Vỏ thân Núc nác và hạt Núc nác ((Cortex Oroxyli and Semen Oroxyli)

Núc nác (Nam hoàng bá)

Thông tin cơ bản về dược liệu, vị thuốc Núc nác

Dưới đây là nội dung cơ bản về dược liệu, vị thuốc Núc nác (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên dược liệu/vị thuốc:

Tên thường gọi: Núc nác.

Tên dân gian, tên khác: So đo thuyền, Ngúc nác, Bạch ngọc nhi, Nam hoàng bá, Hoàng bá nam, Lin may, Mộc hồ điệp, Ung ca (Lào Viêntian), K’nốc (Buôn Mê Thuột), Ngòng pắng điặng (Dao), Mạy cả (Tày), Co ca liên (Thái), Psơ lụng (Kho), Oroxyli Semen (Anh), Mu hu die (Trung)…

Tên khoa học vị thuốc: Cortex Oroxyli et Semen Oroxyli

Tên khoa học của nguồn gốc chế biến ra vị thuốc: Oroxylum indicum (L.) (tên khác là Oroxylum indicum (L.), Vent, Oroxylum indicum (L.) Kurz, Bigninia indica L., Calosanthes indica Blume).

Họ: Hoa chùm ớt (Bignoniaceae).

Phân nhóm: Nhóm thanh nhiệt giải độc.

Nhóm pháp lý, nguồn gốc: Dược liệu trong nước (Nam).

Bộ phận dùng: Vỏ thân và Hạt Núc nác phơi hay sấy khô.

2. Mô tả – Thành phần hóa học – Dạng bào chế:

2.1. Mô tả dược liệu/vị thuốc:

Có 2 loại dược liệu được quan tâm nhiều từ Núc nác:

Vỏ Núc nác (Cortex Oroxyli) là vỏ thân phơi hay sấy khô của cây Núc nác. Vỏ cuộn lại thành hình ống hay hình cung, dày 0,6 – 1,3 cm, dài ngắn không nhất định. Mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, nhăn nheo, có nhiều đường vân dọc, ngang. Mặt trong nhẵn, màu vàng xám hay vàng lục. Mặt bẻ ngang có lớp bần mỏng. Mô mềm vỏ lổn nhổn như có nhiều sạn, trong cùng có lớp sợi dễ tách theo chiều dọc. Mặt trong khi còn tươi có màu vàng nhạt, không mùi, vị đắng, hơi hắc.

Hạt Núc nác (Semen Oroxyli) là hạt phơi hay sấy khô của cây Núc nác. Hạt Núc nác hình bầu dục, rất mỏng, dẹt ba phía vỏ ngoài phát triển thành màng rất mỏng trông như cánh bướm, màu trắng nâu nhạt, có những đường gân từ hạt tỏa ra. Chiều dài cả hạt và cánh từ 4-7 cm, rộng 2.5-4 cm. Hạt Núc nác làm thuốc có tên Mộc hồ điệp (mộc là gỗ, cây; Hồ điệp là con bướm) vì hạt trong giống như con bướm bằng gỗ.

Ngoài ra một số nơi còn dùng vỏ rễ hoặc lá Núc nác.

Hình ảnh tham khảo:

Vỏ thân Núc nác và hạt Núc nác ((Cortex Oroxyli and Semen Oroxyli)

Vỏ thân Núc nác và hạt Núc nác ((Cortex Oroxyli and Semen Oroxyli)

2.2. Thành phần hóa học và hàm lượng:

Hạt Núc nác có các flavonoid (Oroxylin A, baicalein, tetuin, chrysin, wogonin…), các triterpenoid, stilben, chất dầu béo chứa 80.4% axit oleic, các axit panmitic, stearic, và có thể cả axit lignoxeric…..

Vỏ thân Núc nác có các flavonoid (baicalein, chrysin, oroxylin A, baicalein 7-O-glucuronid, scutellarein, scutellarein 7-O-rutinosid…), isoflavonoid, tanin, dẫn chất naphthaquinon, sterol…

Vỏ rễ chứa chrysin, baicalein, biochanin-A, và acid ellagic. Oroxylin A, chrysin, triterpene axit cacboxylic và axit ursolic được tìm thấy trong vỏ quả.

Ngoài ra, trong lá có các flavonoid, anthraquinon; quả có các flavonoid, triterpenoid, các dẫn chất phenylethanoid, cyclohexylethanoid.

Một số hoạt chất đã được phân lập được cho là có tác dụng dược lý đều là các Flavonoids bao gồm: Oroxin A, Oroxin B, Oroxylin A, Chrysin, Baicalin, Apigenin, Baicalein, Hispidulin, Scutellarein, Scutellarin (Breviscapine) ….,

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Núc nác (Oryxylum indicum L.).

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Núc nác (Oryxylum indicum L.).

2.3. Các dạng bào chế hoặc thuốc dạng thành phẩm:

Trong dân gian, các lương y còn dùng vỏ núc nác (còn gọi là hoàng bá nam) thay cho vị thuốc hoàng bá thực (vỏ thân phơi khô của cây hoàng bá Phellodendron amurense Rupr, thuộc họ Cam Rutaceae). Vỏ núc nác được dùng chữa các chứng bệnh vàng da, dị ứng, mẩn ngứa, viêm họng, ho khan tiếng, đau dạ dày, lỵ, viêm đường tiết niệu, đái buốt ra máu, trẻ con ban, sởi còn hạt núc nác chữa ho lâu ngày, viêm khí quản, đau dạ dày, đau bụng, vết loét không liền miệng. Dùng ngoài tán bột rắc lên vết lở loét, mụn nhọt vỡ lâu ngày không liền miệng. Ngoài ra một số nơi còn dùng lá và rễ Núc nác: Vỏ rễ tươi và toàn bộ rễ sẽ mất hoạt tính sau một số tháng bảo quản. Vỏ rễ là thuốc bổ và làm sẵn, chữa ỉa chảy, kiết lỵ, làm toát mồ hôi, thấp khớp. Dùng ngoài, vỏ rễ được đun sôi trong dầu vừng, bôi chữa chảy mủ tai. Quả non được dùng làm mát và dễ tiêu. Hạt làm thuốc tẩy. Nước sắc lá cây núc nác uống chữa đau dạ dày và thấp khớp; dùng ngoài chữa lách to, nhức đầu và cách bệnh loét. Vỏ và hạt còn được dùng trong thú y… Một số bài thuốc đông y có Núc nác có thể kể đến như bài chữa viêm phế quản, ho lâu ngày (Hạt Núc nác 10 g, đường phèn hay kẹo Mạch nha 30 g, nước 300 ml sắc uống); bài thuốc chữa táo bón (Vỏ núc nác, lá cối xay (liều lượng bằng nhau) sắc uống); bài thuốc chữa mẩn ngứa (Vỏ núc nác, thạch cao, lá chàm, day vàng giang, mỗi vị 20g, sắc uống); bài thuốc chữa kiết lỵ, đau dạ dày ợ chua, ợ hơi (Hạt núc nác khô tán bột hay sắc uống); bài thuốc chữa viêm đường tiết niệu, đái buốt ra máu (Vỏ núc nác, rễ cỏ tranh, mã đề, mỗi thứ một nắm sắc uống)…

Tại Việt Nam , Núc nác cũng được ứng dụng trong các chế phẩm bào chế hiện đại, đặc biệt rất được coi trọng trong điều trị bệnh đường hô hấp cho trẻ em vì hiệu quả và tính an toàn cao. Từ năm 1985, các Dược sĩ tại Bệnh viện Nhi đồng I đã nghiên cứu thành công bài thuốc trị ho dưới dạng siro cho trẻ em với 3 thành phần: Núc nác, tần dày lá và cineol. Hiện nay nhiều sản phẩm trên thị trường có chứa thành phần theo công thức này, một số biệt dược sau có chứa thành phần Núc nác: Thuốc ho Astemix, Thuốc ho Hoastex, Siro Pectol-E, Siro thuốc Eugica, Sp Eugica, Broncofort, ….

Hình ảnh sản phẩm tham khảo:

SIRO THUỐC HOASTEX
Mỗi chai siro 90ml có chứa dịch chiết:
Húng chanh …………………………. 45g
Núc nác …………………………. 11,25g
Cineol …………………………. 83,7mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

HoAstex Siro thuốc

Thuốc HoAstex của OPC có chứa thành phần Núc nác.

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Công dụng, chủ trị:

Núc nác thường được dùng đơn độc hoặc dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong các trường hợp sau:

Chữa viêm phế quản, ho lâu ngày, ho khan viêm khí quản, khàn tiếng.

Chữa đau dạ dày.

Chữa đau tức hạ sườn phải, da vàng, nước tiểu đỏ.

Chữa viêm da, dị ứng, mụn nhọt, mẩn ngứa..

Chữa miệng lở loét, vết thương lở loét, làm nhanh lên da non.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng dạng sắc hoặc cao lỏng: Cần sắc theo hướng dẫn trước khi uống.

Thuốc rửa hoặc bôi tại chỗ: dùng hạt núc nác sao vàng tán bột rắc lên, hoặc nấu lấy nước để rửa.

Nấu cao dùng ngoài: Vỏ núc nác nấu cao, dùng uống và bôi vào chỗ lở.

Liều dùng:

Hạt Núc nác: ngày uống 2-3 g dạng thuốc sắc (chữa ho) hay sấy khô tán nhỏ (chữa đau dạ dày).

Vỏ Núc nác: Ngày dùng 8 – 16g dưới dạng thuốc sắc hoặc cao lỏng.

Dạng bào chế thành phẩm: Dùng theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với thành phần hoạt chất của vị thuốc/dược liệu.

4.4 Thận trọng, cảnh báo:

Núc nác tính hàn, không nên dùng cho người tỳ vị hư hàn tiêu lỏng hoặc người đang bị cảm lạnh ho, sổ mũi.

Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:

Chưa có nghiên cứu.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Thời kỳ mang thai:

Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ mang thai. Tránh dùng cho phụ nữ mang thai.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ cho con bú. Tránh dùng cho phụ nữ cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Chưa ghi nhận được báo cáo về phản ứng có hại của thuốc.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Trong thời gian được điều trị, nếu nhận thấy có bất cứ tác dụng phụ nào xấu xảy ra hoặc các triệu chứng bệnh vẫn tiếp tục tăng nặng thì nên ngưng dùng ngay và tìm kiếm phương pháp chữa trị khác phù hợp hơn.

4.8 Tương tác, tương kỵ:

Chưa có nghiên cứu về tương tác.

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

4.9 Quá liều và độc tính:

Chưa có nghiên cứu quá liều trên người.

Độc tính: Độc tính của vỏ núc nác rất thấp. LD 50 của vỏ Núc nác đối với chuột nhắt trắng là 23ml dịch chiết vỏ Núc nác 100% trên 1 kg thể trọng.

5. Tính vị, quy kinh, tác dụng dược lý, cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Tính vị – Quy kinh – Công năng:

Tính vị: vị đắng, tính mát.

Quy kinh: Quy vào kinh bàng quang, tỳ.

Công năng: Có tác dụng thanh can giải nhiệt, lợi thấp, tiêu độc, sát trùng, nhuận phế, chỉ khái, chỉ thống.

Hạt cũng có vị đắng, tính mát, đi vào hai tạng can và phế. Hạt Núc nác nhuận phế, chỉ khát, chỉ thống, bình can.

5.2. Tác dụng dược lý:

Tác dụng chống ung thư: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chiết xuất etanolic của Núc nác cho thấy tác dụng chống tăng sinh cao nhất do sự hiện diện của flavonoid bao gồm baicalein. Điều trị bằng baicalein làm giảm các biểu hiện gen chống chết tế bào trong các tế bào ung thư bàng quang theo báo cáo của Yang et al. Baicalein ức chế yếu tố hạt nhân-kappa B (NF-kB), một yếu tố hạt nhân phiên mã đa chức năng liên quan đến sự phát triển của bệnh ung thư. Sự suy giảm NF-kB được cho là có tác dụng ức chế ung thư buồng trứng, ung thư dạ dày và ung thư vú. Ngoài ra, baicalein có thể vượt qua hàng rào máu não (BBB), cho phép nó có tiềm năng điều trị với các bệnh về não và hệ thần kinh trung ương (CNS), bao gồm cả ung thư não. Một nghiên cứu báo cáo rằng baicalein có tác dụng ức chế mạnh nhất đối với sự phát triển và di căn của tế bào ung thư đại trực tràng ở người so với các flavonoid khác được phân lập từ thân cây Núc nác, bao gồm chrysin, oroxylin – A , oroxylin-A glycoside và baicalin.

Tác dụng kháng khuẩn: các chất chiết xuất từ ​​ núc nác có tác dụng kháng khuẩn từ yếu đến trung bình chống lại các vi khuẩn như Streptococcus suis và Staphylococcus intermedius phụ thuộc vào liều lượng. Khả năng kháng khuẩn của chiết xuất Núc nác có mối liên hệ cao với hoạt động của flavonoid như baicalein. Hàm lượng baicalein càng cao thì khả năng kháng khuẩn của chiết xuất Núc nác càng cao .

Tác dụng chống tăng đường huyết: vỏ thân cây núc nác chứa 50% dung dịch nước có chứa baicalein cho thấy tác dụng chống tăng đường huyết trong ống nghiệm thông qua việc ức chế hoạt động của α-glucosidase. Một nghiên cứu khác báo cáo rằng sử dụng 4 mg/kg acarbose (liều thấp) kết hợp với chiết xuất hạt Núc nác 200 mg/kg cho thấy tác dụng hạ đường huyết ở chuột tương tự như nhóm động vật dùng liều 20 mg /kg acarbose.

Tác dụng bảo vệ tim mạch: Nghiên cứu đã chỉ ra hoạt động bảo vệ tim mạch của chiết xuất metanol từ vỏ rễ cây Núc nác chống lại bệnh cơ tim do Doxorubicin gây ra ở chuột. Doxorubicin là một thuốc kháng ung thư nhóm anthracycline có các tác dụng phụ như tổn thương tim do stress oxy hóa, rối loạn chức năng ty thể, làm tăng tính nhạy cảm của mô tim với quá trình peroxid hóa lipid và giảm mức độ phòng vệ chống oxy hóa liên quan đến mô tim. Tác dụng này được cho là nhờ khả năng nâng cao tình trạng chống oxy hóa của mô.

Tác dụng chống tạo mỡ: chiết xuất ethanol của vỏ quả Núc nác có chứa baicalein có thể ức chế sự tích tụ lipid và carbohydrate trong tế bào mỡ. Nghiên cứu cũng cho thấy chiết xuất Núc nác có khả năng ức chế hoạt động lipase tuyến tụy. Lipase tụy là một enzyme trung gian cho quá trình tiêu hóa chất béo sau khi ăn (triglyceride), sự hấp thu chất béo vào các mô khác nhau và huy động chất béo bên trong tế bào. Triglyceride trong chế độ ăn uống phải được phân cắt thành axit béo tự do và monoacylglycerol trước khi chúng được tế bào hấp thụ. Như vậy, khi hoạt động của lipase bị ức chế sẽ dẫn đến giảm sự hấp thu lipid vào cơ thể con người. Những kết quả này cho thấy baicalein trong Núc nác có khả năng chống béo phì và có thể được phát triển như một sản phẩm mới để ngăn ngừa béo phì.

Tác dụng chống viêm: Núc nác cho thấy tác dụng ức chế NF-κB với giá trị IC 50 là 47,45 μg/mL). Hơn nữa, Núc nác còn cho thấy mức độ hoạt động chống oxy hóa cao bằng cách ức chế quá trình peroxid hóa lipid (IC 500,08 mg/mL). Dựa trên những phát hiện trên, có thể suy đoán rằng Núc nác là một cây thuốc có tiềm năng cao có tác dụng chống viêm thông qua việc ức chế con đường truyền tín hiệu NF-κB.

Cơ chế một số tác dụng chính:

Oroxin A là một chất ức chế xanthine oxyase (XO), Oroxin A ức chế hiệu quả sự phát triển của các tế bào ung thư vú ở người MDA-MB-231 và MCF7 bằng cách gây ra quá trình lão hóa tế bào ung thư qua trung gian stress lưới nội chất (ER). Ngoài ra còn một số cơ chế khác chưa cụ thể.

Oroxin B cũng có thể gây ra ức chế chọn lọc khối u thông qua stress lưới nội chất (ER) và đồng thời ức chế khối u thích ứng stress lưới nội chất (ER) trong tế bào B-lymphoma để điều trị chống ung thư lympho hiệu quả.

Oroxylin A có tác dụng chống ung thư, chống viêm, chống huyết khối, kháng khuẩn, … nó có tác dụng ức chế sự biểu hiện của mARN iNOS và COX-2 do LPS gây ra bằng cách ngăn chặn hoạt hóa NF-κB. Oroxylin A đảo ngược MDR bằng cách khóa G2/M và cơ chế được cho là ức chế sự biểu hiện của P-gp thông qua Chk2/P53/NF-κB. Oroxylin A có khả năng bảo vệ thần kinh giúp tăng cường trí nhớ thông qua tín hiệu thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF) -TrkB.

Chrysin, với đặc tính chống co giật, chống viêm, chống ung thư, bảo vệ gan và chống oxy hóa. Chrysin gây ra chết tế bào ung thư thông qua kích hoạt caspase và bất hoạt Akt trong các tế bào ung thư bạch cầu U937… . tác dụng ngăn ngừa ung thư của Chrysin là nhờ ngăn ngừa stress oxy hóa ở thận, tình trạng viêm, các phản ứng tăng sinh và gây ung thư thận cả hai giai đoạn.

Baicalin có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm, bảo vệ thần kinh,… nó là một chất ức chế Prolyl-Endopeptidase, ảnh hưởng đến các thụ thể GABA và làm giảm biểu hiện của NF-κB. Baicalin có thể có lợi ích điều trị đáng kể đối với các biến chứng tiểu đường và xơ vữa động mạch.

Apigenin là một chất ức chế mạnh CYP2C9, có tác dụng chống viêm, chống tạo mạch và chống ung thư, nó có thể ức chế sự sao chép của EV71 thông qua việc ngăn chặn hoạt động IRES (gọi là các vị trí đi vào bên trong ribosome internal ribosome entry sites) trong quá trình nhân lên của virus và điều chỉnh con đường JNK của tế bào.

Baicalein có tác dụng bảo vệ thần kinh, chống ung thư, chống oxy hóa và thu dọn gốc tự do, nó ức chế con đường mTORC1 và hoạt động của enzym PI3K kinase. Baicalein có thể gây chết tế bào ung thư và làm chậm quá trình tăng sinh bằng cách ức chế CDC2 kinase và protein Survivin có liên quan đến vai trò đối lập của protein kinase và protein AKT được kích hoạt bởi mitogen p38.

Hispidulin có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm, chống ung thư, chống động kinh, bảo vệ thần kinh, chống loãng xương và tiêu xương, nó tác động vào con đường truyền tín hiệu PI3K/Akt/mTOR qua trung gian thụ thể VEGF trong các tế bào nội mô, dẫn đến ức chế tăng trưởng khối u tụy và sự hình thành mạch. Hispidulin có thể cải thiện tình trạng tăng glucose do rối loạn chức năng nội mô thông qua việc ức chế kích hoạt enzym gây viêm NLRP3 có liên quan PKCβII và tín hiệu NF-κB, do đó có thể ứng dụng tiềm năng trong phòng ngừa và điều trị các biến chứng mạch máu do tiểu đường. Hispidulin có thể ức chế kết tập tiểu cầu bằng cách nâng cao nồng độ cAMP theo cơ chế khác với cơ chế của theophylline hoặc PGE1.

Scutellarein có hoạt tính chống oxy hóa, chống ung thư, chống tạo mỡ, kháng vi-rút và chống viêm, nó có thể cải thiện tổn thương tế bào thần kinh, điều chỉnh sự biểu hiện của axit glutamic (Glu), axit aspartic (Asp), glycine (Gly), axit γ-aminobutyric (GABA) và taurine (Tau), và cải thiện hoạt động của Ca(2+)-ATPase và Na(+),K(+)-ATPase.

Scutellarin (Breviscapine) có thể điều trị bệnh mạch vành, ức chế sự gia tăng nồng độ 4-Hydroxy-2-nonenal (4-HNE), 8-hydroxyl-2′- deoxyguanosine (8-OHdG), đồng thời tăng cường khả năng chống oxy hóa của mô vỏ não. Breviscapine cũng có thể làm giảm phản ứng viêm, bảo vệ phổi khỏi phản ứng viêm theo dòng bằng cách ức chế sự biểu hiện của IL-18 và ICAM-1. Tiêm Breviscapine cải thiện đáng kể tình trạng thiếu hụt thần kinh, giảm thể tích và lượng nước trong vùng bị nhồi máu, đồng thời ức chế nồng độ trong huyết thanh của tế bào thần kinh enolase (NSE) phụ thuộc vào thời gian, cơ chế này nhờ làm tăng biểu hiện của con đường Nrf2/HO-1 .

Chưa rõ cơ chế tác dụng của các hoạt chất trong Núc nác.

5.3. Dược động học:

Chưa có nghiên cứu.

5.4. Các nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng:

(1) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu):

Các nghiên cứu trên đều cho thấy tác dụng chống oxy hóa trong tất cả các bộ phận của cây nhưng vẫn không khẳng định được rằng bộ phận nào của cây có hoạt tính chống oxy hóa in vitro và in vivo cao nhất. Tính kháng khuẩn đã được nghiên cứu trên vỏ rễ và vỏ thân cây. Thuốc trừ giun sán, chống loét, điều hòa miễn dịch đã được nghiên cứu trên vỏ rễ. Chống viêm được thực hiện trên lá và vỏ thân.

Dựa trên kết quả lâm sàng dùng vỏ Núc nác chữa dị ứng của bệnh viên Việt –Tiệp Hải Phòng, I. I Brekhman và P.P. Gôlicôv tại Viện nghiên cứu hoạt chất sinh vật của chi nhánh Xibêri Viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ, năm 1965 đã thí nghiệm trên thực nghiệm vỏ cây Núc nác Việt Nam và đã đi tới một số kết luận sâu đây:

Các kết quả nghiên cứu trên thực nghiệm đã xác minh kinh nghiệm nhân dân là vỏ Núc nác có tác dụng rõ rệt chống dị ứng.

Núc nác tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một số tác nhân bất lợi từ bên ngoài vào cơ thể.

Núc nác làm giảm độ thấm của mạch máu trên chuột đã gây mẫn cảm bằng lòng trắng và không có ảnh hưởng đối với sự thấm mạch máu trên chuột được gây mẫn cảm bằng huyết thanh ngựa trộn với dầu parafin.

Núc nác không có ảnh hưởng đáng kể tới sự phát triển của hiện tượng Actuýt Sakharôv, nhưng quá trình hồi phục trên thỏ thí nghiệm đã được gây mẫn cảm xảy ra nhanh hơn là trên thỏ đối chứng.

Núc nác ức chế vết sưng phồng do lòng trắng trứng gây ra. Tác dụng chống viêm của Núc nác vẫn còn tồn tại sau khi đã cắt bỏ tuyến thượng thận.

Trên những con vật được gây mẫn cảm, tác dụng chống viêm thể hiện mạnh hơn là trên những con vật không được gây mẫn cảm.

Do ảnh hưởng của vỏ Núc nác, độ thấm của mạch máu giảm xuống tại nơi tiêm trong da formandehid và histamin. Khi gây viêm bằng xylen, Núc nác không có ảnh hưởng trên độ thấm của máu.

(2) Nghiên cứu khác:

Vỏ núc nác đã được nghiên cứu thực nghiệm thấy có tác dụng rõ rệt chống dị ứng và làm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một số tác nhân độc hại.

Nó làm giảm độ thấm của mạch máu ở chuột đã gây mẩn cảm bằng lòng trắng trứng hoặc ở nơi tiêm trong da chất formalin và histamin cho chuột bình thường.

Núc nác có tác dụng ức chế giai đoạn cấp tính của phản ứng viêm, tác dụng này thể hiện mạnh hơn ở động vật đã được gây mẫn cảm.

Độc tính của vỏ núc nác rất thấp.

Flavonoid chiết xuất từ cây núc nác có tác dụng chống choáng phản vệ gây bằng lòng trắng trứng trên thỏ và chuột lang và không có tác dụng bảo vệ đối với choáng gây bằng histamin trên chuột lang.

Chất này có tác dụng ức chế phù gây bằng lòng trắng trứng trên tai thỏ và không gây độc đối với động vật thí nghiệm.

Chế phẩm nunacin bào chế từ flavonoid toàn phần chiết ở vỏ núc nác đã được dùng điều trị 37 bệnh nhân mắc bệnh vảy nến.

Số ngày điều trị cho mỗi bệnh nhân là 54 – 191 ngày. Kết quả: 14 bệnh nhân khỏi, 18 bệnh nhân đỡ nhiều, 5 trường hợp không có kết quả.

Có 20 trong số 30 bệnh nhân nói trên đã được điều trị phối hợp với mỡ salicylic bôi ngoài da.

Nunacin còn được dùng trong những trường hợp sau:

Điều trị 62 trẻ em bị bệnh hen phế quản, có 41 bệnh nhân thu được kết quả tốt hoặc khá, chiếm tỷ lệ 66.1% và 21 bệnh nhân không có kết quả, tỷ lệ 33.9 % (trong đó 10 bệnh nhân nặng). Trong thời gian điều trị từ 3 đến 12 tháng, không trường hợp nào có biểu hiện độc hại.

Điều trị 23 bệnh nhân bị tổ đỉa phối hợp với bôi thuốc tây y ngoài da. Kết quả: 18/21 khỏi nhiễm trùng, 2/21 đỡ nhiều, 1/21 không khỏi nhiễm trùng. Về khỏi mụn nước đạt 5/23, đỡ nhiều 7/23, đỡ ít 7/23, không khỏi 4/23.

Điều trị 50 bệnh nhân mày đay với kết quả khỏi 58%, đỡ 28% và không kết quả 14%.

Chế phẩm Oroxin là cao toàn phần của vỏ núc nác để điều trị 30 bệnh nhân mày đay. Kết quả: khỏi 56%, đỡ nhiều 16.6%, đỡ ít 6.6%, không đỡ 20%. So với nunacin, Oroxin tác dụng không được bền vững và tái phát nhiều hơn sau khi ngưng thuốc. Oroxin cũng như nunacin không gây tác dụng phụ khi dùng dài ngày trên lâm sàng.

Vỏ và quả núc nác có tác dụng ức chế co thắt gây bởi acetylcholin và histamin trên hồi tràng cô lập chuột lang.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Đặc điểm, nguồn gốc, phân bố dược liệu, vị thuốc:

Đặc điểm nguồn gốc:

Cây Núc nác là cây nhỡ cao 6-11 m, có khi cao gấp đôi, thân nhẵn ít phân nhánh, trên thân có nhiều sẹo do lá rụng để lại, vỏ cây màu xám tro, bẻ ra bên trong có màu vàng nhạt. Lá to, mọc đối, xẻ 2-3 lần lông chim, dài đến 1.5 m, tập trung ở ngọn thân, lá chét hình bầu dục, nguyên, dài 6.5 – 14 cm, rộng 3.5 – 8 cm; gốc tròn, hơi lệch, đầu nhọn, mặt dưới nhẵn hoặc hơi có lông; cuống lá kép hình trụ, mập.

Quả nang to, dẹt và cong, dài 50 tới 80 cm, rộng 5-7 cm, khi chín nứt làm 2 mảnh. Hạt rất nhiều , dẹt, hình bầu dục, có cánh mỏng như màng, màu trắng ngà.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành chùm, cuống mập, thẳng, dài 40 – 80 cm, mang nhiều sẹo rõ ở phía dưới; lá bắc nhỏ; hoa to màu nâu đỏ sẫm; dài hình chuông; hơi phình ở bọng, 5 cánh hoa hàn liền chia 2 môi, mép nhăn nheo có răng cưa, cong gập xuống; nhị 5, chỉ nhị có lông mịn ở gốc, bầu thuôn, dài. Mùa ra hoa: tháng 5 – 7. Mùa quả: tháng 8 – 10.

Phân bố:

Chi Oroxylum Vent, chỉ có một loài là núc nác ở Việt Nam. Trên thế giới, núc nác phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới châu Á, bao gồm Srilanaca, Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Philippin, đảo Selip và Timor của Indonesia. Ở Việt Nam, núc nác cũng là cây phổ biến từ vùng núi có độ cao khoảng 1300m (ở xã Lũng Hồ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang) đến các tỉnh trung du và đồng bằng ven biển. Cây còn được dùng làm giá thể cho trầu không và hồ tiêu leo (Vùng Quảng Bình đến Quảng Nam).

Cây Núc nác (Oroxylum indicum (L.) Kurz).

Cây Núc nác (Oroxylum indicum (L.) Kurz).

6.2. Thu hái – Sơ chế:

Thu hái: hạt (Mộc hồ điệp – Semen Oroxyli) được thu hái ở quả núc nác chín vào cuối thu sang đông. Vỏ Núc nác có thể thu hoạch gần như quanh năm, tốt nhất vào mùa xuân hạ..

Sơ chế:

Phơi khô hoặc cạo lớp vỏ sần rồi thái phiến dài 2 – 5 cm, dày 1 – 3 mm phơi khô. Khi dùng để nguyên hoặc sao nhỏ lửa cho vàng.

Khi dùng có thể trích với muối ăn (mộc hồ điệp 10 kg, muối ăn 400 g, nước sôi để pha vừa đủ, bằng cách ngâm tẩm mộc hồ điệp với nước muối trong 30 phút cho ngấm hết muối, rồi dùng lửa nhỏ sao cho có màu đen.

Hạt được phơi khô để dùng.

6.3. Bảo quản:

Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30°C.

6.4. Thông tin khác:

CHÚ Ý NÚC NÁC DỄ NHẦM LẪN VỚI CÁC CÂY SAU ĐÂY:

Có không ít người bị nhầm lẫn giữa cây hoàng bá với cây núc nác. Trên thực tế, vỏ núc nác vẫn được sử dụng để thay thế cho vỏ hoàng bá trong mục đích chữa bệnh và người ta đặt cho nó cái tên là hoàng bá nam.

(1) Hoàng bá hay còn gọi là cây nghiệt mộc, nghiệt bá hay hoàng nghiệt. Cây hoàng bá có tên khoa học là Phellodendron amurense Rupr, thuộc họ Cam. Là một cây thân gỗ sống lâu năm có vỏ thân dày, bề mặt sần sùi màu xám đến nâu xám; cành non màu nâu tím. Vỏ cây hoàng bá: chủ yếu chứa các alkaloid như berberin, Palmatin, Jatrorrhizin, Candicin, Magnoflorin và các hợp chất Phenolic.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004).

Theo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Viện dược liệu (Tái bản lần 1).

Theo Dược thư Quốc Gia Việt Nam.

Nguồn tổng hợp khác.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM