Vị thuốc Mẫu đơn bì (Cortex Paeoniae suffruticosae).

Mẫu đơn bì

Thông tin cơ bản về dược liệu, vị thuốc Mẫu đơn bì

Dưới đây là nội dung cơ bản về dược liệu, vị thuốc Mẫu đơn bì (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên dược liệu/vị thuốc:

Tên thường gọi: Mẫu đơn bì.

Tên dân gian, tên khác: Mẫu đơn, Đơn bì, Bạch thược, Màu đàn (Tày), Mu dan pi (Trung) …

Tên khoa học vị thuốc: Cortex Paeoniae suffruticosae

Tên khoa học của nguồn gốc chế biến ra vị thuốc: Paeonia suffruticosa Andr. (Paeonia moutan Sim.)

Họ: họ Mẫu đơn (Paeoniaceae)

Phân nhóm: Nhóm thanh nhiệt lương huyết.

Nhóm pháp lý, nguồn gốc: Dược liệu nước ngoài (Bắc).

Bộ phận dùng: Vỏ rễ phơi khô của cây Mẫu đơn. (do đó được gọi là mẫu đơn bì).

2. Mô tả – Thành phần hóa học – Dạng bào chế:

2.1. Mô tả dược liệu/vị thuốc:

Dược liệu Mẫu đơn bì là vỏ rễ phơi khô của cây Mẫu đơn (Paeonia suffruticosa Andr.), họ Mẫu đơn (Paeoniaceae).

Dược liệu thường có hình ống hoặc hình nửa ống, có vết nứt dọc, hai bên mép thường cuộn vào trong hoặc mở ra, có chiều dài 4 cm đến 19 cm, đường kính 0,4 cm đến 1,3 cm, dày khoảng 0,1 cm đến 0,5 cm. Mặt ngoài màu vàng nâu hoặc nâu, có nhiều lỗ bì nằm ngang và vết sẹo rễ nhỏ, nơi tróc vỏ bần, có màu hồng phấn. Mặt trong của vỏ màu vàng tro hoặc nâu nhạt, có vằn dọc nhỏ, rõ, thường có nhiều tinh thể nhỏ sáng. Chất cứng giòn, dễ bẻ gãy. Mặt gãy gần phẳng, có tinh bột, màu phớt hồng. Vị hơi đắng và se. Mùi thơm đặc biệt.

Hình ảnh tham khảo:

Vị thuốc Mẫu đơn bì (Cortex Paeoniae suffruticosae).

Vị thuốc Mẫu đơn bì (Cortex Paeoniae suffruticosae).

2.2. Thành phần hóa học và hàm lượng:

Rễ cây mẫu đơn có chứa các Monoterpenes, Monoterpene Glycosides, Flavonoids, Tannins, Phenols và Triterpenoids. Một số chất thuộc nhóm anthocyanin có tên là peonin, paeonol, paenosid, paeoniflorin – paeonosid, khi thủy phân thu được paeonolid và arabinose.

Ngoài ra còn có oxypaeniflorin, benzoylpaeoniflorin, d-catechin sacharose, sterol và một lượng tinh dầu từ 0,15 đến 0,4%

Trong vỏ rễ mẫu đơn, có các chất acetophenon như 2,5 dihydro – 4 methyl acetophenon và 1, 2, 3, 4, 6 penta galolglucose. ….

Một số chất đã phân lập được từ mẫu đơn bì có tác dụng dược lý bao gồm: Paeonol, Benzoylpaeoniflorin, Paeoniflorin, Gallic acid , Catechin, Betulin (Trochol), Galloylpaeoniflorin, Resveratrol, Hederagenin …

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Mẫu đơn bì (Cortex Paeoniae suffruticosae).

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Mẫu đơn bì (Cortex Paeoniae suffruticosae).

2.3. Các dạng bào chế hoặc thuốc dạng thành phẩm:

Theo Đông y, Mẫu đơn bì đã được dùng từ lâu dưới dạng thuốc sắc hay tán thành bột mịn để làm hoàn trong chữa nhiệt xâm nhập phần huyết, ban đêm phát sốt, xương đau nóng, không ra mồ hôi hoặc vì huyết lưu thông không theo quy luật mà thổ huyết, chảy máu cam, kinh nguyệt ra trước kỳ, hoặc dùng cho chứng tắc kinh, té ngã bị thương, máu ứ đau nhức….. Một số bài thuốc có thể kể đến như: Bài Thang tri bá địa hoàng (Thục địa 24g, sơn thù du 12g, sơn dược 12g, phục linh 9g, mẫu đơn bì 9g, trạch tả 9g, tri mẫu 8g, hoàng bá 8g, Làm hoàn hay sắc uống); Bài Thang thanh kinh: (Mẫu đơn bì 12g, thanh cao 12g, địa cốt bì 12g, hoàng bá 8g, thục địa 16g, bạch thược 12g, phục linh 12g, sắc uống); bài thanh hao miết giáp thang (Thanh hao 8 – 12g, miết giáp 16 – 20g, tế sinh địa 12 – 16g, tri mẫu 8 – 12g, mẫu đơn bì 12 – 16g, Sắc uống); bài Thanh mẫu đơn (Mẫu đơn bì 12g, đương quy 12g, cốt toái bổ 12g, tục đoạn 12g, nhũ hương 8g, một dược 8g, đào nhân 12g, xuyên khung 6g, xích thược 12g, sinh địa 12g, Sắc uống); Bài Thang đại hoàng mẫu đơn (Đại hoàng 6 – 12g, đào nhân 8 – 12g, mang tiêu 8 – 12g, mẫu đơn bì 8 – 12g, đông qua nhân 12 – 20g, sắc uống)….

Trong y học hiện đại, nhiều chế phẩm kết hợp giữa y học cổ truyền và công nghệ bào chế hiện đại để sản xuất ra các sản phẩm thuận tiện cho người dùng. Có nhiều dạng bào chế như viên nén, viên nang, viên hoàn, thuốc bột…. Hiện nay dạng thành phẩm có thể kể tới các thuốc sau: A.T Bát vị, A.T Lục vị, An lợi nhiệt TW3, An thảo, Ất can ninh, Bạch đái Xuân Quang, Bamimi, Bát tiên, Bát vị, Bát Vị Bổ Thận Dương Trung Ương 1, Bát vị- F, Bát vị hoàn P/H, Bát vị Nhất nhất, Bát vị quế phụ, Bát vị TW3, Bát vị Vinaplant, Bổ mắt TW3, Bổ phế trị ho, Bổ thận âm, Bổ thận âm- BVP, Bổ thận âm đông dược việt, Bổ thận âm Nhất Nhất, Bổ Thận Dương-BVP, Bổ Thận Hoàn, Cao lỏng Traluvi, Diacap, Dưỡng âm thanh phế thủy, Eye tonic -VT, Fitôbetin-f, Fitôeye, Forvim – ngân kiều giải độc Xuân Quang, Giáng chỉ đường an, Hoàn bát vị bổ thận dương, Hoàn lục vị bổ thận âm, Hoàn lục vị địa hoàng, Hoàn sáng mắt, Hoàn sáng mắt Diaban, Hoàn sáng mắt K/H, Hoàn xích hương, Kachita, Khang Minh lục vị nang, Kidneycap Bát vị – Bổ thận dương, Kidneyton Lục vị – Bổ thận âm, Lục vị – HT, Lục vị ACP, Lục vị ẩm, Lục vị bổ thận âm, Lục vị hoàn P/H, Lục vị nang Vạn Xuân, Lục vị TW3, Lục vị Vinaplant, Mãn kinh Nhất Nhất, Mẫu sinh đường, Nasalis, Ngân kiều giải độc Xuân Quang, Nhiệt miệng PV, Op.Calife Viên Canh Niên An, PQA Lục vị địa hoàng, Răng miệng Nhất Nhất, Samatos PV, Sáng mắt-F, Tế sinh thận khí hoàn, Testovim-Tráng dương bổ thận Xuân Quang, Thanh Phế Thủy, Thuốc ho la hớn quả Xuân Quang, Thuốc ho người lớn, Thuốc uống lục vị, Tieukhatling caps, Tư âm bổ thận Thiên Quang, Tùng lộc điều kinh, Vibomat DHĐ, Viên Bổ mắt, Viên nang bát vị, Viên nang lục vị, Viên nang ngọc quý, Viên sáng mắt, Viên sáng mắt đông dược việt, Viên sáng mắt Khải hà, Viên sáng mắt TW3….

Hình ảnh sản phẩm tham khảo:

CAO LỎNG TRALUVI
Mỗi chai 100ml có chứa cao đặc dược liệu tương đương:
Thục địa …………………………. 32g
Hoài sơn …………………………. 16g
Sơn thù …………………………. 16g
Mẫu đơn bì …………………………. 12g
Phục linh …………………………. 12g
Trạch tả …………………………. 12g
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Cao lỏng Traluvi

Thuốc cao lỏng Traluvi của Công ty cổ phần công nghệ cao Traphaco có chứa thành phần Mẫu đơn bì.

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Công dụng, chủ trị:

Mẫu đơn bì thường được dùng đơn độc hoặc dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong các trường hợp sau:

Chữa suy nhược thần kinh, nhức đầu, mất ngủ, các bệnh lý tổn thương tế bào thần kinh.

Chữa tăng huyết áp, đau nhức do máu kém lưu thông, thiếu máu, làm tăng tuần hoàn máu.

Chữa viêm gan virus cấp tính, xơ gan cổ trướng.

Hỗ trợ điều trị tiểu đường.

Hỗ trợ các chứng viêm trong viêm khớp.

Hỗ trợ điều trị hen phế quản, viêm phổi, áp xe phổi nhưng không dùng cho đợt cấp.

Hỗ trợ điều trị viêm cầu thận mạn tính và viêm bàng quang mạn tính.

Hỗ trợ điều trị một số bệnh lý về ung thư.

Chữa kinh nguyệt không đều, đau kinh, bế kinh, rong huyết, các bệnh phụ nữ sau khi đẻ.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng dạng sắc: Cần sắc theo hướng dẫn trước khi uống.

Dạng bột, tán nhỏ làm hoàn: tán bột, thường phối hợp với các dược liệu khác, dùng trực tiếp hoặc trộn với nước hoặc mật ong rồi nặn thành viên bằng hạt đậu xanh.

Mẫu đơn bì dùng sống trị phát ban kinh giản, lao nhiệt sang lở. Nếu tẩm rượu sao trị kinh bế, sang lở, hòn cục. Nếu sao cháy trị thổ huyết, chảy máu cam, tiểu ra máu.

Liều dùng:

Ngày dùng từ 6 g đến 12 g, dạng thuốc sắc hay hoàn tán, thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Dạng bào chế thành phẩm: Dùng theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với thành phần hoạt chất của vị thuốc/dược liệu.

Phụ nữ có thai không dùng mẫu đơn vì có thể bị sảy thai.

4.4 Thận trọng, cảnh báo:

Không dùng cho người tỳ vị hư hàn, ỉa chảy, kinh nguyệt ra nhiều, phụ nữ có thai.

Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:

Chưa có nghiên cứu. Cần thận trọng khi sử dụng.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Thời kỳ mang thai:

Phụ nữ có thai không nên dùng.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ cho con bú. Tránh dùng cho phụ nữ cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Chưa ghi nhận được báo cáo về phản ứng có hại của thuốc.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Trong thời gian được điều trị, nếu nhận thấy có bất cứ tác dụng phụ nào xấu xảy ra hoặc các triệu chứng bệnh vẫn tiếp tục tăng nặng thì nên ngưng dùng ngay và tìm kiếm phương pháp chữa trị khác phù hợp hơn.

4.8 Tương tác, tương kỵ:

Chưa có nghiên cứu về tương tác.

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

4.9 Quá liều và độc tính:

Chưa có nghiên cứu quá liều trên người.

5. Tính vị, quy kinh, tác dụng dược lý, cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Tính vị – Quy kinh – Công năng:

Tính vị: Mẫu đơn có vị cay, đắng, mùi thơm, tính bình.

Quy kinh: Quy vào các kinh tâm, can, thận.

Công năng: có tác dụng thanh huyết nhiệt, hạ sốt, mất máu, hoạt huyết, làm tan máu ứ, giảm đau.

5.2. Tác dụng dược lý:

Tác dụng chống oxy hóa: Chiết xuất Etanol của mẫu đơn đã ức chế việc sản xuất các phản ứng oxy hóa trên các tế bào PC12 bị stress oxy hóa. Ngoài ra, tổng hàm lượng phenolic trong chiết xuất metanol của mẫu đơn bì có khả năng chống oxy hóa đáng kể. Paeonol là hợp chất phenolic có trong mẫu đơn, có đặc tính dọn gốc tự do, paeoniflorin cũng là chất có tác dụng bảo vệ tế bào chống lại tổn thương oxy hóa.

Tác dụng chống viêm:

Một số nghiên cứu đã chỉ ra việc sử dụng mẫu đơn bì giúp cải thiện tổn thương phổi cấp tính qua tác dụng giảm viêm ở chuột thí nghiệm. Cơ chế chống viêm thông qua ức chế biểu hiện iNOS và COX-2 bằng cách ức chế quá trình phosphoryl hóa I-κBα và kích hoạt NF-κB trong các tế bào đại thực bào được kích hoạt bằng LPS. Ngoài ra, paeoniflorin đã được chứng minh là có tác dụng chống viêm trên mô hình động vật bị viêm khớp, tổn thương não do thiếu máu cục bộ, tổn thương phổi cấp tính do LPS gây ra và trong các phản ứng viêm gan.

Mẫu đơn bì có thể ức chế đáng kể sự bài tiết ra các chemokine gây viêm ở một số dòng tế bào và trên mô hình chuột thí nghiệm. Cụ thể nó ức chế rõ rệt sự bài tiết IL-8 và protein-1 hấp dẫn đại thực bào trong các tế bào U937 monocytic ở người được kích thích bằng phorbol myristate axetat. Paeoniflorin, paeonol và PGG thể hiện sự ức chế tổng hợp TNF-α và sản xuất IL-6 phụ thuộc vào liều trong các tế bào hoạt dịch. Paeonol ức chế các cytokine gây viêm do LPS gây ra trong tế bào đại thực bào, điều hòa việc sản xuất TNF-α, IL-1β, IL-6 và IL-10 thông qua việc vô hiệu hóa I-κBα, ERK1/2, JNK và p38 MAPK.

Tác dụng chống ung thư:

Tác dụng chống tăng sinh của mẫu đơn bì trên các dòng tế bào ung thư ở người như ung thư biểu mô ống vú, ung thư ruột kết, ung thư biểu mô tế bào gan, ung thư dạ dày và ung thư thực quản. Chiết xuất mẫu đơn có khả năng ngăn chặn yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF), một yếu tố quan trọng trong quá trình tạo mạch, làm giảm sự tăng sinh tế bào nội mô do VEGF gây ra. (Sự hình thành mạch đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và di căn của khối u).

Paeonol đã được báo cáo là có tác dụng ức chế di căn chondrosarcoma và di căn một số loại khối u ác tính. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng paeonol gây ra chết theo chương trình tế bào khối u trong tế bào HepG2, ở chuột mang ung thư biểu mô vú EMT6 và chuột mắc ung thư gan HepA. Hơn nữa, paeonol làm giảm tình trạng kháng paclitaxel trong tế bào ung thư vú ở người bằng cách điều chỉnh sự biểu hiện của transgelin 2 và có tác dụng chống ung thư đại trực tràng ở người thông qua việc ức chế tổng hợp PGE2 và biểu hiện COX-2. Paeoniflorin ức chế sự tăng sinh và xâm lấn của các tế bào ung thư vú và sự di căn của ung thư phổi qua trung gian đại thực bào. Paeonol, paeoniflorin và PGG không gây tác dụng gây độc tế bào đáng kể đối với các dòng tế bào bình thường, các hợp chất này có thể là nguồn bổ trợ quan trọng trong quá trình hóa trị liệu điều trị ung thư.

Tác dụng bảo vệ tim mạch:

Mẫu đơn thường được sử dụng trong các đơn thuốc truyền thống để làm giảm các bệnh tim mạch. Mẫu đơn bì thường được sử dụng để thúc đẩy lưu thông máu và làm giảm ứ máu. Trong một nghiên cứu gần đây, Mẫu đơn bì đã được chứng minh là có tác dụng bảo vệ cơ tim khỏi tổn thương do thiếu máu cục bộ bằng cách khôi phục hệ thống bảo vệ chống oxy hóa và tăng biểu hiện gen chống apoptotic Bcl-2.

Tác dụng tác dụng giãn mạch của paeonol đã được nghiên cứu, cơ chế có thể do khả năng điều hòa Ca 2+ nội bào. Paeonol có tác dụng bảo vệ khỏi chứng xơ vữa động mạch thông qua việc ức chế sự kết dính của các monocyte do lipoprotein mật độ thấp bị oxy hóa với tế bào nội mô mạch máu. Paeoniflorin cải thiện tình trạng nhồi máu cơ tim cấp tính ở chuột bằng cách ức chế viêm và các đường truyền tín hiệu tổng hợp oxit nitric cảm ứng và ngăn chặn tổn thương mạch máu. Tóm lại, paeonol, paeoniflorin, benzoylpaeoniflorin và α-benzoyloxypaeoniflorin là những thành phần chính góp phần chung vào việc cải thiện lưu thông máu thông qua tác dụng ức chế tiểu cầu và đông máu.

Tác dụng chống tiểu đường:

Mẫu đơn bì và thành phần của nó, đặc biệt là paeonol, có tác dụng chống tăng đường huyết ở in vitro bằng cách ức chế sự hấp thu glucose ở ruột và tăng cường hấp thu glucose vào tế bào. Paeoniflorin có tác dụng chống viêm thận ở bệnh nhân tiểu đường và ngăn ngừa sự phát triển của bệnh thận. Ngoài ra, palbinone và triterpenoid trong mẫu đơn kích thích đáng kể sự hấp thu glucose và tổng hợp glycogen thông qua con đường AMPK. Mẫu đơn bì có thể cải thiện rõ rệt quá trình chuyển hóa glucose, làm giảm các hội chứng, biến chứng do tiểu đường.

Tác dụng bảo vệ thần kinh:

Theo các nghiên cứu trước đây, CM thể hiện tính hiệu quả trong việc giảm đau do bệnh lý thần kinh và các bệnh thoái hóa thần kinh, như bệnh Parkinson. Trong số các hợp chất được báo cáo, paeonol và paeoniflorin là những chất thể hiện các tác dụng liên quan đến thần kinh. Paeonol bảo vệ tế bào thần kinh khỏi các tổn thương do thiếu oxy-glucose và nhiễm độc thần kinh do điều trị bằng H2O2. Paeonol ức chế các chất trung gian gây viêm và oxy hóa trong tế bào mô thông qua kích hoạt đường truyền tín hiệu AMPKα và GSK3α/β. Sau khi bị ngộ độc 6-hydroxydopamine trong tế bào thần kinh, paeonol làm tăng khả năng tồn tại của tế bào bằng cách ức chế sản xuất các phản ứng oxy hóa, tăng hoạt động của superoxide dismutase và biểu hiện Bcl-2.

Paeoniflorin có thể làm giảm tổn thương não do thiếu máu cục bộ ở động vật gặm nhấm thí nghiệm và làm giảm các tổn thương thần kinh do glutamate hoặc LPS gây ra. Sau khi bị độc tính của glutamate, MPTP và 6-hydroxydopamine, paeoniflorin làm giảm tổn thương tế bào thần kinh dopaminergic và suy giảm hành vi thông qua việc điều chỉnh các protein Bcl-2 và ức chế viêm thần kinh. Hơn nữa, paeoniflorin còn bảo vệ tế bào thần kinh khỏi các chất độc thần kinh thông qua tự thực bào, ức chế quá trình chết tế bào theo chương trình do 6-hydroxydopamine gây ra trong tế bào PC12.

Tác dụng bảo vệ gan:

Mẫu đơn bì có thể làm giảm độc tính tế bào do acetaminophen gây ra thông qua việc làm giảm sự suy giảm GSH, hoạt động của cytochrome P4502E1 và tổn thương DNA ở gan. Paeonol làm giảm độc tính gan do epirubicin gây ra ở chuột và cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ do rượu ở chuột. Paeoniflorin bảo vệ chuột chống lại bệnh viêm gan do concanavalin A gây ra thông qua việc ức chế một số chất trung gian gây viêm và ức chế đường truyền NF-κB. Ngoài ra, paeoniflorin làm giảm tình trạng xơ gan bằng cách ức chế HIF-1α thông qua con đường phụ thuộc mTOR.

Cơ chế một số tác dụng chính:

Paeonol có tác dụng chống ung thư, chống viêm, chống oxy hóa và bảo vệ tim mạch, chất này cho thấy cả vai trò ức chế chứng viêm dây thần kinh và là một ứng cử viên mới trong điều trị viêm dây thần kinh. Paeonol ức chế các cytokine gây viêm do lipopolysaccharide trong các tế bào đại thực bào và giảm tỉ lệ tử vong ở chuột nhờ giảm sốc nội độc tố. Paeonol ức chế MAO-A và MAO-B với IC50 lần lượt là 54,6 μM và 42,5 μM; nó ức chế quá trình tổng hợp PGE₂ và COX-2, đồng thời điều chỉnh con đường tín hiệu Sirtuin 1, PKCδ và c-Src.

Benzoylpaeoniflorin hoạt động chống lại các enzym cyclooxygenase COX-1 và COX-2, nó có thể giảm tỉ lệ loại bỏ tế bào chết theo chương trình (apoptosis) ở chuột mắc bệnh tim mạch vành bằng cách tăng nồng độ Bc1-2 và giảm nồng độ Bax.

Paeoniflorin, một hợp chất kích thích protein sốc nhiệt (heat shock protein), thông qua sự kích hoạt yếu tố phiên mã sốc nhiệt 1 (HSF1), có tác dụng chống dị ứng, chống béo phì, chống viêm và điều hòa miễn dịch. Paeoniflorin có thể kích hoạt đường truyền tín hiệu PI3K/Akt để bảo vệ tế bào PC12 bị tổn thương do Aβ25-35 gây ra, nó bảo vệ tế bào thymocytes chống lại tổn thương do chiếu xạ bằng cách loại bỏ ROS và làm giảm kích hoạt kinase protein được kích hoạt bởi mitogen.

Gallic acid là một chất ức chế acetyltransferase histone, có tính kháng nấm và kháng khuẩn. Axit gallic hoạt động như một chất chống oxy hóa và giúp bảo vệ các tế bào khỏi nguy cơ bị oxy hóa. Axit gallic cũng có khả năng kháng các tế bào ung thư mà không gây hại đến các tế bào khỏe mạnh.

Catechin là một chất ức chế cyclooxygenase-1 (COX-1), nó còn có tác dụng chống tạo mạch, chống ung thư, chống oxy hóa, chống tia UV, chống lão hóa, gây độc tế bào, kháng khuẩn và kháng virus.

Betulin (Trochol), một triterpene tự nhiên, Betulin có tác dụng hạ đường huyết, chống ung thư, chống HIV, chống sốt rét và chống viêm. Betulin ức chế protein liên kết với yếu tố điều hòa sterol (Sterol regulatory element-binding protein – SREBP) trong dòng tế bào K562, nhờ vậy Betulin có thể cải thiện tình trạng tăng lipid máu và kháng insulin, giảm xơ vữa động mạch. Betulin ức chế sự biểu hiện của các cytokine tiền viêm và kích hoạt tín hiệu NF-κB thông qua tín hiệu STAT3, nó cũng liên quan đến việc kích hoạt AMP kinase và ức chế tín hiệu mTOR/p70S6K/pS6 trong các tế bào này.

Galloylpaeoniflorin, axit gallic, paeoniflorin và paeonol là thành phần hiệu quả chính của mẫu đơn bì, có tác dụng tốt đối với tổn thương phổi cấp tính. Galloylpaeoniflorin cho thấy tác dụng loại bỏ gốc tự do rõ rệt hơn alpha-tocopherol. Galloylpaeoniflorin có thể cải thiện tuần hoàn máu bằng cách ức chế kết tập tiểu cầu và đông máu.

Resveratrol, một polyphenol tự nhiên có đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, bảo vệ tim mạch, hạ đường huyết, chống lão hóa và chống ung thư. Nó có mục tiêu rộng bao gồm cyclooxygenase (COX, IC50=1,1 M), lipooxygenase(LOX, IC50=2,7 M), …. Resveratrol làm giảm tổn thương oxy hóa do As2O3 gây ra trong tế bào phổi người thông qua việc duy trì cân bằng nội môi GSH và ức chế quá trình chết tế bào theo chương trình. Ngoài ra nó còn Resveratrol ức chế quá trình tạo mạch, quá trình trước khi xảy ra sự chết tế bào theo chương trình nhờ gây ra sự ức chế tín hiệu PKG và giảm biểu hiện của các protein tế bào c-IAP1, c-IAP2, livin và XIAP.

Hederagenin cho thấy tác dụng chống ung thư, chống viêm, chống trầm cảm và chống đột biến, nó có thể gây tan máu trên hồng cầu và gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư P-388, L-1210, U-937, HL -60, SNU-5 và HepG2. Hederagenin có thể ức chế sự biểu hiện của iNOS, COX-2 và NF-κB được kích thích bằng LPS, điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh monoamine và biểu hiện mRNA 5-HTT.

Chưa rõ cơ chế tác dụng của các hoạt chất trong Mẫu đơn bì.

5.3. Dược động học:

Chưa có nghiên cứu.

5.4. Các nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng:

(1) Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004):

Có người cho rằng mẫu đơn bì không có tác dụng gì đặc biệt. Tác dụng điều kinh và chữa trị của mẫu đơn bì không phải do các thành phần hoá học nói trên của mẫu đơn bì.

Nhưng lại có tác giả cho rằng paeonola có tác dụng gây xung huyết ở vùng tử cung động vật, do đó có tác dụng điều kinh, nhưng tác dụng yếu và chậm. Thí nghiệm trên thỏ, thấy mẫu đơn bì có tác dụng chữa sốt. Có tác giả cho rằng thành phần chủ yếu tác dụng trong mẫu đơn bì là chất axit benzoic.

Thí nghiệm tính chất kháng sinh của mẫu đơn bì người ta thấy nó có tác dụng trên vi trùng thương hàn, thổ tả và lỵ.

(2) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu):

Rễ mẫu đơn có tác dụng chống co thắt, chống viêm và giảm đau. Nước sắc rễ có tác dụng chống co thắt trên hồi tràng và tử cung khi cho chuột và thỏ uống. Cao methanol có tác dụng tương tự trên tử cung chuột cống trắng, nhưng cao ethanol lại có tác dụng kích thích tử cung thỏ. Mẫu đơn gây giãn cơ dạ dày và tử cung cô lập chuột cống trắng. Cao chiết nước nóng ức chế viêm khớp gây bởi chất bổ trợ và phù bàn chân chuột gây bởi caragenin. Cao chiết nước nóng hoặc ethanol ức chế sự kết tập tiểu cầu gây bởi adenosin diphosphat, acid arachidoic và colagen, ức chế sự đông máu rải rác trong mạch khi cho động vật uống hoặc tiêm phúc mạc và có hoạt tính kháng tiêu fibrin in vitro. Cao rễ mẫu đơn còn có tác dụng bảo vệ gan do carbon tetrachorid trên chuột nhắt và cống trắng.

Rễ mẫu đơn với nồng độ 101 mg/ml có tác dụng ức chế aldose reductase của thể thủy tinh bò với mức 71 – 90%. Enzym aldose reductase gây tích luỹ sorbitol trong tế bào, có vai trò quan trọng trong bệnh sinh những biến chứng mạn tính của đái tháo đường như bệnh võng mạc, bệnh thần kinh và bệnh thận. Cao methanol vỏ rễ mẫu đơn có hoạt tính ức chế monoamin oxydase với nồng độ ức chế 50% (IC50) là 48 ng/ml. Như vậy, mẫu đơn có thể có tác dụng điều trị trầm cảm.

Hoạt chất paeoniflorin có tác dụng chống co thắt, chống viêm, an thần, giảm đau và có độc tính rất thấp; gây mất phản xạ đứng thẳng lên khi tiêm tĩnh mạch cho chuột cống trắng, kéo dài thời gian giấc ngủ gây bởi hexobarbital, ức chế các triệu chứng quặn đau gây bởi tiêm phúc mạc acid acetic trên chuột nhắt trắng, có hoạt tính hạ sốt và chống co giật yếu. Paeoniflorin có tác dụng dự phòng trên loét dạ dày do stress, ức chế sự quá mẫn do tiếp xúc, và phản ứng phản vệ da thụ động trên động vật thí nghiệm, gây hạ áp trên chuột lang do dãn mạch ngoại biên. Chất này gây giãn mạch vành và mạch chân sau của chó, gây giãn và ức chế sự vận động và trương lực của các cơ quan có cơ trơn như dạ dày hoặc tử cung chuột cống trắng, và còn có tác dụng ức chế trên plasminogen và plasmin và có hoạt tính chống đông cả in vitro và in vivo trên chuột nhắt trắng.

Cao rễ mẫu đơn hoặc paeoniflorin làm giảm sự suy yếu gây bởi scopolamin trong việc tìm lối ra qua mê cung trên chuột cống trắng. Paeoniflorin dự phòng sự giảm lượng acetylcholin gây bởi scopolamin trong thể khía, và làm giảm sự suy yếu về nhận thức ở chuột già trong việc phân biệt sự sáng chói, và như vậy paeoniílorin có khả năng áp dụng trong điều trị rối loạn về nhận thức như sa sút trí tuệ ở người già.

Hoạt chất paeonol có tác dụng ức chế sự sinh sôi của Escherichia coli, Bacillus subtilis ở nồng độ 1: 1500, và ức chế Staphylococcus aureus và Streptococcus faecalis ở nồng độ 1: 2000. Paeonol ức chế sự kết tập tiểu cầu máu người gây bởi adenosin diphosphat hoặc collagen một cách phụ thuộc vào liều. Paeonol ức chế sự tạo thromboxan B1 nhưng kích thích sự tạo acid eicosatetraenoic từ [14C] arachidonat trong tiểu cầu máu người, và còn ức chế sự tạo prostaglandin và thromboxan từ [14C] arachidonat trong đại thực bào phúc mạc chuột cống trắng. Như vậy tác dụng chống huyết khối và chống viêm của rễ mẫu đơn có thể do tác dụng ức chế của paeonol trên tổng hợp các prostanoid.

Paeonol có tác dụng ức chế phù bàn chân chuột gây bởi caragenin, có tác dụng an thần, gây giảm hoạt động tự nhiên, giảm sự tăng hoạt động gây bởi cafein, làm mất phản xạ đứng lên, giảm đau đối với các triệu chứng quặn đau gây bởi tiêm phúc mạc acid acetic và đối với đau do kẹp đuôi trên chuột nhắt trắng. Paeonol có tác dụng chống đột biến, làm giảm tần xuất đột biến gây thực nghiệm trên Escherichia coli. Chất 1, 2, 3, 4, 6 – pentagalloylglucose trong vỏ rễ mẫu đơn có tác dụng kháng virus. Hai acetophenon có trong vỏ rễ ức chế chọn lọc sự kết tập tiểu cầu thỏ gây bởi acid arachidonic mạnh hơn so với tác dụng này của paeonol. Chất 2,5-dihydroxy-4-methylacetophenon còn ức chế sự tạo thành thromboxan A2 và prostaglandin D2 từ acid arachidonic.

Trong nghiên cứu về ảnh hưởng của dạng trên sinh khả dụng của paeonol, thấy paeonol được thấm từ dịch vị nhân tạo vào trong huyết tương nhân tạo nhiều hơn khi áp dụng dưới dạng nước sắc hay cao đông khô vỏ rễ mẫu đơn so với khi áp dụng dạng paeonol tinh chế.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Đặc điểm, nguồn gốc, phân bố dược liệu, vị thuốc:

Đặc điểm nguồn gốc:

Mẫu đơn là một loại cây nhỏ sống lâu năm sống lâu năm, có thể cao từ 1 m hoặc hơn. Rễ mập, dài phát triển thành củ. Lá mọc so le, cuống lá dài, chia 3 thùy, giữa mỗi thùy lại chia 3 thùy nhỏ hơn, thùy tận cùng có 3 răng to, mặt trên xanh sẫm, mặt dưới màu trắng nhạt vì có phủ lông tơ, cuống dài 5 – 11 cm.

Hoa rất to mọc đơn độc ở đầu cành, đường kính từ 14 – 20 cm, màu đỏ, hồng, tím tía hoặc trắng, thơm, đài 4 răng tồn tại, tràng 10 -20 cánh rộng, nhị rất nhiều, chỉ nhị ngắn, bầu 3 -5 noãn, mùi thơm gần giống mùi thơm của hoa hồng.

Quả có 3 – 5 đại, hạt to gần tròn. Mùa hoa từ tháng 5 – 7.

Phân bố:

Mẫu đơn là loài cây quý được trồng lâu đời có nguồn gốc ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên sau được di thực sang châu Âu làm cảnh.

Tại Việt Nam đã di thực được cây này để làm cảnh ở vùng mát, nhưng giá đắt. Thường ít nhập cây, mà chỉ nhập vỏ cây dùng làm thuốc.

Cây Mẫu đơn (Paeonia suffruticosa Andr).

Cây Mẫu đơn (Paeonia suffruticosa Andr).

6.2. Thu hái – Sơ chế:

Rễ những cây Mẫu đơn trồng được 3 năm, thu hái vào tháng 7-11. Thu hoạch Mẫu đơn vào mùa thu năng suất cao hơn mùa hè từ 10-15% và có chất lượng tốt hơn. Đào lấy rễ, loại bỏ rễ nhỏ, rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ rễ, bổ dọc vỏ rễ hoặc trước khi bổ vỏ dùng dao cạo sạch vỏ rồi mới cậy lấy vỏ phơi khô. Trong quá trình phơi nắng, tối phải mang vào, không nên xếp thành đống vì làm vậy rễ có vị chua, màu đen, có chất dầu làm giảm chất lượng.

Khi thu hoạch, thưởng dùng một cái cào 2 răng, răng cào dài 30-50cm, to bằng ngón trỏ, với khoảng cách của răng 10- 12cm. Khi cuốc nhìn vào các khe đất nứt chung quanh gốc cây mà cuốc, cuốc bới dần cho đến khi bới lấy được hết rễ, cẩn thận không để rễ bị xây xát. Trung bình mỗi mẫu thường thu hoạch được từ 1000-1500kg rễ tươi.

6.3. Bảo quản:

Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30°C.

6.4. Thông tin khác:

CHÚ Ý DỄ NHẦM LẪN VỚI CÁC CÂY SAU ĐÂY:

Một số cây có thể nhầm lẫn với cây Mẫu đơn do hình dáng cây và cùng tên gọi:

(1). Cây đơn đỏ, Tên khoa học Ixora coccinea L thuộc họ Cà phê Rubiaceae, còn có tên khác là Đơn trang đỏ, Mẫu đơn.

Cây nhỏ, thân cành nhẵn, cao 0,6- 1m. lá đối, không cuống hay gần như không cuống, phiến lá hình bầu dục, hai đầu nhọn, dài 5-10cm, rộng 3-5cm. Mặt trên xanh bóng. Hoa nhỏ, dài, màu đỏ mọc thành xim dày đặc ở đầu cành. Quả màu đỏ tím, cao 5-6cm, rộng 6-7cm. mỗi ô có 1 hạt, cao 4-5mm, rộng 3-4mm, phía lưng phồng lên còn phía bụng hõm vào.

(2). Cây Bạch Thược dược, Tên khoa học Paeonia lactiflora Pall. (Paeonia albiflora Pall.) thuộc họ Mẫu đơn (Paeoniaceae), còn có tên khác là Mẫu đơn trắng.

Cây thảo sống lâu năm, cao 50-80 m. Rễ củ to, mập mặt ngoài màu nâu, ruột màu trắng hoặc hồng nhạt. Thân nhẵn, mọc thẳng, lá mọc so le, có cuống dài, chia thành 3-7 thuỳ hình trứng hoặc mác thuôn, dài 8-12 cm, rộng 2-4 cm, đầu nhọn. Hoa to mọc riêng lẻ ở ngọn thân, gồm nhiều cánh màu trắng, nhị vàng. Mùa hoa tháng 5-7; mùa quả tháng 8-9.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004).

Theo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Viện dược liệu (Tái bản lần 1).

Theo: ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6152737/

Theo Dược thư Quốc Gia Việt Nam.

Nguồn tổng hợp khác.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM