của Olanzapin có thể bị cảm ứng do hút thuốc (độ thanh thải của Olanzapin thấp hơn 33% và thời gian bán thải dài hơn 21% ở những người không hút thuốc so với những người hút thuốc) hoặc điều trị bằng carbamazepin (độ thanh thải tăng 44% và thời gian bán thải giảm 20% khi điều trị cùng carbamazepin). Dược động học của theophylin, một thuốc chuyển hóa nhờ P450-1A2, không thay đổi khi dùng cùng Olanzapin.

Khả năng Olanzapin ảnh hưởng đến những thuốc khác: Trong các thử nghiệm lâm sàng dùng liễu duy nhất Olanzapin, không có sự ức chế chuyển hóa của imipramine, desipramine, warfarin, theophylin, diazepam. Olanzapin cũng không có tương tác khi dùng chung với lithium hoặc biperiden.

Nồng độ Olanzapin lúc ổn định không có ảnh hưởng đến dược động học của ethanol. Tuy nhiên, tác dụng hiệp đồng về dược lý học như gây tăng an thần có thể xảy ra khi dùng ethanol cùng với Olanzapin.

Levodopa: Olanzapin có thể làm giảm hiệu quả của Levodopa do nó có khả năng phong tỏa các thụ thể của dopamine. Vì vậy nên thận trọng khi dùng kết hợp này.

Thuốc đối kháng Dopamin: Olanzapin có thể làm giảm hiệu quả của thuốc đối kháng Dopamin do nó có khả năng phong tỏa các thụ thể của dopamine. Vì vậy nên thận trọng khi dùng kết hợp này.

Lamotrigin: Kết hợp Lamotrigin với Olanzapin có thể làm giảm nhẹ nổng độ của Lamotrigin trong huyết tương.

Thuốc nhóm benzodiazepine/rượu: Làm tăng sự suy giảm hệ thần kinh trung ương. Nên thận trọng khi sử dụng kết hợp này

Valproic acid: Có khả năng làm tăng nồng độ của Valproic acid do làm giảm lượng thanh thải của Valproic. Nên thận trọng khi sử dụng kết hợp này.

4.9 Quá liều và xử trí:

Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng rất phổ biến khi quá liều (tần suất >10%) bao gồm nhịp tim nhanh, kích động/hung hăng, loạn vận ngôn, các triệu chứng ngoại tháp khác nhau và giảm mức độ nhận thức từ an thần đến hôn mê.

Các di chứng có ý nghĩa y học khác của quá liều bao gồm mê sảng, co giật, hôn mê, hội chứng an thần kinh ác tính, suy giảm hô hấp, tăng huyết áp hoặc hạ huyết áp, loạn nhịp tim (<2% các trường hợp quá liều) và ngưng tim phổi. Hậu quả gây tử vong đã được báo cáo cho quá liều cấp tính thấp nhất là 450 mg nhưng cũng có báo cáo sống sót sau khi dùng quá liều cấp tính khoảng 2 g Olanzapin đường uống.

Xử lý quá liều

Không có thuốc giải độc đặc hiệu đối với Olanzapin. Không khuyến cáo gây nôn. Cac biện pháp tiêu chuẩn để xử trí quá liều có thể được chỉ định (ví dụ rửa dạ dày, uống than hoạt tính).

Sử dụng đồng thời than hoạt tính đã cho thấy làm giảm khoảng 30-60% sinh khả dụng đường uống của Olanzapin.

Điều trị triều chứng và giám sát chức năng của cơ quan quan trọng nên được thực hiện theo biểu hiện lâm sàng, bao gồm cả điều trị hạ huyết áp, trụy tuần hoàn và hỗ trợ chức năng hô hấp. Không dùng epinephrine, dopamine, hoặc các thuốc kích thích giao cảm khác có hoạt tính chủ vận bêta, vì kích thích bêta cö thể làm nặng thêm tình trạng hạ huyết áp. Cần theo dõi tim mạch để phát hiện những chứng loạn nhịp tim. Giám sát y tế chặt chẽ và cần tiếp tục theo dõi cho đến khi bệnh nhân hồi phục.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Olanzapin là thuốc chống loạn thần có hoạt tính dược lý rộng trên một số hệ receptor.

Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, olanzapin có ái lực (Ki; <100nM) với các receptor của serotonin 5 HT2A/2C, 5 HT3, 5 HT6; dopamin D1, D2, D3, D4, D5; muscarinic M1-M5; α1-adrenergic và histamin H1. Các nghiên cứu quan sát hành vi động vật cho thấy olanzapin có tác dụng đối kháng với 5HT, dopamin và cholinergic, phù hợp với khả năng gắn kết vào các receptor. Olanzapin có ái lực in vitro với receptor của serotonin 5HT2 mạnh hơn so với dopamin D2 và hoạt tính in vivo trên 5HT2 mạnh hơn D2 khi thử nghiệm trên các mô hình động vật. Các nghiên cứu điện sinh lý đã chứng minh olanzapin gây giảm một cách chọn lọc sự kích hoạt các tế bào thần kinh dopaminergic ở trung não hồi viền (A10), nhưng ít có tác dụng đến thể vân (A9) trong chức năng vận động. Olanzapin làm giảm đáp ứng né tránh có điều kiện, là một thử nghiệm xác định tác dụng chống loạn thần kinh khi dùng liều thấp hơn liều gây ra chứng giữ nguyên thế, là một tác dụng phụ trên chức năng vận động. Không giống như một số thuốc chống loạn thần khác, olanzapin gây tăng đáp ứng trong một thử nghiệm “làm giảm lo âu”.

Trong một nghiên cứu uống liều duy nhất (10mg) dùng phương pháp chụp Rơngen cắt lớp phát positron (Positron Emission Tomography, PET) ở những người tình nguyện khỏe mạnh, olanzapin chiếm giữ receptor 5HT2A nhiều hơn so với receptor dopamin D2. Bên cạnh đó, một nghiên cứu hình ảnh dùng phương pháp chụp Rơngen cắt lớp phát photon đơn điện toán (Single Photon Emission Computerised Tomography, SPECT) ở những người bệnh tâm thần phân liệt cho thấy những người bệnh đáp ứng với olanzapin chiếm giữ D2 của thể vân ít hơn so với những người bệnh đáp ứng với risperidon và một số thuốc chống loạn thần khác, nhưng tương đương với những người bệnh đáp ứng với clozapin.

Cả hai trong hai thử nghiệm có đối chứng placebo và hai trong ba thử nghiệm có đối chứng với thuốc so sánh trên 2900 bệnh nhân tâm thần phân liệt với cả triệu chứng dương tính và âm tính đều cho thấy olanzapin giúp cải thiện tốt hơn có ý nghĩa thống kê các triệu chứng dương tính cũng như âm tính.

Cơ chế tác dụng:

Olanzapin là thuốc an thần kinh (thuốc chống loạn thần) không điển hình (thế hệ thứ hai) và là dẫn chất của dibenzodiazepin. Thuốc có nhiều đặc tính dược lý khác với các thuốc chống loạn thần điển hình là dẫn chất của phenothiazin hay butyrophenon như ít gây hội chứng ngoại tháp, ít làm tăng tiết prolactin, ít gây loạn vận động muộn khi điều trị kéo dài đồng thời có hiệu quả trên cả các biểu hiện dương tính, âm tính và ức chế của tâm thần phân liệt. Tác dụng chống loạn thần của olanzapin có cơ chế phức tạp và còn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Cơ chế này có liên quan đến tính đối kháng của thuốc ở các thụ thể serotonin typ 2 (5-HT2A, 5-HT2C), typ 3 (5-HT3), typ 6 (5-HT6) và dopamin ở hệ thần kinh trung ương. Olanzapin có tác dụng ức chế và làm giảm đáp ứng (điều hòa âm tính) đối với thụ thể 5-HT2A, liên quan đến tác dụng chống hưng cảm của thuốc. Ngoài ra, olanzapin còn làm ổn định tính khí do một phần ức chế thụ thể D2 của dopamin. Olanzapin dùng tiêm bắp để điều trị cơn động kinh cấp một phần do tác dụng an thần, làm dịu hơn là chỉ do tác dụng gây ngủ.

Olanzapin còn có tác dụng đối kháng với các thụ thể muscarin (M1, M2, M3, M4 và M5). Tác dụng kháng cholinergic của thuốc một mặt giải thích việc giảm nguy cơ xuất hiện hội chứng ngoại tháp, mặt khác lại liên quan đến một số tác dụng không mong muốn khác của olanzapin. Olanzapin cũng có tác dụng đối kháng thụ thể H1 của histamin và thụ thể alpha-1 adrenergic. Tác dụng này liên quan đến khả năng gây ngủ gà, hạ huyết áp tư thế khi sử dụng olanzapin

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu:

Olanzapin được hấp thu tốt khi uống, đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương trong vòng 5 đến 8 giờ. Nồng độ trang huyết tương ở trạng thái cân bằng đạt được sau 7 ngày sử dụng liêu tục và tăng khoảng 2 lần khi dùng liều đơn. Thức ăn không ảnh hưởng đến hấp thu. Chưa xác định sinh khả dụng tuyệt đối của thuốc khi dùng theo đường uống so với đường dùng tĩnh mạch. Nồng độ Olanzapin trong huyết tương tuyến tính và tỷ lệ với liều dùng trong các thử nghiệm nghiên cứu có liều dùng từ 1 đến 20 mg. Thể tích phân bố trung bình là 1150L (660 – 1790L). AUC chiếm 12% liều sử dụng, phân còn lại đa số được chuyển hóa.

Chuyển hóa:

Olanzapin được chuyển hóa tại gan qua con đường liên hợp và oxy hóa. Chất chuyển hóa chính tìm thấy trong tuần hoàn là 10-N-glucuronide, chất này không qua được hàng rào máu não. Các cytochrom P450-CYP1A2 và P450-CYP2D6 tham gia vào việc tạo ra các chất chuyển hóa N-desmethyl và 2-hydroxymethyl. Cả hai chất chuyển hóa này đều có hoạt tính dược lý in vivo yếu hơn nhiều so với olanzapin trong các nghiên cứu trên động vật.

Thải trừ:

Sau khi dùng theo đường uống, thời gian bán thải cuối cùng trung bình của olanzapin ở người khỏe mạnh thay đổi phụ thuộc theo tuổi và giới tính. Thời gian bán thải trung bình là 33 giờ và độ thanh thải huyết tương trung bình của Olanzapin là 26 L/giờ 7% liều dùng thải từ ở dạng không đổi, 57% qua nước tiểu, 30% qua phân.

Ở người cao tuổi (65 tuổi trở lên) khỏe mạnh, So với những người trẻ tuổi, thời gian bán thải trung bình của olanzapin kéo dài hơn (51,8 so với 33,8 giờ) và độ thanh thải giảm đi (17,5 so với 18,2 L/giờ). Biến thiên về dược động học ở người cao tuổi vẫn nằm trong phạm vi biến thiên như ở người trẻ tuổi. Ở 44 người bệnh tâm thần phân liệt trên 65 tuổi, sử dụng liều từ 5 đến 20 mg/ngày không dẫn đến sự khác biệt nào về các tác dụng ngoại ý.

Ở phụ nữ so với nam giới, thời gian bán thải trung bình của thuốc kéo dài hơn (36,7 so với 32,3 giờ) và độ thanh thải giảm đi (18,9 so với 27,3 L/giờ). Tuy nhiên, độ an toàn của olanzapin (5-20mg) là tương đương khi so sánh giữa bệnh nhân nữ (n=467) và nam (n=869).

Không có sự khác nhau đáng kể về thời gian bán thải trung bình (37,7 so với 32,4) hoặc độ thanh thải (21,2 so với 25,0 L/giờ) của olanzapin ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin <10 mL/phút) so với ở người khỏe mạnh. Khoảng 57% liều olanzapin được đánh dấu bằng chất phóng xạ được thải trừ qua nước tiểu, chủ yếu dưới dạng các chất chuyển hóa.

Ở người bệnh hút thuốc có rối loạn chức năng gan nhẹ, thời gian bán thải trung bình (39,3 giờ) kéo dài hơn và độ thanh thải (18,0 L/giờ) giảm đi tương tự như đối với ở những người khỏe mạnh không hút thuốc (các trị số tương ứng là 48,8 giờ và 14,1 L/giờ).

Ở những người không hút thuốc so với những người hút thuốc (nam giới và nữ giới), thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn (38,6 so với 30,4 giờ) và độ thanh thải giảm đi (18,6 so với 27,7 L/giờ).

Độ thanh thải huyết tương của olanzapin thấp hơn ở người cao tuổi so với ở người trẻ tuổi, ở nữ giới so với ở nam giới, và ở người không hút thuốc so với người hút thuốc. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố độ tuổi, giới tính hoặc hút thuốc đến độ thanh thải và thời gian bán thải của olanzapin là nhỏ khi so sánh với sự khác nhau chung giữa các cá thể.

Khoảng 93% Olanzapin gắn kết với protein huyết tương khi nồng độ từ 7 đến 1000 ng/mL. Olanzapin gắn kết chủ yếu với albumin và a1-acid-glycoprotein.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

6.2. Tương kỵ :

Không có.

6.3. Bảo quản:

Viên nén bảo quản trong bao bì kín, ở nhiệt độ không quá 30 oC.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM