Mirtazapine – Opemirol

Thuốc Opemirol là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Opemirol (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Mirtazapine

Phân loại: Thuốc chống trầm cảm.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N06AX11.

Biệt dược gốc: Remeron.

Biệt dược: Opemirol

Hãng sản xuất : Công ty Cổ phần Dược phẩm OPV

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim 15 mg, 30 mg.

Thuốc tham khảo:

OPEMIROL 30
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Mirtazapine …………………………. 30 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

OPEMIROL 15
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Mirtazapine …………………………. 15 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Mirtazapin được chỉ định ở người lớn để điều trị các cơn trầm cảm nặng.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Thuốc nên được uống cùng với nước và nuốt mà không được nhai.

Mirtazapin có thời gian bán thải 20-40 giờ và do đó mirtazapin thích hợp để uống 1 lần/ngày. Tốt nhất nên uống một liều duy nhất vào ban đêm trước khi đi ngủ. Cũng có thể chia mirtazapin thành 2 liều (một liều uống buổi sáng, một liều uống buổi tối, liều cao hơn nên uống vào buổi tối).

Liều dùng:

Người lớn

Liều hàng ngày có hiệu quả thường khoảng 15 đến 45 mg; liều khởi đầu là 15 mg hay 30 mg. Nhìn chung, mirtazapin bắt đầu phát huy tác dụng sau 1-2 tuần điều trị. Điều trị đủ liều sẽ tạo ra đáp ứng tích cực trong 2-4 tuần. Nếu chưa có đáp ứng đầy đủ, có thể tăng đến liều tối đa. Nếu vẫn không đáp ứng trong 2-4 tuần tiếp theo, nên ngưng điều trị.

Bệnh nhân trầm cảm nên được điều trị trong khoảng thời gian đầy đủ ít nhất là 6 tháng để đảm bảo không còn triệu chứng.

Nên ngừng điều trị mirtazapin từ từ để tránh hội chứng cai thuốc.

Người già:

Liều khuyến cáo cho người gia giống liều cho người lớn. Ở bệnh nhân lớn tuổi, phải theo dõi chặt chẽ khi tăng liều để có được đáp ứng an toàn và như mong muốn.

Trẻ em:

Không dùng mirtazapin cho trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi do hiệu quả đã không được chứng minh trong hai thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn và vì lý do an toàn.

Suy thận:

Độ thanh thải của mirtazapin có thể giảm ở bệnh nhân suy thận trung bình đến nặng (độ thanh thải creatinin < 40 ml/phút). Điều này nên được cân nhắc khi kê đơn mirtazapin cho nhóm bệnh nhân này.

Suy gan:

Độ thanh thải của mirtazapin có thể giảm ở bệnh nhân suy gan. Điều này nên được cân nhắc khi kê đơn mirtazapin cho nhóm bệnh nhân này, đặc biệt là suy gan nặng do chưa có nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan nặng

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với mirtazapin hay bất cứ thành phần nào khác của thuốc.

Dùng đồng thời mirtazapin với thuốc ức chế monoamin oxidase.

4.4 Thận trọng:

Bệnh nhi:

Không nên dùng mirtazapin để điều trị ở trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi. Trong các thử nghiệm lâm sàng, các hành vi liên quan đến tự tử (cố gắng tự tử và ý nghĩ tự tử), và thù địch (chủ yếu là gây hấn, hành vi chống đối và giận dữ) đã được quan sát thấy thường xuyên hơn ở trẻ em và thiếu niên được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm so với những người được điều trị bằng giả dược. Tuy nhiên, dựa vào nhu cầu lâm sàng, nếu quyết định điều trị cho bệnh nhân thì cần phải cẩn thận theo dõi sự xuất hiện của các triệu chứng muốn tự tử. Ngoài ra, chưa có đủ dữ liệu an toàn dài hạn liên quan đến sự phát triển, sự trưởng thành và sự phát triển về hành vi và nhận thức ở trẻ em và thiếu niên.

Tự tử/ý nghĩ tự tử hoặc triệu chứng lâm sàng trầm trọng hơn:

Trầm cảm liên quan đến tăng nguy cơ ý nghĩ tự tử, tự gây tổn thương và hành động tự tử (biến cố liên quan tự tử). Nguy cơ này vẫn còn tồn tại cho đến khi bệnh thuyên giảm đáng kể. Do bệnh có thể không thuyên giảm trong một vài tuần đầu điều trị nên bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ cho đến khi đạt được sự thuyên giảm đáng kể đó. Kinh nghiệm lâm sàng nói chung cho thấy nguy cơ tự tử có thể tăng trong những giai đoạn hồi phục ban đầu.

Bệnh nhân với tiền sử có các biến cố liên quan đến tự tử hoặc bệnh nhân có biểu hiện rõ về ý nghĩ tự tử trước khi bắt đầu điều trị được biết là có nguy cơ lớn hơn về ý nghĩ tự tử hoặc cố gắng tự tử, và cần được theo dõi cẩn thận trong quá trình điều trị. Một phân tích tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng đối chứng giả dược về thuốc chống trầm cảm ở bệnh nhân người lớn bị rối loạn tâm thần cho thấy nguy cơ gia tăng hành vi tự tử ở nhóm sử dụng thuốc chống trầm cảm so với nhóm dùng giả dược ở độ tuổi dưới 25.

Nên theo dõi chặt chẽ bệnh nhân và cụ thể là những bệnh nhân có nguy cơ cao khi điều trị với thuốc chống trầm cảm đặc biệt là trong giai đoạn đầu điều trị và giai đoạn sau khi thay đổi liều.

Nên cảnh báo bệnh nhân (và người chăm sóc bệnh nhân) về việc cần phải theo dõi bất cứ triệu chứng lâm sàng nào trở nên nghiêm trọng, ý nghĩ hay hành vi tự tử và những thay đổi bất thường trong hành vi và nên hỏi ý kiến bác sỹ ngay lập tức nếu những triệu chứng đó xuất hiện.

Đối với nguy cơ tự tử, đặc biệt là khi bắt đầu điều trị, chỉ đưa cho bệnh nhân một lượng giới hạn viên nén bao phim mirtazapin để quản lý tốt bệnh nhân và để giảm nguy cơ quá liều.

Ức chế tủy xương

Tình trạng ức chế tủy xương, thường biểu hiện bằng giảm hoặc mất bạch cầu hạt, được báo cáo trong quá trình điều trị bằng mirtazapine. Mất bạch cầu hạt có thể phục hồi được báo cáo là hiếm gặp trong các nghiên cứu lâm sàng đối với mirtazapine. Trong giai đoạn sau khi đưa mirtazapine ra thị trường, rất hiếm thấy các trường hợp mất bạch cầu hạt được báo cáo, chủ yếu là phục hồi, tuy nhiên cũng có một số trường hợp mất bạch cầu hạt rất nặng. Các trường hợp mất bạch cầu hạt rất nặng này hầu hết liên quan đến những bệnh nhân trên 65 tuổi. Bác sĩ điều trị cần phải cảnh báo về các triệu chứng như sốt, đau họng, viêm miệng hoặc những nhiễm trùng khác; Nếu các triệu chứng này xuất hiện, nên ngừng điều trị và tiến hành kiểm tra số lượng tế bào máu.

Vàng da

Nên ngưng điều trị nếu xuất hiện vàng da

Những tình trạng cần được theo dõi:

Cần dùng thuốc cẩn thận cũng như giám sát thường xuyên và chặt chẽ ở bệnh nhân:

Động kinh và hội chứng não thực thể: Mặc dù kinh nghiệm lâm sàng cho thấy các cơn động kinh hiếm khi xảy ra trong khi điều trị bằng mirtazapin, giống như các thuốc chống trầm cảm khác, nên dùng mirtazapin thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử động kinh. Nên ngừng điều trị ở bệnh nhân tiến triển cơn động kinh, hoặc khi có sự gia tăng tần xuất cơn động kinh.

Suy gan: Sau khi uống một liều đơn 15 mg mirtazapin, độ thanh thải mirtazapin giảm khoảng 35% ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình so với bệnh nhân có chức năng gan bình thường. Nồng độ huyết tương trung bình của mirtazapin tăng khoảng 55%.

Suy thận: Sau khi uống một liều đơn 15 mg mirtazapin, ở bệnh nhân suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin < 40 ml/phút) và suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 10 ml/phút) độ thanh thải mirtazapin giảm tương ứng khoảng 30% và 50%, so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Nồng độ huyết tương trung bình của mirtazapin tăng tương ứng khoảng 55% và 115%. Không có sự khác biệt đáng kể nào được tìm thấy ở bệnh nhân suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút) so với nhóm đối chứng.

Phải thận trọng khi dùng và khi dùng đồng thời với các thuốc khác ở bệnh nhân có bệnh tim như rối loạn dẫn truyền, đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim gần đây.

Hạ huyết áp.

Đái tháo đường: Ở những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, thuốc chống trầm cảm có thể làm thay đổi sự kiểm soát đường huyết. Liều insulin và/hoặc thuốc hạ đường huyết đường uống có thể cần phải được điều chỉnh và giám sát chặt chẽ.

Giống như với thuốc chống trầm cảm khác, cần phải lưu ý đến:

Các triệu chứng loạn thần trầm trọng hơn có thể xảy ra khi thuốc chống trầm cảm được dùng cho bệnh nhân tâm thần phân liệt hoặc rối loạn tâm thần khác; ý nghĩ hoang tưởng có thể trầm trọng hơn.

Khi điều trị pha trầm cảm của rối loạn tâm thần lưỡng cực, pha trầm cảm có thể biến đổi thành pha hưng cảm. Nên theo dõi chặt chẽ bệnh nhân có tiền sử hưng cảm/ hưng cảm nhẹ. Nên ngừng mirtazapin ở bất kỳ bệnh nhân nào bắt đầu xuất hiện pha hưng cảm.

Mặc dù mirtazapin không gây nghiện, kinh nghiệm sau khi lưu hành thuốc cho thấy việc ngừng điều trị đột ngột sau khi dùng thuốc lâu dài đôi khi có thể dẫn đến hội chứng cai thuốc. Phần lớn các phản ứng cai thuốc đều nhẹ và tự hạn chế. Trong số các triệu chứng cai thuốc khác nhau đã được báo cáo, thường gặp nhất là chóng mặt, kích động, lo âu, đau đầu và buồn nôn. Mặc dù các triệu chứng này đã được báo cáo là các triệu chứng cai thuốc, nhưng chúng cũng có thể liên quan đến các bệnh tiềm ẩn. Nên ngừng điều trị mirtazapin bằng cách giảm liều từ từ.

Cần thận trọng ở bệnh nhân có rối loạn tiểu tiện như phì đại tuyến tiền liệt và bệnh nhân bị tăng nhãn áp góc hẹp cấp tính và tăng áp lực nội nhãn (mặc dù thương tổn ít khi xảy ra do mirtazapin có hoạt tính kháng cholinergic rất yếu).

Chứng ngồi, nằm không yên/ rối loạn tâm thần vận động: Việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm có liên quan với sự tiến triển của chứng ngồi, nằm không yên, đặc trưng bởi sự bồn chồn khó chịu hoặc lo âu một cách chủ quan và cần phải vận động thường kèm với việc không có khả năng để ngồi hoặc đứng yên. Điều này rất có thể xảy ra trong vòng vài tuần đầu điều trị. Tăng liều có thể gây hại ở những bệnh nhân phát triển các triệu chứng này.

Đã có báo cáo trong quá trình sử dụng mirtazapin về các trường hợp QT kéo dài, xoắn đỉnh, nhịp nhanh thất, và tử vong đột ngột. Đa số các báo cáo liên quan đến quá liều, hoặc ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ khác của kéo dài QT, bao gồm sử dụng đồng thời các loại thuốc kéo dài khoảng QTc. Cần thận trọng khi kê đơn mirtazapin ở những bệnh nhân có bệnh tim mạch hoặc có tiền sử gia đình kéo dài QT, và khi sử dụng đồng thời với các thuốc khác làm kéo dài khoảng QTC.

Giảm natri huyết

Giảm natri huyết có thể do sự tiết hormon chống bài niệu không thích hợp (SIADH), đã được báo cáo rất hiếm xảy ra khi sử dụng mirtazapin. Cần thận trọng ở những bệnh nhân có nguy cơ, như bệnh nhân cao tuổi hoặc bệnh nhân dùng đồng thời với các thuốc được biết là gây giảm natri huyết.

Hội chứng serotonin

Tương tác với các chất có hoạt tính serotonergic: Hội chứng serotonin có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời với các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) với các chất có hoạt tính serotonergic khác. Các triệu chứng của hội chứng serotonin có thể tăng thân nhiệt, cứng đơ, giật rung cơ, bất ổn thần kinh tự chủ với những biến động nhanh chóng có thể có của các dấu hiệu sống còn, những thay đổi trạng thái tinh thần bao gồm lú lẫn, khó chịu và kích động quá mức dẫn đến mê sảng và hôn mê. Cần thận trọng và theo dõi lâm sàng chặt chẽ khi các chất này được kết hợp với mirtazapin. Nên ngưng điều trị bằng mirtazapin nếu các triệu chứng như vậy xảy ra và bắt đầu điều trị hỗ trợ, điều trị triệu chứng. Kinh nghiệm sau khi lưu hành thuốc cho thấy hội chứng serotonin rất hiếm xảy ra ở những bệnh nhân chỉ được điều trị bằng mirtazapine.

Người cao tuổi

Bệnh nhân cao tuổi thường nhạy cảm hơn, đặc biệt là với các tác dụng không mong muốn của thuốc chống trầm cảm. Trong quá trình nghiên cứu lâm sàng với mirtazapin, các tác dụng không mong muốn đã không được báo cáo thường xuyên hơn ở những bệnh nhân cao tuổi so với các nhóm tuổi khác.

Thuốc này có chứa: Lactose. Bệnh nhân có vấn đề về di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu hụt Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Mirtazapin có ảnh hưởng nhẹ hoặc trung bình lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Mirtazapin có thể làm giảm sự tập trung và tỉnh táo (đặc biệt là trong giai đoạn đầu điều trị).

Bệnh nhân nên tránh những công việc có khả năng gây nguy hiểm do cần đến sự tỉnh táo và tập trung tốt, như lái xe, vận hành máy móc thiết bị, làm việc trên cao và các công việc khác bất cứ lúc nào khi bị ảnh hưởng.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Dữ liệu hạn chế về việc sử dụng mirtazapin ở phụ nữ mang thai không cho thấy tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh. Những nghiên cứu trên động vật không cho thấy bất kỳ tác dụng gây quái thai có liên quan về mặt lâm sàng, tuy nhiên đã quan sát thấy độc tính trên sự phát triển.

Dữ liệu dịch tễ học đã cho thấy rằng việc sử dụng các thuốc SSRI trong thai kỳ, đặc biệt là ở cuối thai kỳ, có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp động mạch phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh (PPHN).

Mặc dù sự liên quan của tăng huyết áp động mạch phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh với việc điều trị mirtazapin chưa được nghiên cứu, nguy cơ tiềm ẩn này không thể loại trừ có tính đến cơ chế tác dụng có liên quan (tăng nồng độ serotonin).

Cần thận trọng khi kê toa cho phụ nữ mang thai. Nếu mirtazapin được sử dụng cho đến khi sinh, hoặc ngay trước khi sinh, nên theo dõi trẻ sơ sinh sau khi sinh để điều trị những tác động do ngưng thuốc có thể xảy ra

Thời kỳ cho con bú:

Những nghiên cứu trên động vật và dữ liệu hạn chế trên người cho thấy mirtazapin được tiết vào sữa mẹ với lượng rất nhỏ. Quyết định về việc có nên tiếp tục/ngưng cho con bú hoặc tiếp tục/ngưng điều trị với mirtazapin nên được thực hiện có tính đến lợi ích bú sữa mẹ của trẻ và lợi ích của người mẹ khi điều trị bằng mirtazapin.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Bệnh nhân trầm cảm có một số triệu chứng đi kèm với bệnh. Do đó, đôi khi rất khó để xác định triệu chứng nào của bệnh và triệu chứng nào gây ra do điều trị với mirtazapin.

Các tác dụng phụ thường gặp nhất, xảy ra hơn 5% bệnh nhân được điều trị với mirtazapin trong các thử nghiệm đối chứng giả dược ngẫu nhiên là buồn ngủ, an thần, khô miệng, tăng cân, tăng cảm giác ngon miệng, chóng mặt và mệt mỏi.

Rất thường gặp, ADR > 1/10

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Tăng thèm ăn1, tăng cân1.

Rối loạn hệ thần kinh: Buồn ngủ 1,4, an thần1,4, nhức đầu2.

Rối loạn tiêu hóa: Khô miệng.

Thường gặp, 1/100 < ADR < 1/10

Rối loạn tâm thần: Mơ bất thường, lú lẫn, lo âu, mất ngủ,

Rối loạn hệ thần kinh: Ngủ lịm1, chóng mặt, run

Rối loạn mạch: Hạ huyết áp (tư thế).

Rối loạn tiêu hóa: Táo bón1, buồn nôn3, tiêu chảy2, nôn2.

Rối loạn da và mô dưới da: Ngoại ban2.

Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết: Đau khớp, đau cơ, đau lưng1.

Rối loạn toàn thân và tại chỗ: Phù mạch ngoại vi1, mệt mỏi.

Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100

Rối loạn tâm thần: Ác mộng2, hàng cảm, kích động2, ảo giác, rối loạn tâm thần vận động (bao gồm chứng nằm ngồi không yên, tăng vận động).

Rối loạn hệ thần kinh: Dị cảm2, chân không yên, ngất.

Rối loạn mạch: Hạ huyết áp2.

Rối loạn tiêu hóa: Giảm cảm xúc ở miệng.

Hiếm gặp, 1/10000 < ADR < 1/1000

Rối loạn tâm thần: Hung hăng.

Rối loạn hệ thần kinh: Giật rung cơ.

Rối loạn tiêu hóa: Viêm tụy

Rối loạn gan mật: Tăng hoạt tính transaminase huyết thanh.

Chưa biết tần suất:

Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Suy tủy xương (giảm bạch cầu hạt, mất bạch cầu hạt, thiếu máu bất sản giảm tiểu cầu), tăng bạch cầu ái toan.

Rối loạn nội tiết: Tiết hormon chống bài niệu không thích hợp.

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Giảm natri huyết.

Rối loạn tâm thần: Ý nghĩ tự tử6, hành vi tự tử6.

Rối loạn hệ thần kinh: Co giật (chấn thương), hội chứng serotonin, dị cảm ở miệng, rối loạn ngôn ngữ.

Rối loạn tiêu hóa: Phù miệng, tăng tiết nước bọt.

Rối loạn da và mô dưới da: Hội chứng Stevens-Johnson, viêm da bóng nước, hồng bạn đa dạng, hoại tử biểu bì nhiễm độc.

Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết: Tiêu cơ vân.

Rối loạn thận và tiết niệu: Bí tiểu

Rối loạn toàn thân và tại chỗ: Miện hành, phù toàn thân, phù khu trú.

Khác: Tăng creatinin kinase.

(1) Trong các thử nghiệm lâm sàng, những tác dụng phụ này xảy ra với tần suất thường xuyên hơn và có ý nghĩa thống kê trong quá trình điều trị bằng mirtazapin so với giả dược.

(2) Trong các thử nghiệm lâm sàng, những tác dụng phụ này xảy ra trong quá trình điều trị bằng giả dược thường xuyên hơn so với mirtazapin, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê.

(3) Trong các thử nghiệm lâm sàng, những tác dụng phụ này xảy ra trong quá trình điều trị bằng giả dược thường xuyên hơn so với mirtazapin.

(4) Ghi chú: Nhìn chung giảm liều không làm giảm buồn ngủ/an thần nhưng có thể làm mất hiệu quả điều trị.

(5) Nhìn chung tùy thuộc vào loại thuốc chống trầm cảm được dùng khi điều trị lo âu, mất ngủ (có thể là triệu chứng của trầm cảm) có thể xuất hiện hoặc trở nên trầm trọng hơn. Khi điều trị bằng mirtazapin, đã có báo cáo về sự xuất hiện hoặc diễn biến xấu hơn của chứng lo âu, mất ngủ.

(6) Đã có báo cáo về những trường hợp có ý nghĩ tự tử và hành vi tự tử trong quá trình điều trị bằng mirtazapin hoặc khi mới ngừng dùng thuốc

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Tương tác dược lực học:

Không nên dùng đồng thời mirtazapin với các thuốc ức chế MAO hoặc trong vòng hai tuần sau khi ngưng điều trị thuốc ức chế MAO. Ngược lại, ở bệnh nhân đã được điều trị bằng mirtazapin nên ngưng mirtazapin khoảng hai tuần trước khi điều trị bằng thuốc ức chế MAO. Ngoài ra, giống như các thuốc SSRI, việc dùng đồng thời với các chất có tính serotonergic khác (L-tryptophan, triptans, tramadol, linezolid, xanh methylen, SSRI, venlafaxin, lithi và Wort St. John – Hypericum perforatum) có thể dẫn đến tỷ lệ mắc phải các chứng bệnh liên quan serotonin (hội chứng serotonin). Cần thận trọng và theo dõi lâm sàng chặt chẽ hơn khi những chất này được dùng kết hợp với mirtazapin.

Mirtazapine có thể làm tăng tính an thần của benzodiazepin và thuốc an thần khác (nhất là các thuốc chống loạn thần, thuốc kháng histamin H1, các opioid). Cần thận trọng khi kê đơn các thuốc này với mirtazapin.

Mirtazapine có thể làm tăng tác dụng ức chế thần kinh trung ương của rượu. Do đó, nên khuyên bệnh nhân tránh dùng đồ uống có cồn trong khi dùng mirtazapin.

Liều dùng mirtazapin 30 mg mỗi ngày một lần làm tăng nhẹ INR nhưng có ý nghĩa thống kê trên những bệnh nhân được điều trị với warfarin. Do không thể loại trừ các tác động mạnh hơn khi sử sụng liều cao hơn của mirtazapin nên cần phải theo dõi INR trong trường hợp điều trị đồng thời Warfarin với mirtazapin.

Nguy cơ kéo dài QT và/hoặc rối loạn nhịp thất (ví dụ xoắn đỉnh) có thể tăng lên khi sử dụng đồng thời các thuốc làm kéo dài khoảng QTc (ví dụ một số thuốc chống loạn thần và thuốc kháng sinh).

Tương tác về dược động học:

Carbamazepin và phenytoin, các thuốc cảm ứng CYP3A4 làm tăng độ thanh thải mirtazapin khoảng 2 lần dẫn đến giảm nồng độ mirtazapin huyết tương trung bìng tương ứng 60% và 45%.

Khi carbamazepin hoặc bất kỳ chất cảm ứng khác của quá trình chuyển hóa ở gan (như rifampicin) được dùng chung với liệu pháp mirtazapin, có thể phải tăng liều mirtazapin. Khi ngưng dùng những thuốc này, có thể cần phải giảm liều mirtazapin.

Dùng đồng thời với ketoconazol, chất có khả năng ức chế CYP3A4, sẽ làm tăng nồng độ đỉnh trong huyết tương và AUC của mirtazapin tương ứng khoảng 40% và 50%.

Khi cimetidin (chất ức chế yếu CYP1A2, CYP2D6 và CYP3A4) được dùng với mirtazapin, nồng độ trong huyết tương trung bình của mirtazapin có thể tăng hơn 50%. Cần thận trọng và có thể phải giảm liều khi dùng đồng thời mirtazapin với các chất có khả năng ức chế CYP3A4, các chất ức chế HIV protease, các thuốc kháng nấm nhóm azol, erythromycin, cimetidin hoặc nefazodon.

Các nghiên cứu về tương tác không thấy bất kỳ tác động được động học nào có liên quan tới việc điều trị đồng thời mirtazapin với paroxetin, amitriptylin, risperidon hoặc lithi.

Trẻ em:

Các nghiên cứu về tương tác chỉ được thực hiện ở người lớn

4.9 Quá liều và xử trí:

Triệu chứng: Kinh nghiệm hiện tại về quá liều khi dùng riêng mirtazapin cho thấy các triệu chứng thường nhẹ. Đã có báo cáo về ức chế hệ thần kinh trung ương với mất định hướng và an thần kéo dài, cùng với nhịp tim nhanh và tăng hoặc hạ huyết áp nhẹ. Tuy nhiên, có thể xảy ra những hậu quả nghiêm trọng hơn (bao gồm tử vong) khi dùng những liều cao hơn rất nhiều so với liều điều trị, đặc biệt là quá liều nhiều thuốc cùng lúc. Trong những trường hợp này, đã có báo cáo kéo dài khoảng QT và xoắn đỉnh.

Cách xử trí: Các trường hợp quá liều cần được điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng thích hợp cho các chức năng sinh tồn. Cần theo dõi điện tâm đồ. Cũng nên cân nhắc dùng than hoạt hoặc rửa dạ dày. Nên thực hiện các hành động thích hợp như mô tả cho người lớn trong trường hợp có quá liều ở trẻ em.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý: Thuốc chống trầm cảm khác

Mã ATC: N06AX11

Mirtazapin là một thuốc đối kháng thụ thể α2 tiền synap có tác dụng trung ương, làm tăng sự dẫn truyền thần kinh noradrenergic và serotonergic trung ương. Sự gia tăng dẫn truyền thần kinh serotonergic là qua các thụ thể 5HT1 trung gian đặc biệt, do các thụ thể 5HT2 và 5HT3 bị chẹn bởi mirtazapin. Cả hai đồng phân đối ảnh của mirtazapin được cho là góp phần vào các hoạt tính chống trầm cảm, đồng phân đối ảnh S(+) chẹn thụ thể α 2 và 5HT2 và đồng phân đối ảnh R(-) chẹn thụ thể 5HT3.

Hoạt tính kháng histamin H1 của mirtazapin liên quan đến các đặc tính an thần của thuốc. Thực tế thuốc không có hoạt tính kháng cholinergic và, ở liều điều trị, chỉ có tác dụng hạn chế (ví dụ hạ huyết áp tư thế) trên hệ tim mạch.

Đối tượng bệnh nhi:

Hai thử nghiệm đối chứng giả dược, ngẫu nhiên, mù đôi ở trẻ em bị trầm cảm trong độ tuổi từ 7 đến 18 tuổi (n = 259) sử dụng liều linh hoạt trong vòng 4 tuần đầu tiên (15-45 mg mirtazapin) sau đó là liều cố định (15, 30 hoặc 45 mg mirtazapin) thêm 4 tuần đã không chứng minh được sự khác biệt đáng kể giữa mirtazapin và giả dược ở chỉ tiêu chính và các chỉ tiêu phụ. Tăng cân đáng kể (> 7%) đã được quan sát thấy ở 48,8% đối tượng dùng mirtazapin so với 5,7% ở nhóm dùng giả dược. Mề đay (11,8% so với 6,8%) và tăng triglycerid máu (2,9% so với 0%) cũng thường được quan sát thấy

Cơ chế tác dụng:

Cơ chế tác dụng của mirtazapin hiện chưa được biết rõ. Có những bằng chứng từ thực nghiệm cho thấy mirtazapin làm tăng cường hoạt tính noradrenergic và serotoninergic trung ương có thể do tác dụng đối kháng thụ thể alpha2 adrenergic tiền synap ở thần kinh trung ương. Mirtazapin không có ái lực với thụ thể 5HT-1A và 5HT-1B của serotonin. Ngoài ra, mirtazapin còn đối kháng mạnh thụ thể 5HT-2 và 5HT-3 của serotonin đồng thời đối kháng ở mức độ trung bình với thụ thể muscarinic. Mirtazapin có tác dụng gây ngủ do đối kháng mạnh thụ thể H của histamin và có tác dụng gây hạ huyết áp tư thế do đối kháng thụ thể alphal-adrenergic ở ngoại vi.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu

Mirtazapin được hấp thu tốt và nhanh chóng (sinh khả dụng khoảng 50%) sau khi uống, đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương sau khoảng 2 giờ. Thức ăn không ảnh hưởng đến dược động học của mirtazapin.

Phân bố:

Mirtazapin liên kết với protein huyết tương khoảng 85%.

Chuyển hóa

Đường chuyển hóa chính của mirtazapin là khử methyl và oxy hóa, sau đó là liên hợp. Dữ liệu in vitro trên microsom gan người cho thấy các enzym cytochrom P450 bao gồm CYP2D6 và CYP1A2 tham gia vào sự hình thành chất chuyển hóa 8-hydroxy của mirtazapin, trong khi đó CYP3A4 được cho là tham gia vào sự hình thành chất chuyển hóa N-demethyl và N-oxyd. Chất chuyển hóa demethyl có hoạt tính dược lý và có cùng đặc tính dược động học với hợp chất mẹ.

Thải trừ:

Mirtazapin được chuyển hóa rộng khắp và được thải trừ qua nước tiểu và phân trong vài ngày. Thời gian bán thải trung bình là 20-40 giờ; đôi khi ghi nhận được thời gian bán thải dài hơn, lên đến 65 giờ, và đã quan sát thấy thời gian bán thải ngắn hơn ở nam giới trẻ tuổi. Thời gian bán thải đủ để dùng thuốc một lần/ngày. Trạng thái ổn định đạt được sau 3-4 ngày, sau đó không tích lũy thêm.

Tuyến tính/phi tuyến tính:

Mirtazapin có dược động học tuyến tính trong giới hạn liều khuyến nghị.

Đối tượng đặc biệt:

Độ thanh thải mirtazapin có thể giảm do suy gan hoặc suy thận

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

….

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Viên nén có chứa mirtazapin phải được bảo quản trong bao bì kín, tránh ánh sáng, tránh ấm và ở nhiệt độ dưới 30 oC.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM